MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRÁI PHIẾU TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN - Pdf 76

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH TRÁI PHIẾU TẠI CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN
1.1. Tổng quan về hoạt động kinh doanh trái phiếu tại Công ty chứng
khoán
1.1.1. Hoạt động cơ bản của Công ty chứng khoán
1.1.1.1. Khái niệm về Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt được hình
thành trong thời kỳ phát triển cao của nền kinh tế. Tại Việt Nam, Theo điều 65,
66 Nghị định 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ về chứng khoán và TTCK Công
ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được
UBCKNN cấp Giấy phép thành lập để hoạt động kinh doanh, dịch vụ chứng
khoán đáp ứng đủ các yêu cầu sau:
- Có phương án kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã
hội và phát triển ngành chứng khoán.
- Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật cho kinh doanh chứng khoán.
- Giám đốc, Phó giám đốc (Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc), các nhân
viên kinh doanh của CTCK phải đáp ứng đủ điều kiện để được cấp chứng chỉ
hành nghề kinh doanh chứng khoán do ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp.
- Giấy phép bảo lãnh phát hành chỉ được cấp cho công ty có Giấy phép tự
doanh.
- Có mức vốn pháp định theo từng loại hình kinh doanh sau: Đối với
nghiệp vụ môi giới chứng khoán cần số vốn tối thiểu là 25 tỷ đồng; Đối với
nghiệp vụ tự doanh chứng khoán cần vốn tối thiểu là 100 tỷ; Đối với hoạt động
nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành chứng khoán cần số vốn tối thiểu là 165 tỷ và số
vốn tối thiểu cho hoạt động tư vấn là 10 tỷ - Theo Nghị định số 14/2007, quy
định về vốn đối với các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK và quản lý quỹ
Như vậy số vốn tối thiểu để một CTCK hoạt động ở tất cả các nghiệp vụ
là 300 tỷ đồng.
Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2009, ở Việt Nam hiện nay có tất cả
103 CTCK trong đó vốn điều lệ cao nhất là CTCK Sài Gòn với số vốn là 1533,3

khách hàng; Thực hiện nghiệp vụ nhận lệnh giao dịch mua bán chứng khoán
niêm yết và OTC; Cung cấp các dịch vụ liên quan đến đăng ký chứng khoán
niêm yết, chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết, đăng ký giao dịch
tập trung, quản lý cổ đông, lưu ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán cho khách
hàng; Chăm sóc khách hàng; Tư vấn cho khách hàng giao dịch chứng khoán;
Thực hiện sửa lỗi theo quy định của HNX và HSX.
• Hoạt động tự doanh
Ngoài tư cách là môi giới chứng khoán, CTCK có thể sử dụng nguồn vốn
của mình để tham gia kinh doanh chứng khoán như một tổ chức độc lập trên thị
trường nhằm thu được lợi nhuận về cho CTCK. Hoạt động tự doanh của CTCK
có thể được chia thành hai lĩnh vực thứ nhất là thực hiện việc mua bán chứng
khoán niêm yết cho chính công ty mình, thứ hai là hình thức mua chứng khoán
chưa niêm yết. Ngoài ra CTCK còn mua chứng khoán niêm yết lô lẻ, sau đó sẽ
gộp thành lô chẵn để bán lại trên Sở giao dịch chứng khoán. Đây cũng là hoạt
động mang lại lợi nhuận cho CTCK bởi giá mua lô lẻ là giá thỏa thuận giữa
CTCK và nhà đầu tư nên CTCK có thể chủ động đưa ra mức giá thỏa thuận để
vừa có thể tìm kiếm lợi nhuận vừa có thể thu hút khách hàng. Phần lớn doanh
thu của CTCK thường là từ hoạt động tự doanh.
• Hoạt động phân tích và tư vấn đầu tư chứng khoán
Ở lĩnh vực này đòi hỏi các CTCK phải có các chuyên gia phân tích để
đưa ra sản phẩm là các báo cáo phân tích cơ bản như phân tích ngành, phân tích
công ty chuyên sâu đồng thời nghiên cứu thị trường hàng ngày hoặc hàng tuần
hoặc báo cáo về triển vọng của thị trường. Đây là những sản phẩm đòi hỏi sự
nghiên cứu chuyên sâu của các chuyên gia. Những sản phẩm này có thể được
thực hiện theo Hợp đồng hợp tác với các tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài
nước hoặc có thể là sản phẩm đặc trưng của một CTCK nhằm nâng cao vị thế
trên thị trường.
• Hoạt động tư vấn doanh nghiệp
Hoạt động tư vấn của một CTCK có thể bao gồm những hình thức sau;
+ Tư vấn bảo lãnh phát hành, chào bán chứng khoán riêng lẻ cho khách

