Lý thuyết cơ bản về phân tích doanh thu và chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm - Pdf 76

Lý thuyết cơ bản về phân tích doanh thu và chi phí
của doanh nghiệp bảo hiểm
1. Khái quát chung về doanh nghiệp bảo hiểm
1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp bảo hiểm
a. Khái niệm doanh nghiệp bảo hiểm
Doanh nghiệp là những tổ chức kinh tế độc lập cơ bản của nền kinh tế, có
tư cách pháp nhân, hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường vì mục đích
tối đa hóa lợi nhuận và sự phát triển của xã hội. “Doanh nghiệp bảo hiểm là
doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật kinh
doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến kinh doanh
bảo hiểm”.
Doanh nghiệp bảo hiểm là một loại doanh nghiệp dịch vụ, hoạt động của
nó cũng nhằm mục đích sinh lời. Điểm khác nhau cơ bản giữa doanh nghiệp bảo
hiểm với các doanh nghiệp khác là ở chỗ: Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh
nghiệp chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm; nó có trách nhiệm trả tiền
bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm nếu người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho doanh
nghiệp. Như vậy, muốn phân biệt phải dựa vào đặc điểm hoạt động kinh doanh
của DNBH.
b. Phân loại doanh nghiệp bảo hiểm
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế đa dạng, phong phú các hoạt động
kinh tế - xã hội. Trong nền kinh tế đó có nhiều thành phần kinh tế tham gia. Vì
vậy, các tổ chức kinh tế cũng phù hợp với thành phần kinh tế đó. Cụ thể trong
thị trường bảo hiểm thường bao gồm các hình thức tổ chức như sau:
b.1. Doanh nghiệp bảo hiểm Nhà Nước
Doanh nghiệp bảo hiểm Nhà Nước là doanh nghiệp do Nhà Nước thành
lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là người chủ sở hữu. Doanh nghiệp bảo
hiểm Nhà Nước là một pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bình đẳng
trước pháp luật.
b.2. Công ty cổ phần bảo hiểm
Công ty cổ phần bảo hiểm là loại doanh nghiệp do các cổ đông tham gia

- Công ty trách nhiệm hữu hạn môi giới bảo hiểm
- Công ty hợp doanh môi giới bảo hiểm
- Doanh nghiệp tư nhân môi giới bảo hiểm
- Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh
- Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài
Các tổ chức như đại lý bảo hiểm, văn phòng đại diện của doanh nghiệp
bảo hiểm là các tổ chức phụ thuộc, không đủ tư cách để gọi là doanh nghiệp bảo
hiểm.
1.2. Nội dung và đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo
hiểm
1.2.1. Nội dung hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
a. Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lời. Ở
đây DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm trên cơ sở người mua bảo
hiểm đóng phí bảo hiểm cho người bảo hiểm (DNBH), DNBH bồi thường (hoặc
trả tiền bảo hiểm) cho những tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người thụ
hưởng.
Cũng giống như bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, ngoài việc đáp
ứng cho các nhu cầu an toàn của con người thì lợi nhuận là mục tiêu của hoạt
động kinh doanh bảo hiểm. Bởi vậy, có một số nguyên tắc phải tuân thủ khi tiến
hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
 Nguyên tắc 1: “Số đông bù số ít”. Đây là nguyên tắc xuyên
suốt, không thể thiếu được trong bất kỳ nghiệp vụ bảo hiểm thương mại nào.
Theo đó hậu quả của rủi ro xảy ra đối với một hoặc một số ít người sẽ được bù
đắp bằng số tiền huy động được từ rất nhiều người có khả năng cùng gặp phải
rủi ro như vậy.
 Nguyên tắc 2: “Rủi ro có thể được bảo hiểm”. Mặc dù công ty
BH cung cấp các dịch vụ bảo hiểm cho những cá nhân và tổ chức có nhu cầu
nhưng không phải trong mọi trường hợp công ty BH đều chấp nhận các yêu cầu
bảo hiểm. Theo nguyên tắc này, rủi ro có thể được bảo hiểm phải là những rủi

