NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN - Pdf 76

Những vấn đề chung về Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
vận chuyển bằng đờng biển
i. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đờng biển
1. Trên thế giới:
Bảo hiểm hàng hải đã có lịch sử rất lâu đời. Nó ra đời và phát triển cùng với sự
phát triển của hàng hoá và ngoại thơng. Khoảng thế kỷ V trớc công nguyên, vận
chuyển hàng hoá bằng đờng biển đã ra đời và phát triển ngời ta biết tránh tổn thất
toàn bộ một lô hàng bằng cách chia nhỏ, phân tán chuyên chở trên nhiều thuyền
khác nhau. Đây có thể nói là hình thức sơ khai của bảo hiểm hàng hoá. Đến thế kỷ
thứ XII thơng mại và giao lu hàng hoá bằng đờng biển giữa các nớc phát triển.
Nhiều tổn thất lớn xảy ra trên biển vì khối lợng và giá trị của hàng hoá ngày càng
tăng, do thiên tai, tai nạn bất ngờ, cớp biển... gây ra làm cho giới thơng nhân lo lắng
nhằm đối phó với các tổn thất nặng nề có khả năng dẫn tới phá sản họ đã đi vay vốn
để buôn bán kinh doanh. Nếu hành trình gặp phải rủi ro gây ra tổn thất toàn bộ thì
các thơng nhân đợc xoá nợ, nếu hành trình may mắn thành công thì ngoài vốn vay
họ còn phải trả chủ nợ một khoản tiền lãi với lãi suất rất cao. Lãi suất cao và nặng
nề này có thể coi là hình thức ban đầu của phí bảo hiểm.
Năm 1182 ở Lomborde - Bắc ý, hợp đồng bảo hiểm hàng hoá đã ra đời, trong
đó ngời bán đơn này cam kết với khách hàng sẽ thực hiện nội dung đã ghi trong
đơn. Từ đó hợp đồng bảo hiểm, ngời bảo hiểm đã ra đời với t cách nh là một nghề
riêng độc lập.
Năm 1468 tại Venise nớc ý đạo luật đầu tiên về bảo hiểm hàng hải đã ra đời.
Sự phát triển của thơng mại hàng hải đã dẫn đến sự ra đời và phát triển mạnh mẽ
của bảo hiểm hàng hải và hàng loạt các thể lệ, công ớc, hiệp ớc quốc tế liên quan
đến thơng mại và hàng hải nh: Mẫu hợp đồng bảo hiểm của Lloyd's 1776 và Luật
bảo hiểm của Anh năm 1906 (MiA - Marine insurance Act 1906), công ớc Brucxen
năm 1924, Hague Visby 1986, Hămbua năm 1978, Incoterms 1953,1980,1990,2000
... Các điều khoản về bảo hiểm hàng hải cũng ra đời và ngày càng hoàn thiện .
Nói về bảo hiểm hàng hải không thể không nói tới nớc Anh và Lloyd's. Nớc
Anh là một trong những nớc có sự phát triển hiện đại về thơng mại và hàng hải lớn

hiểm với hơn 40 nớc trên thế giới. Năm 1965 khi Bảo Việt đi vào hoạt động, Bộ Tài
chính đã ban hành quy tắc chung về Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đờng
biển. Gần đây, để phù hợp với sự phát triển thơng mại và ngành hàng hải của đất n-
ớc, Bộ Tài chính đã ban hành quy tắc chung mới - Quy tắc chung 1990 (QTC-1990)
cùng với Luật Hàng hải Việt Nam. Quy tắc chung này là cơ sở pháp lý chủ yếu điều
chỉnh các vấn đề về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang có những bớc phát triển mạnh mẽ,
xuất phát từ yêu cầu bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định thu hút vốn đầu t n-
ớc ngoài thì việc đa dạng hoá các loại hình kinh doanh bảo hiểm là một đòi hỏi thiết
thực. Để đáp ứng yêu cầu cấp bách trên, Nghị định 100/CP của chính phủ về hoạt
động kinh doanh bảo hiểm đã đợc ban hành ngày 18/12/1993 đã tạo điều kiện cho
nhiều công ty bảo hiểm ra đời và phát triển. Hiện nay với sự góp mặt của 10 công ty
bảo hiểm gốc trong cả nớc, thị trờng bảo hiểm Việt Nam đã bắt đầu phát triển với sự
cạnh tranh gay gắt giữa các công ty, nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
vẫn là một nghiệp vụ truyền thống mà các nhà bảo hiểm Việt Nam vẫn duy trì và
phát triển với các biện pháp, chiến lợc, sách lợc giành thắng lợi trong cạnh tranh.
