THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TRONG NÔNG THÔN HUYỆN CHIÊM HOÁ - Pdf 76

THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM
NGHÈO TRONG NÔNG THÔN HUYỆN CHIÊM HOÁ
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN CHIÊM HOÁ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG CỦA CÁC HỘ TRONG NÔNG THÔN.
1. Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý
Chiêm Hoá là một huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, mang đậm nét
đặc thù của vùng núi phía Bắc Việt Nam; phía Bắc giáp huyện Na Hang; phía
Nam giáp huyện Yên Sơn; Phía Đông giáp huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn); phía Tây
giáp huyện Hàm Yên và huyện Bắc Quang (Hà Giang); huyện lỵ đặt tại thị trấn
Vĩnh Lộc, cách tỉnh lỵ Tuyên Quang 65km về phía Bắc. Tính từ các điểm tận
cùng theo Bắc - Nam, Đông - Tây, chiều rộng của huyện là 75km, chiều dài là
120km. Tổng diện tích toàn huyện là 1.387km
2
, trong đó có 20.345 ha đất nông
nghiệp đang sử dụng (14,7%) và 102.892 ha đất lâm nghiệp (74%).
1.2. Địa hình
Địa hình của Chiêm Hoá bị chia cắt khá lớn bởi hệ thống sông ngòi và
nhiều dãy núi lớn, có sự xen kẽ không đồng đều giữa các núi đá vôi và núi đất,
được hình thành từ vùng núi thấp tiếp giáp với vùng núi cao, tạo nên một hệ
thống đồi núi bao quanh huyện, giữa các vùng đồi núi đó là các thung lũng có
diện tích không lớn, thuận lợi cho việc xây dựng các điểm dân cư. Chiêm Hoá
có nhiều dãy núi cao điển hình là dãy núi phía Nam có đỉnh cao nhất là núi Quạt
(1.229m), dãy núi phía Bắc có đỉnh cao nhất là núi Phia Gioòng (1.229m), dãy
núi phía Đông có đỉnh cao nhất là núi Khau Bươn (957m), dãy núi phía Tây có
đỉnh cao là núi Chặm Chu (1.587m).
1.3. Thời tiết, khí hậu
Chiêm Hoá thuộc vùng khí hậu nhiệt đới thấp, được phân chia thành 2 mùa
rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, thường có mưa nhiều và mưa rào tập
trung từ tháng 5 đến tháng 8, với lượng mưa cao nhất là 300,3mm/tháng, mùa
này thường xảy ra lũ lụt; mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 năm trước tới tháng 3

+ Đất vàng nhạt trên đá cát
+ Đất lâu vàng trên phù xa cổ
+ Đất vàng biến đổi do trồng lúa nước
- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi cao: gồm có 3 loại đất chính
+ Đất mùn vàng đỏ trên đá sét và đá biến chất
+ Đất mùn vàng nhạt trên núi đá cát
+ Đất mùn vàng đỏ trên đá Mác ma axit
Nhìn chung với đặt điểm về tài nguyên đất của huyện như trên tương đối
mầu mỡ, phù hợp với phát triển cây lương thực: Lúa, ngô, sắn, các loại cây
ăn quả như vải, mận, mơ; cây dược liệu như quế, sa nhân,…và cây công
nghiệp lâu năm như chè, cà phê…
1.5 Thuỷ văn, nguồn nước.
Chiêm Hoá có một huyện sông suối lớn, độ dốc cao, hướng xảy khá tập
trung, các con suối, ngòi đều đổ đồn về sông ngâm,bắt nguồn từ Trung Quốc,
sau khi chảy từ Cao Bằng , Na Hang, sông Gâm chảy qua Chiêm Hoá trên mật
độ dài 40 km mà là con đường thuỷ duy nhất nối từ huyện đến tỉnh lỵTuyên
Quang và các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc Bộ. Các suối lớn như ngòi Quẵng,
ngòi Đài, ngòi Nhụng …. cùng nhiều khe nhỏ khác với tổng chiều dài 317 km,
tạo thành một nguồn thuỷ sinh phong phú, cung cấp nước, thuỷ sản phục vụ
đời sống, sản xuất của nhân dân và những con đường giao thông,vận tải khá
quan trọng.