phẩm bảo hiểm có đảm bảo hay không, giá cả có hợp lý hay không, quyền lợi
của người được bảo hiểm có đảm bảo đầy đủ công bằng hay không… đều chủ
yếu dựa vào sự trung thực của phía DNBH.
Ngược lại, nguyên tắc này cũng đặt ra yêu cầu đối với người tham gia bảo
hiểm, là phải trung thực trong việc khai báo rủi ro khi tham gia bảo hiểm, để
giúp DNBH xác định mức phí phù hợp với rủi ro mà họ đảm nhận. Thêm vào
đó các hành vi gian lận nhằm trục lợi bảo hiểm khi thông báo, khai báo các thiệt
hại để đòi bồi thường sẽ được sử lý theo pháp luật
 Nguyên tắc 5: “Quyền lợi có thể được bảo hiểm”. Nguyên tắc
này yêu cầu người tham gia BH phải có lợi ích tài chính bị tổn thất nếu đối
tượng được bảo hiểm gặp rủi ro. Nói cách khác, người tham gia BH phải có một
số quan hệ với đối tượng được BH và được pháp luật công nhận. Mối quan hệ
có thể biểu hiện qua quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài
sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo
hiểm. Nguyên tắc này nhằm loại bỏ khả năng BH cho tài sản của người khác
hoặc cố tình gây thiệt hại hoặc tổn thất để thu lợi từ một đơn bảo hiểm.
Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, trong mỗi một loại hình bảo hiểm sẽ có
thêm các nguyên tắc khác phù hợp với đặc điểm của từng loại: nguyên tắc bồi
thường, nguyên tắc khoán...
b. Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất
DNBH không chỉ có trách nhiệm bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo
hiểm do rủi ro tai nạn bất ngờ gây ra nhằm giúp người được BH ổn định kinh tế,
khôi phục sản suất và đời sống, mà còn tiến hành các biện pháp đề phòng rủi ro
và tổn thất trước khi tai nạn xảy ra.
Thông qua phân tích nguyên nhân của những rủi ro tai nạn bất ngờ,
DNBH rút ra được những biện pháp cần thiết để cùng khách hàng thực hiện
nhằm đề phòng tổn thất xảy ra.
c. Giám định tổn thất
Giám định tổn thất là nhiệm vụ, là một khâu quan trọng trong chu trình
hoạt động kinh doanh BH. Sau khi nhận được thông báo của người được bảo

Nam cũng không cho phép một doanh nghiệp kinh doanh cả hai loại hình bảo
hiểm.
1.2.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH vì mục đích lợi nhuận. Vì
vậy mọi hoạt động đều mang đặc trưng kinh doanh, lấy lợi nhuận làm mục tiêu
phấn đấu. Chiến lược kinh doanh của DNBH đều đặt mục tiêu lợi nhuận lên
hàng đầu. Để đạt mục tiêu đó hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tính đến
những đặc điểm sau:
a) Đối tượng kinh doanh đa dạng
Bảo hiểm thương mại có đối tượng bảo hiểm là tài sản, trách nhiệm dân
sự và con người.
Mỗi đối tượng BH bao gồm rất nhiều nghiệp vụ cụ thể. Mỗi nghiệp vụ là
một hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp bán sản phẩm bảo hiểm
ra thị trường và thu về phí bảo hiểm (giá bảo hiểm). Phí đó được tính toán trên
cơ sở khoa học đảm bảo thu bù chi, làm nghĩa vụ đối với Nhà nước và có lãi
cho doanh nghiệp. Với đối tượng bảo hiểm đa dạng như vậy, quy luật số lớn
trong kinh doanh bảo hiểm càng phát huy tác dụng; do đó mục đích lợi nhuận sẽ
đạt được.
b) Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vốn pháp định lớn
Ngoài nguồn vốn của DNBH bao gồm vốn điều lệ, phí bảo hiểm thu
được, lãi đầu tư,… Trong đó, vốn điều lệ phải đảm bảo như mức vốn pháp định
do pháp luật quy định. Vốn pháp định lớn là do đặc thù của kinh doanh bảo
hiểm – kinh doanh rủi ro. Để nhằm bảo vệ quyền lợi cho người tham gia bảo
hiểm khi DNBH làm ăn không hiệu quả, không có đủ tiền để trả cho khách
hàng, Nhà Nước sẽ lấy từ vốn điều lệ của doanh nghiệp để giải quyết cho họ.
c) Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng nghiệp vụ
bảo hiểm.
Do kinh doanh bảo hiểm có sự tích lũy rủi ro nên tất cả các khoản tiền
được trích ra từ phí bảo hiểm phục vụ cho mục đích bồi thường hay chi trả bảo
hiểm thực hiện các cam kết trong hợp đồng bảo hiểm chính là các quỹ dự phòng