ii. Sự cần thiết, tác dụng và vai trò của Bảo hiểm hàng hoá
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển
1. Khái niệm :
Ta có thể định nghĩa: Bảo hiểm chính là một sự cam kết bồi thờng của ngời bảo
hiểm đối với ngời đợc bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tợng bảo hiểm
do những rủi ro đã thoả thuận gây ra với điều kiện ngời đợc bảo hiểm góp cho ngời
bảo hiểm một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. Trong nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá
xuất nhập khẩu thì ngời đợc bảo hiểm có thể là ngời mua hoặc ngời bán tuỳ theo
điều kiện thơng mại và điều kiện cơ sở giao hàng quy định trong hợp đồng mua bán
mà hai bên đã thoả thuận với nhau. Đối tợng bảo hiểm ở đây chính là hàng hoá đã
đợc mua bảo hiểm.
2. Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển
bằng đờng biển :
Ngành bảo hiểm đã ra đời do có sự tồn tại khách quan của các rủi ro mà con ng-

thiên tai, tai nạn bất ngờ gây nên nh: mắc cạn, đâm va, đắm chìm, cháy nổ, mất cắp,
cớp biển, bão, lốc, sóng thần.... vợt quá sự kiểm soát của con ngời. Hàng hoá xuất
nhập khẩu chủ yếu lại đợc vận chuyển bằng đờng biển đặc biệt ở những nớc quần
đảo nh Anh, Singapore, Nhật, Hồng Kông... do đó phải tham gia bảo hiểm hàng hoá
xuất nhập khẩu.
Ba là, theo hợp đồng vận tải ngời chuyên chở chỉ chịu trách nhiệm về tổn thất
của hàng hoá trong một phạm vi và giới hạn nhất định. Trên vận đơn đờng biển, rất
nhiểu rủi ro các hãng tàu loại trừ không chịu trách nhiệm, ngày cả các công ớc quốc
tế cũng quy định mức miễn trách nhiệm rất nhiều cho ngời chuyên chở (Hague,
Hague Visby, Hamburg....).Vì vậy các nhà kinh doanh phải tham gia bảo hiểm
hàng hoá xuất nhập khẩu.
Bốn là, hàng hoá xuất nhập khẩu thờng là những hàng hoá có giá trị cao,
những vật t rất quan trọng với khối lợng rất lớn nên để có thể giảm bớt thiệt hại do
các rủi ro có thể xảy ra, việc tham gia bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu trở thành
một nhu cầu cần thiết.
Năm là, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đã có lịch sử rất lâu đời do đó việc
tham gia bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển đã trở
thành một tập quán, thông lệ quốc tế trong hoạt động ngoại thơng.
Nh vậy, việc tham gia bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
đờng biển là rất quan trọng và ngày càng khẳng định vai trò của nó trong thơng mại
quốc tế.
iii. Những nội dung cơ bản của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đờng biển
1. Đặc điểm và trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình xuất nhập
khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đờng biển :
1.1. Đặc điểm quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đờng biển.
- Việc xuất nhập khẩu hàng hoá thờng đợc thực hiện thông qua hợp đồng giữa
ngời mua và ngời bán với nội dung về: số lợng, phẩm chất, ký mã hiệu, quy
cách đóng gói, giá cả hàng hoá, trách nhiệm thuê tàu và trả cớc phí, phí bảo
hiểm, thủ tục và đồng tiền thanh toán...