Tóm lại, sông suối ở Chiêm Hoá được phân bổ tương đối đồng đều trên
địa bàn, bình quân 1000 ha đất có 130 km suối chảy qua, thuận lợi cho trồng
trọt, chăn nuôi, vận tải đường thuỷ và sinh hoạt, đồng thời là nguồn năng lượng
dồi dào cho thuỷ điện nhỏ.
1.6 Thảm động thực vật.
Do tình trạng chặt phá rừng bừa bãi nên độ che phủ của rừng hiện còn
khoảng 35%. Tập đoàn cây rừng chủ yếu là song, mây, tre, nhà nứa, …lát,
nghiến, trò trỉ, … và một số cây dược liệu như mộc nhĩ, măng khô,… động vật
rừng có nhiều lóại quý hiếm như lợn rừng, hưu, nai, khỉ,…. và các loại gặm

IV. Đất ở 890 0,61
V. Đất chưa sử dụng 40.342 27,71
1. Đồi núi 35.990 24,72
2. Đất có mặt nước 6 0,004
3. Đất khác 4.346 2,98
Nguồn số liệu: Phòng thống kê huyện chiêm Hoá cung cấp.
Do địa hình của huyện có nhiều núi cao độ dốc lớn nên diện tích đất đai
của huyện được sử dụng vào mục đích lâm nghiệp tương đối lớn so với diện
tích đất tự nhiên, chiếm 62,44%. Trong khi đó đất sử dụng vào mục đích
nông nghiệp lại không lớn, đất nông nghiệp 11.681 ha chiếm 8,02% tổng diện
tích tự nhiên của toàn huyện.
Đất nông nghiệp bình quân đầu người của huyện là 912m
2
. Tuy nhiên sự
phân bố lại không đồng đều giữa các xã trong huyện. Một thực tế là tuy diện
tích đất nông nghiệp bình quân đầu người như vậy, nhưng đất đai ở đây đang bị
xói mòn, bạc màu ở những nơi có độ dốc cao, mặt khác nhân dân lại chưa chủ
động được nước tưới tiêu cho cây trồng, trình độ thâm canh nên gặp rất nhiều
khó khăn về sản xuất nông- lâm- nghiệp.
Tuy tiềm năng đấ lâm nghiệp trong huyện còn rất lớn nhưng khả năng khai
thác đưa vào sử dụng lại không cao vì để đưa đất đai hoang hoá vào sản xuất
người nông dân phải tốn rất nhiều công sức, tiền của. Trong khi trình độ trang bị
khoa học kỹ thuật của người dân lại rất thấp, vốn cho các công trình khai hoang,
định canh, định cư lại không nhiều,...
2.2. Dân số và lao động
2.2.1. Dân số, lao động
Hiện nay toàn huyện có tổng dân số là 128.065 người với 26.415 hộ gia
đình, bao gồm 22 hộ dân tộc anh em cùng chung sống, có 28 xã và 1 thị trấn
với 412 thôn bản, tổ dân phố, trong đó có 15 xã thuộc vùng đặc biệt khó
khăn, có số lao động nông nghiệp là 61.123 lao động.

vào sử dụng là 90,03 km (chưa tình đoạn đường Xuân Vân - Kim Bình, đoạn đi
qua Kim Bình đang xây dựng).