- Hoạt động khác
Theo đó, doanh thu bảo hiểm của DNBH là: doanh thu từ hoạt động bán
sản phẩm bảo hiểm và cung cấp dịch vụ, tiền lãi từ hoạt động đầu tư và các
khoản thu nhập khác ngoài các hoạt động bán sản phẩm bảo hiểm và đầu tư.
2.1.2. Doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Đây là nguồn thu cơ bản và đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của
DNBH. Doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm được tính bằng số tiền phải
thu sau khi đã trừ đi các khoản chi để giảm thu phát sinh trong kỳ từ các hoạt
động kinh doanh bảo hiểm. Doanh thu kinh doanh bảo hiểm bao gồm các khoản
thu sau đây:
 Tiền thu phí bảo hiểm gốc: là toàn bộ phí BH thu từ các hoạt động BH đã
ký kết trong kỳ.
 Tiền thu nhận tái bảo hiểm: là toàn bộ tiền phí nhận tái bảo hiểm thu từ
các hợp đồng tái bảo hiểm trong kỳ.
 Tiền thu nhượng tái bảo hiểm: là toàn bộ các khoản tiền thu về hoa hồng
nhượng tái bảo hiểm và khoản thu khác từ hoạt động tái bảo hiểm trong kỳ.
 Ngoài ra, khi doanh nghiệp đứng ra làm đại lý cho các DNBH khác trong
việc giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi
hoàn, xử lý hàng bồi thường 100%, số tiền phải thu từ các hoạt động này cũng
được tính vào doanh thu phát sinh trong kỳ của DNBH.
Cũng như các loại hình kinh doanh khác, DNBH có thể gặp phải trường
hợp hàng bán bị trả lại, hoặc DNBH áp dụng chính sách giảm giá hàng bán. Đây
được coi là các khoản chi làm giảm thu phát sinh trong kỳ, là các khoản thu phát
sinh trong kỳ nhưng phải trả lại, bao gồm:
 Hoàn phí bảo hiểm: khi hoạt động bảo hiểm bị giải ước, khách hàng có
thể được hoàn lại một phần phí bảo hiểm đã đóng với mức hoàn lại đã được quy
định trước trong hợp đồng.
 Giảm phí bảo hiểm đối với những khách hàng lớn, hoặc khách hàng ít
bị tổn thất nhằm cạnh tranh lôi kéo và giữ khách hàng.
Tương tự như vậy, đối với hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm cũng có

thuế thu nhập trong kỳ.
 Thu nhập khác là các khoản thu về cho thuê bất động sản, thuê văn
phòng, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn, chênh lệch ngoại tệ và các khoản thu
nhập khác.
2.1.4. Thu từ các hoạt động khác
Thu nhập khác trong DNBH là các khoản thu từ những hoạt động xảy ra
không thường xuyên ngoài các hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hoạt động tài
chính, bao gồm: Thu về thanh lý tài sản cố định, nhượng bán tài sản cố định;
Thu về tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng; Tiền bảo hiểm được bồi
thường; Thu được các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi phí của kỳ
trước; Khoản nợ phải trả nay mất chủ được tính tăng thu nhập; Thu về các
khoản thuế được ghi giảm, được hoàn lại.
2.2. Chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm
2.2.1. Khái niệm
Với đặc thù của kinh doanh bảo hiểm một ngành dịch vụ kinh doanh rủi
ro thì chi phí của DNBH được định nghĩa là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải
chi, phải trích trong kỳ (thường là một năm) bao gồm: chí phí hoạt động kinh
doanh bảo hiểm, chi phí hoạt động tài chính và chi phí cho các hoạt động khác.
2.2.2. Chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Chi phí kinh doanh bảo hiểm là toàn bộ các khoản chi tiền, khoản trích
nảy sinh trong quy trình hoạt động kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm và tái
bảo hiểm của DNBH trong kỳ. Chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm là khoản
chi cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm, bao gồm:
a. Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm
Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm là các khoản chi bằng tiền và các
khoản trích để trực tiếp thực hiện sản xuất dịch vụ bảo hiểm, tái bảo hiểm trong
kỳ kinh doanh của DNBH.
Theo mục đích và công dụng của chi phí, chi phí trực tiếp kinh doanh bảo
hiểm bao gồm:
 Chi bồi thường: là khoản tiền mà DNBH trả trực tiếp theo cam kết

Trong kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ, các khoản chi
dự phòng nghiệp vụ chủ yếu gồm: Dự phòng phí bảo hiểm, Dự phòng bồi
thường, Dự phòng dao động lớn. Còn trong các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ
các khoản dự phòng kỹ thuật chủ yếu mà doanh nghiệp phải trích là: Dự phòng
toán học, Dự phòng phí bảo hiểm chưa được hưởng, Dự phòng đảm bảo cân
đối, Dự phòng cam kết chia lãi.
 Chi giám định tổn thất: là khoản tiền DNBH phải chi ra để thực hiện việc
giám định các tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
 Chi đánh giá rủi ro của đối tượng bảo hiểm bảo hiểm: là các khoản chi
cho công việc thu thập thông tin, điều tra, và thẩm định về đồi tượng bảo hiểm

Trích đoạn *100 Chi phí quản lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status