Theo các điều kiện thơng mại quốc tế INCOTERMS 2000 (International
Commercial Tearms) có mời ba điều kiện giao hàng đợc phân chia thành bốn nhóm
E, F, C, D có sự khác nhau về cơ bản nh sau: Thứ nhất là nhóm E- quy ớc ngời bán
đặt hàng hoá dới quyền định đoạt của ngời mua ngay tại xởng của ngời bán (điều
kiện E- giao tại xởng); Thứ hai là nhóm F- quy ớc ngời bán đợc yêu cầu giao hàng
hoá cho một ngời chuyên chở do ngời mua chỉ định (nhóm điều kiện F: FCA, FAS
và FOB); Thứ ba là nhóm C- quy ớc ngời bán phải hợp đồng thuê phơng tiện vận tải,
nhng không chịu rủi ro về mất mát hoặc h hại đối với hàng hoá hoặc các phí tổn
phát sinh thêm do các tình huống xảy ra sau khi đã gửi hàng và bốc hàng lên tàu
(nhóm điều kiện C: CFR, CIF, CPT và CIP); Thứ t là nhóm D- quy ớc ngời bán phải
chịu mọi phí tổn và rủi ro cần thiết để đa hàng hoá tới địa điểm quy định (nhóm
điều kiện D: DAF, DES, DEQ, DDU, DDP). Trong đó thông dụng nhất là điều kiện
FOB, CFR và CIF.
Trong các điều kiện giao hàng, ngoài phần giá hàng, tuỳ theo từng điều kiện
cụ thể mà có thêm cớc phí vận chuyển và phí bảo hiểm. Có những điều kiện giao
hàng mà ngời bán không có trách thuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểm cho hàng
hoá. Nh vậy, tuy bán đợc hàng nhng dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm sẽ do ngời
mua đảm nhận (điều kiện FOB). Có trờng hợp giao hàng theo điều kiện mà ngoài
việc xuất khẩu đợc hàng hoá, ngời bán còn có trách nhiệm thuê tàu vận chuyển và
mua bảo hiểm cho hàng hoá (điều kiện CIF). Thực tế, các tập đoàn kinh tế hoạt
động trên nhiều lĩnh vực sản xuất, vận chuyển, bảo hiểm ... khi giao hàng theo điều
kiện nhóm C và D, bên cạnh việc bán hàng còn giành cho họ dịch vụ vận chuyển và
bảo hiểm cho số hàng đó. Vì vậy, nếu nhập khẩu hàng theo điều kiện FOB, hay điều
kiện CFR thì sẽ giữ đợc dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm, hay chỉ dịch vụ bảo hiểm.
Nếu trong hoạt động nhập khẩu, bán hàng theo gía CIF, ngời bán cũng giữ đợc dịch
vụ vận chuyển và bảo hiểm. Nh vậy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành
vận tải đờng biển và ngành bảo hiểm của quốc gia đó.
Nói chung, trách nhiệm của các bên liên quan đợc phân định nh sau:
- Trách nhiệm của ngời bán (bên xuất khẩu): phải chuẩn bị hàng hoá theo đúng
hợp đồng trong mua bán ngoại thơng về số lợng, chất lợng, quy cách, loại

hảo (Clean B/L) hay còn gọi là vận đơn sạch và vận đơn không hoàn hảo (Unclean
B/L). Ngời vận chuyển phải chịu trách nhiệm với những rủi ro xảy ra đối với hàng
hoá theo quy định và phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc cho lô hàng hoá chuyên
chở trong hành trình từ cảng đi đến cảng đích.
- Trách nhiệm của ngời bảo hiểm: có trách nhiệm với những rủi ro đợc bảo
hiểm gây ra cho lô hàng hoá tham gia bảo hiểm, ngời bảo hiểm cũng có
trách nhiệm kiểm tra các chứng từ liên quan đến hàng hoá, hành trình vận
chuyển và bản thân tàu chuyên chở. Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi
trách nhiệm của bảo hiểm, ngời bảo hiểm có trách nhiệm tiến hành giám
định, bồi thờng tổn thất và đòi ngời thứ ba nếu họ gây ra tổn thất này.
2. Các loại rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đờng biển.
2.1. Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng
biển.
Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển là
những tai nạn, tai hoạ, sự cố xảy ra một cách bất ngờ ngẫu nhiên hoặc những mối đe
doạ nguy hại, khi xảy ra sẽ gây lên tổn thất cho đối tợng đợc bảo hiểm. Ví dụ nh :
tàu đắm, hàng mất, hàng bị đổ vỡ, h hỏng... Rủi ro trong xuất nhập khẩu hàng hoá
vận chuyển bằng đờng biển có nhiều loại, căn cứ vào nguồn gốc phát sinh có thể
phân rủi ro thành những loại sau:
* Thiên tai : Thiên tai là những hiện tợng tự nhiên mà con ngời không thể chi
phối đợc nh : biển động, bão, gió lốc, sét đánh, thời tiết xấu, sóng thần...
* Tai hoạ của biển: là những tai hoạ xảy ra đối với con tàu ở ngoài biển nh : tàu
bị mắc cạn, đâm va, đắm chìm, cháy nổ, tàu bị lật úp, mất tích... những rủi ro này đ-
ợc gọi là những rủi ro chính.
* Các tai nạn bất ngờ khác: là những thiệt hại do các tác động ngẫu nhiên bên
ngoài, không thuộc những tai hoạ của biển nói trên. Tai nạn bất ngờ khác có thể xảy
ra trên biển nhng nguyên nhân không phải là một tai hoạ của biển, có thể xảy ra
trên bộ, trên không trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ hàng hoá, giao nhận, lu kho,
bảo quản hàng nh : hàng hoá bị vỡ, lát, hấp hơi, thiếu hụt, mất trộm, mất cắp, không

* Tổn thất bộ phận là tổn thất mà một phần của đối tợng đợc bảo hiểm theo
một hợp đồng bảo hiểm bị mất mát, h hỏng, thiệt hại. Tổn thất bộ phận có thể là tổn
thất về số lợng, trọng lợng, thể tích hoặc giá trị.
* Tổn thất toàn bộ tức là toàn bộ đối tợng bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm bị
mất mát, h hỏng, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn nh lúc mới bảo
hiểm nữa. Một tổn thất toàn bộ có thể là tổn thất toàn bộ thực tế hay tổn thất toàn bộ
ớc tính:
- Tổn thất toàn bộ thực tế là toàn bộ đối tợng bảo hiểm bị mất mát, h hỏng hay
bị phá huỷ toàn bộ, không lấy lại đợc nh lúc mới bảo hiểm nữa. Trong trờng hợp
này, ngời bảo hiểm phải bồi thờng toàn bộ giá trị bảo hiểm hoặc số tiền bảo hiểm.
- Tổn thất toàn bộ ớc tính tức là thiệt hại, mất mát của đối tợng bảo hiểm cha
tới mức tổn thất toàn bộ nhng đối tợng bảo hiểm bị từ bỏ một cách hợp lý vì tổn thất
toàn bộ thực tế xét ra là không thể tránh khỏi hoặc những chi phí đề phòng, phục
hồi tổn thất lớn hơn giá trị của hàng hoá đợc bảo hiểm. Khi đối tợng là hàng hoá bị
từ bỏ, sở hữu về hàng hoá sẽ chuyển sang ngời bảo hiểm và ngời bảo hiểm có quyền
định đoạt về hàng hoá đó. Khi đó, ngời đợc bảo hiểm có quyền khiếu nại đòi bồi th-
ờng tổn thất toàn bộ.
Căn cứ vào tính chất tổn thất và trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất đợc chia làm
hai loại là tổn thất chung và tổn thất riêng:
* Tổn thất chung là những hy sinh hay chi phí đặc biệt đợc tiến hành một cách
cố ý và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hoá chở trên tàu thoát khỏi một sự
nguy hiểm chung, thực sự đối với chúng. Khi xảy ra tổn thất chung chủ hàng và ng-
ời bảo hiểm phải điền vào Bản cam đoan, Giấy cam đoan đóng góp vào tổn thất
chung. Bản cam đoan, Giấy cam đoan này đợc xuất trình cho chủ hàng hoặc thuyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status