Các xã đều có đường ô tô đến trung tâm và 343/412 thôn bản. Hoàn thành
2 cầu lớn: Cầu Chiêm Hoá, Cầu Quẵng và 1 cầu bản; 80 cầu tạm 358 cống thoát
nước; 14 đoạn kè, đá tràn; Đảm bảo giao thông thông suốt. Tuy vậy còn 69 thôn
bản chưa có đường ô tô đến trung tâm thôn và các tuyến đường dân sinh từ
trung tâm xã đi đến các bản chủ yếu là do nhân dân tự làm mặt đường rộng từ 1-
2m, nhằm phục vụ cho việc đi lại, vận chuyển hàng hoá giữa các bản các xã với
nhau.
Nhìn chung, hệ thống đường giao thông của huyện, đặc biệt là các tuyến
đường liên xã, liên thôn là đường đất, lắm dốc, nhiều đèo, luôn bị mưa bão, lũ
lụt làm sạt lở, sói mòn, gây không ít khó khăn cho giao thông, vận tải, đặc biệt
là mùa mưa lũ, gây ách tác giao thông, hạn chế rất lớn đến việc vận chuyển vật
tư nông - lâm sản của nhân dân trong huyện.
3.2. Bưu điện
Phát triển đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của địa phương; 29/29 xã có
thư báo đến trong ngày, 16 xã có điện thoại, 14/29 xã có điểm bưu điện văn hoá
xã, bình quân 0,5 máy điện thoại/100 dân.
3.3. Thuỷ lợi
Từ năm 1994 đến ngày 30/10/2001, hoạt động thành phần thuỷ lợi do dự
án đầu tư là một hoạt động thường xuyên và liên lạc được theo dõi chỉ đạo sát
sao, được cập nhật kịp thời các thông tin nhất là trong việc xây dựng công trình
và hoạt động của nhóm sử dụng nước cũng như việc khai thác, vận hành, duy tu
bảo dưỡng các công trình xây dựng thuỷ lợi để khai thác, vận hành, duy tu bảo
dương các công trình xây dựng thuỷ lợi để phục vụ tốt cho sản xuất nông
nghiệp, góp phần tích cực vào việc đảm bảo nước tưới.
Việc xây dựng các công trình thuỷ lợi đã đóng góp tích cực vào củng cố hạ
tầng cơ sở, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, phù hợp với chủ trương chung
của tỉnh và của huyện. Diện tích tưới tiêu chắc chắn mà các công trình đem lại
đã góp phần tích cực vào việc phát triển lương thực trong mục tiêu chiến lược

vực và có 26 trạm y tế, bệnh viên của huyện và 4 phòng khám đa khoa khu vực
là nhà tầng và các trạm y tế đa phần là nhà cấp 4 và còn có một số thôn bản hiện
nay đang thực hiện, xây dựng trạm y tế thôn nhưng chỉ là nhà tạm bợ và với
tổng số giường bệnh nhân là 265 giường
- Tổng số lần khám chữa bệnh đạt 0,8 - 1 lượt/người/năm.
- Công suất sử dụng giường bệnh đạt > 80% đối với tuyến huyện, > 70%
đối với tuyến phòng khám đa khoa khu vực, > 60% đối với tuyến xã.
Thực hiện nghị quyết 30 của tỉnh uỷ. Đẩy mạnh thực hiện hoá xã hội hoá
công tác y tế và củng cố y tế từ huyện đến cơ sở. Đã lồng ghép được 256 cán bộ
y tế thôn bản, 21 trạm y tế có bác sĩ, 30/31 trạm có vườn thuốc nam.
Trong huyện có tổng số người người mắc bệnh sốt rét là 10.000 người
chiếm 0,42% dân trong huyện, số người mắc bệnh ỉa chảy 8000 người chiếm
0,38% dân trong huyện, số người mắc bệnh nghiện hút là 60 người chiếm
0,25% dân trong huyện. Công tác kế hoạch hoá gia đình mặc dù đã được vận
động nhưng không thường xuyên nên tỷ lệ sinh con thứ 3 còn rất cao nhất là ở
các thôn, bản vùng cao, xa trung tâm xã.
3.7. Công trình nước sinh hoạt
Nguồn nước cho sinh hoạt của huyện chủ yếu là từ các sông suối và mỏ
nước. Chất lượng một số nguồn nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh. Nguồn
nước cho nhu cầu sinh hoạt còn khó khăn đặc biệt trong những tháng mùa khô,
đồng bào phải đi gùi, gánh nước rất xa, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng xa,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số như ở các xã Linh Phú, Trí Phú, Tân Mỹ, Bình
Phú...
Trong những năm qua nhà nước đã đầu tư xây dựng được 15 công trình
cấp nước sinh hoạt cho 4 xã: Linh Phú 3, Tri Phú 2, Bình Phú 5, Tân Mỹ 5 (còn
một số xã chưa được cấp nước sinh hoạt như xã Vinh Quang, Kim Bình...). Đã
xây dựng được 45 bể nước (Linh Phú 10, Trí Phú 10, Bình Phú 13, Tân Mỹ 12).
Đường ống dẫn nước dài 105 km (Tân Mỹ 35km, Tri Phú 17km, Bình Phú
35,km Linh Phú 18km). Đã nâng hệ số sử dụng nước sạch lên 25%.
3.8 Chợ

trung học chuyên nghiệp (phổ thông trung học cơ sở) chưa qua lớp đào tạo dài
hạn về quản lý. Bên cạnh đó việc thay đổi cán bộ xã, bản lại diễn ra thường
xuyên.
Tình hình yếu kém của cán bộ huyện, xã, bản là tình trạng chung và khá
phổ biến ở trong huyện, đặc biệt là ở các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, sự
yếu kém này thể hiện ở nhiều mặt: trình độ văn hoá, trình độ quản lý, năng lực
chuyên môn... và tâm huyết nghề nghiệp.
6. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện
Chiêm Hoá
6.1. Những thuận lợi
- Do có tiềm năng lớn vè điều kiện tự nhiên cho phép phát triển nông
nghiệp vừa mang tính đặc thù vừa mang tính đa dạng, cho nên có khả năng phát
triển nhiều nông sản hàng hoá có giá trị như: chè, mía, mận, nhãn, vải...
- Huyện được nhà nước quan tâm, đầu tư phát triển thông qua các nguồn
vốn thông qua nhiều chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và an ninh
quốc phòng.
- Đồng bào các dân tộc trong huyện đoàn kết tin tưởng vào chủ trương,
đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước.
- Nhân dân trong huyện có truyền thống văn hoá đặc sắc, mang đậm đà bản
sắc dân tộc, cần cù chịu khó...
6.2. Những khó khăn cơ bản cần giải quyết
- Chiêm Hoá là một huyện vùng cao cách xa tỉnh lỵ, xa các cửa khẩu, bến
cảng và các trung tâm thị trường lớn. Do đó khó khăn về thị trường tiêu thụ hàng
hoá, hạn chế việc phát triển các loại nông sản tươi sống và nhu cầu vận chuyển lớn.
- Địa hình dốc chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn đặc biệt là mùa
mưa thường bị sụt lở gây ách tắc giao thông, hàng năm chi phí tốn kém nhiều để
tu sửa khắc phục...
- Cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn, đời sống vật
chất và tinh thần đồng bào trong huyện còn thấp. Số hộ nghèo đói thiếu ăn
chiếm tỷ lệ lớn. Phần lớn các hộ chưa có tích luỹ để tái sản xuất mở rộng.

2. Công nghiệp 6,00 4,76 7,70
3. Thương mại - dịch vụ 16,50 16,98 18,03
Nguồn: Số liệu phòng thống kê huyện Chiêm Hoá cung cấp
- Năm 1997 giá trị sản xuất của toàn huyện đạt 177.096 triệu đồng, năm
1999 tăng lên đạt 246.938 triệu đồng. Qua 2 năm tăng 17.816 triệu đồng, bình
quân mõi năm tăng 8.908 triệu đồng, trong đó ngành nông - lâm nghiệp tăng
5.842 triệu đồng, ngành công nghiệp tăng 5.612 triệu đồng. Như vậy xét về quy
mô thì ngành thương mại dịch vụ có mức tăng cao nhất là 6.722 triệu đồng
chiếm 37,73% mức tăng của toàn ngành trong huyện. Giá trị sản xuất bình quân
một người, một năm của toàn huyện là 1,78 triệu đồng năm1998; 1,79 triệu
đồng năm năm 1999 và 1,92 triệu đồng năm 2000. Nhìn chung mức sống của
huyện còn rất thấp so với các huyện và các khu vực khác, xét về mặt đời sống
văn hoá - xã hội.
Xét về tốc độ tăng trưởng của toàn huyện thì huyện Chiêm Hoá có tốc độ
tăng trưởng còn rất thấp là 5,74%/năm. Trong đó ngành công nghiệp có tốc độ
tăng trưởng cao nhất, vào cao hơn toàn huyện (tốc độ tăng trưởng của ngành
công nghiệp là 26,44%/năm). Mức tăng trưởng của ngành công nghiệp tăng cao
là do các chương trình 925 đã được thực hiện trên địa bàn toàn huyện, trong khi
đó ngành nông - lâm nghiệp thì có tốc độ tăng trưởng rất thấp chỉ có
1,63%/năm, tốc độ tăng trưởng của ngành nông - lâm nghiệp thấp như vậy là do
thời gian qua huyện Chiêm Hoá đã bị lũ lụt gây thiệt hại rất lớn dẫn đến năng
suất, sản lượng cây trồng; còn ngành thương mại - dịch vụ có tốc độ tăng trưởng
bình quân là 8,65%/năm; tốc độ tăng trưởng này hầu như không đổi. Nhìn
chung tốc độ tăng trưởng của các ngành trong toàn huyện năm 2000 cao hơn so
với năm 1998 và thấp hơn so với năm 1999. Đây cũng là những điều mà nhân
dân các dân tộc trên địa bàn toàn huyện cùng các cấp quản lý phải suy ngẫm
làm thế nào để phòng tránh lũ lụt cao hơn, hiệu quả hơn (tránh lũ lụt như năm
2000 - gây ra rất nhiều thiệt hại). Nếu làm được như vậy thì mới có thể thúc đẩy
tốc độ tăng trưởng lên dần dần được, để giảm bớt được những hộ nghèo trong
toàn huyện.

+ Sản phẩm phụ khác 4.098 4.052 4.379
+ Cây công nghiệp 23.275 19.589 19.675
2. Chăn nuôi 32.454 28.179 27.408
+ Gia súc 22.341 17.473 15.692
+ Gia cầm 7.491 7.815 8.807
+ Sản phẩm chăn nuôi khác 2.622 2.891 2.909
3. Dịch vụ phục vụ trồng trọt và 683 690 1.472
chăn nuôi
Nguồn: Số liệu phòng thống kê huyện Chiêm Hoá cung cấp.
Trong những năm gần đây huyện Chiêm Hoá đã gặp phải nhiều khó khăn
trong sản xuất nông nghiệp, hàng năm còn ảnh hưởng, tác động của thời tiết bất
lợi như lũ lụt, lũ quét, gió xoáy... đã gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất
và đời sống của nhân dân các dân tộc trong toàn huyện.
Từ những thực trạng trên được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, và
được sự chỉ đạo trực tiếp của huyện uỷ - UBND huyện và ngành dọc HĐND
tỉnh Tuyên Quang và nhân dân trong huyện đã cố gắng khắc phục khó khăn và
thực hiện phòng tránh lũ lụt, lũ quét, gió xoáy...
Qua biểu 4 trên ta thấy.
* Về quy mô
Năm 1998 giá trị tổng sản lượng nông nghiệp của huyện là 147.773 triệu
đồng, trong đó ngành trồng trọt đạt 32.545 triệu đồng chiếm 77,57% giá trị tổng
sản lượng nông nghiệp, đến năm 2000 đạt 116.686 triệu đồng chiếm 80,16% giá
trị tổng sản lượng nông nghiệp của toàn huyện, bình quân 1 lao động nông
nghiệp đạt 1,87 triệu đồng năm 1998 và 1,90 triệu đồng năm 2000. Chịu ảnh
hưởng rất nặng nề của thời tiết khí hậu, nên quy mô ngành tăng, giảm không ổn
định. Cụ thể như sau:
* Trồng trọt tăng : 2050 triệu đồng, trong đó:
+ Cây lúa tăng : 3559 triệu đồng
+ Cây lương thực khác : 1023 triệu đồng
+ Cây ăn quả giảm : 709 triệu đồng

+ Cây ăn quả 1,95 1,63 1,50
+ Rau, đậu và gia vị 2,92 3,38 3,99
+ Sản phẩm phụ khác 2,77 2,75 3,00
+ Cây công nghiệp 15,75 13,31 13,51
2. Chăn nuôi 21,96 19,15 18,82
+ Gia súc 15,11 11,87 10,77
+ Gia cầm 5,06 5,31 6,05
+ Sản phẩm chăn nuôi khác 1,77 1,96 1,99
3. Dịch vụ phục vụ TT và CN 0,46 0,41 1,01
Nguồn: Số liệu phòng thống kê huyện Chiêm Hoá cung cấp.
* Về tốc độ phát triển
Sản xuất nông nghiệp của huyện Chiêm Hoá tăng giảm không ổn định, do
còn chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên, nên tốc độ phát triển của
nhiều loại cây trồng, vật nuôi giảm nhiều so với mấy năm trước.
Trong 3 năm 1998-2000 sản xuất nông nghiệp của huyện Chiêm Hoá giảm
0,98 lần, trong khi đó ngành trồng trọt tăng 1,01 lần, chăn nuôi giảm 0,84 lần,
ngành dịch vụ phục vụ trồng trọt và chăn nuôi tăng 2,15 lần.
Tính trung bình mỗi năm huyện Chiêm Hoá có tốc độ tăng trưởng của
ngành nông nghiệp là giảm 1,02%. Trong đó ngành trồng trọt tăng 10,79%;
chăn nuôi giảm 8,10%; dịch vụ phục vụ trồng trọt và chăn nuôi tăng 20,12%.
Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp không phải giảm qua các
năm, như năm 1998 thì sản xuất nông nghiệp của huyện có mức tăng so với
năm 1997; như ngành trồng trọt 1,03 lần trong đó cây lúa tăng 0,15 lần; rau, đậu
và gia vị tăng 1,15 lần... nhưng chăn nuôi lại giảm 0,84 lần, do các loại cây
trồng và chăn nuôi giảm như vậy nên dịch vụ phục vụ trồng trọt và chăn nuôi
tăng cao để giúp cho những người dân phòng tránh ở điều kiện tự nhiên cao hơn
và đó cũng là cách giúp cho đời sống của nhân dân phần nào giảm được tỷ lệ
đói nghèo.
* Về cơ cấu giá trị tổng sản lượng
Trong giá trị tổng sản lượng thì ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn

+ Cây khác 3,98 4,96 6,15
Nguồn: Số liệu phòng thống kê huyện Chiêm Hoá cung cấp.
Trong 3 năm (1998-2000) tồng diện tích ngành trồng trọt từ 16.909ha
năm 1998 lên 18.185 ha năm 1999, tăng 7,54% so với năm 1998 và đến năm
2000 lại giảm xuống còn 17.825 ha giảm 1,97% so với năm 1999, bình quân
mỗi năm tăng 2,78%, với hệ số sử dụng đất rất thấp 1,6; ruộng đất sử dụng
một vụ là chủ yếu, trình độ thâm canh thấp, đất đai bị biến chất, thoái hoá,
bạc màu rất nhanh (thường từ 3 - 5 vụ).
Cơ cấu diện tích gieo trồng năm 1998 là 75,42% cây lương thực, 0,14%
cây ăn quả, 20,43% cây côngnghiệp, 3,98% cây khác. Năm 2000 cơ cấu diện
tích gieo trồng có bước chuyển biến tích cực hơn, nhưng chưa đồng đều thể hiện
như: cây lương thực 75,73%; cây ăn quả 1,41%; cây công nghiệp 16,6%; cây
khác 6,15%.
Nhìn chung diện tích cây lương thực có tốc độ tăng và chiếm tỷ trọng lớn,
nhưng tốc độ gia tăng không đồng đều qua các năm. Diện tích cây ăn quả đang
được bà con nông dân mở rộng và được chú trọng hơn nên tốc độ tăng cao hơn
so với các loại cây trồng khác và do diện tích loại đất trồng chưa đi vào chuyên
môn hoá, nên diện tích đất trồng các loại cây khác còn tăng cao qua các năm.
1.1.1. Cây lương thực
Diện tích trồng lúa có xu hướng ngày càng tăng. Năm 1998 diện tích trồng
lúa là 10.394 ha chiếm 81,18% diện tích trồng cây lương thực của toàn huyện,
năm 2000 diện tích trồng lúa tăng lên 10.911 ha chiếm 80,82% diện tích trồng
cây lương thực của toàn huyện, tính bình quân diện tích trồng lúa tăng
22,81%/năm. Nguyên nhân chủ yếu là do đất trồng khoai chuyển sang trồng lúa,
sản lượng lúa thu hoạch được của huyện năm 2000 là 45.148 tấn, tăng 2.225 tấn
so với năm 1998.
Xét về hiệu quả ta thấy năng suất lúa xuân tăng lớn nhất từ 41-48 tạ/ha và
năng suất lúa mùa đạt 41- 42 tạ/ha. Khi so sánh năng suất của các loại cây trong
huyện thì ta nên chú trọng hơn vào năng suất cây lúa, bởi vì toàn huyện thì cây
lúa là cây chiếm tỷ trọng cao nhất trong các loại cây lương thực vì vâỵ nó có

- Sản lượng (tấn) 6.634 7.370 5.160
Nguồn: Số liệu phòng thống kê huyện Chiêm Hoá cung cấp.
Qua phân tích trên ta thấy lúa là cây lương thực chính của huyện. Tuy
nhiên cây lúa chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng, đây là một điều đáng
mừng đối với người dân và là bước đột phá của huyện trong quá trình phá thế
độc canh cây lương thực, mở ra được khả năng thâm canh tăng vụ trong những
năm tới.
Biểu 8: Tốc độ phát triển liên hoàn năng suất - diện tích - sản lượng cây
lương thực của huyện Chiêm Hoá
Đơn vị tính: %
Hạng mục 99/98 2000/1999 BQ
1. Lúa xuân
- Diện tích (ha) 107,53 103,29 157,05
- Năng suất (tạ/ha) 103,21 113,21 108,21
- Sản lượng (tấn) 110,99 116,94 113,96
2. Lúa mùa
- Diện tích (ha) 100,00 101,68 110,84
- Năng suất (tạ/ha) 102,22 85,16 93,69
- Sản lượng (tấn) 102,22 86,43 94,325
3. Ngô
- Diện tích (ha) 133,73 90,14 111,93
- Năng suất (tạ/ha) 95,84 108,08 101,96
- Sản lượng (tấn) 128,12 97,42 112,77
4. Khoai
- Diện tích (ha) 409,45 26,40 217,92
- Năng suất (tạ/ha) 109,3 76,24 92,77
- Sản lượng (tấn) 448,30 20,14 234,22
5. Sắn
- Diện tích (ha) 111,16 70,01 90,58
- Năng suất (tạ/ha) 100,00 100,00 100,00


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status