được giải tỏa khi khách hàng trả tiền về cho CTCK hoặc khi khách hàng bán
chứng khoán bị phong tỏa, khi đó CTCK sẽ tự động thu phần vốn đã hợp tác
cùng với khách hàng. Nghiệp vụ này áp dụng đối với cả chứng khoán niêm yết
và chứng khoán OTC.
+ Song song với việc cân đối toàn bộ nguồn vốn hoạt động trong CTCK,
một số công ty có bộ phận nguồn vốn trực tiếp tham gia hoạt động kinh doanh
trái phiếu căn cứ vào tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp và tình hình thị
trường. Một số CTCK khác kết hợp với một hoặc nhiều ngân hàng để cung cấp
các dịch vụ cho khách hàng như hoạt động ứng trước tiền mua chứng khoán,
hợp tác đầu tư chứng khoán với khách hàng. Khi đó ngân hàng trực tiếp đứng ra
ký kết hợp đồng và thu tiền của khách hàng, CTCK chỉ là trung gian và hưởng
phần trăm hoa hồng.
1.1.2. Hoạt động kinh doanh trái phiếu tại công ty chứng khoán
Hoạt động kinh doanh trái phiếu của CTCK được hiểu là việc CTCK
thực hiện hoạt động môi giới trái phiếu cho khách hàng hoặc tự doanh trái phiếu
hoặc cả hai để từ đó thu phí giao dịch, hoa hồng, trái tức hoặc chênh lệch giữa
giá mua và giá bán nhằm mang lại lợi nhuận về cho CTCK.
Để hiểu rõ về hoạt động kinh doanh trái phiếu ta cần làm rõ các khái niệm
xung quanh trái phiếu:
1.1.2.1. Khái quát về trái phiếu
- Trái phiếu là một loại giấy hứa trả tiền dài hạn, do người đi vay phát
hành, hứa sẽ trả tiền cho người nắm giữ trái phiếu một khoản lãi cố định được
xác định trước mỗi năm. Trái chủ là người cho nhà phát hành vay và họ không
chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả và sử dụng vốn của người vay. Nhà phát
hành có nghĩa vụ phải thanh toán theo các cam kết nợ được xác định trong hợp
đồng vay. Trường hợp nếu một công ty không hoàn trả được lãi cho trái phiếu,
người ta sẽ xem xét vấn đề phá sản đối với công ty. Quyền yêu cầu về thu nhập
và tài sản của trái chủ được ưu tiên trước cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường.
Đây sẽ là sự đảm bảo quan trọng cho các nhà đầu tư và như vậy trái phiếu có
mức độ rủi ro thấp hơn so với cổ phiếu.

(TPCP và TPCQĐP, trái phiếu kho bạc, và trái phiếu đô thị) và kinh doanh
TPDN hay trái phiếu công ty.
Việc phân loại hoạt động kinh doanh trái phiếu theo công cụ đầu tư có thể
giúp các nhà quản lý xây dựng danh mục đầu tư với mức độ rủi ro phù hợp, trên
cơ sở đó dễ dàng thay đổi kết cấu danh mục đầu tư. Đầu tư vào TPCP được coi
là có rủi ro thấp nhất do được đảm bảo khả năng trả nợ của Chính phủ. Không
những vậy, TPCP còn có khả năng thanh khoản cao, dễ dàng chuyển thành tiền
mặt. Trái phiếu công ty cũng có rủi ro thấp nhưng vẫn phụ thuộc vào tình hình
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đầu tư kinh doanh trái phiếu công ty
còn có thể được phân chia thành đầu tư vào trái phiếu thế chấp (trái phiếu có
bảo đảm bằng một lượng tài sản tương ứng ký thác tại cơ quan để đảm bảo chắc
chắn khả năng hoàn trả của trái phiếu) và loại trái phiếu công ty có tính rủi ro
cao hơn là đầu tư vào trái phiếu tín chấp hay trái phiếu không có bảo đảm, loại
trái phiếu này chỉ có thể được mua khi tổ chức phát hành là các công ty lớn, có
uy tín danh tiếng trên thị trường.
Dù đầu tư vào TPCP hay TPDN thì hoạt động kinh doanh trái phiếu là
khá an toàn bởi dòng tiền cố định mà nhà đầu tư được nhận đã ấn định từ khi
phát hành trái phiếu chứ không phụ thuộc vào tình hình hoạt động cũng như kế
hoạch phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp.
b, Căn cứ vào nguồn vốn và trách nhiệm của công ty
Hoạt động kinh doanh trái phiếu của CTCK được chia thành hoạt động tự
doanh trái phiếu và môi giới giao dịch trái phiếu cho khách hàng.
• Tự doanh trái phiếu là hoạt động CTCK sử dụng nguồn vốn của mình để kinh
doanh trái phiếu trên thị trường. Khi đó, khác với tổ chức trung gian, CTCK
đóng vai trò là một trong hai phía mua hoặc bán khi thực hiện giao dịch, lúc này
công ty sử dụng nguồn vốn của mình để mua hoặc bán trái phiếu trên thị trường
từ đó được hưởng lợi nhuận thu được từ việc mua/bán trái phiếu hoặc phải chịu
rủi ro khi bị thua lỗ. Đối với hoạt động tự doanh, bất cứ khi nào cần bán/mua,
công ty có thể bán hết lượng trái phiếu đang nắm giữ hoặc mua tối đa nguồn
vốn phân bổ cho hoạt động tự doanh mà không chịu bất cứ ràng buộc nào – đây

nhà tạo lập thị trường.
• Kinh doanh đầu tư hưởng lợi: Hoạt động này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh đầu tư trái phiếu có thể có từ trái tức được phân
phối hàng năm và từ chênh lệch giá khi bán trái phiếu. Hoạt động kinh doanh
đầu tư hưởng lợi còn có thể chia thành hoạt động đầu cơ, kinh doanh chênh lệch
giá và kinh doanh xuống giá.
+ Đầu cơ trái phiếu: Là hoạt động đầu tư trái phiếu nhằm tìm kiếm lợi
nhuận từ trái tức và chênh lệch giá trong dài hạn. Hoạt động đầu cơ làm cho trái
phiếu trở nên khan hiếm và giá trái phiếu tăng khi đó nhà đầu cơ có thể kiếm
được lợi từ việc tăng giá trái phiếu.
+ Kinh doanh chênh lệch giá: Là hoạt động mua bán trái phiếu nhằm tìm
kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn từ chênh lệch giá mua và giá bán. Giá chênh lệch
có thể do địa điểm mua bán khi tỷ giá giữa hai đồng tiền tại hai khu vực khác
nhau hoặc khi CTCK tìm được người có nhu cầu bán và người có nhu cầu mua
trái phiếu mà giá mua cao hơn giá bán khi đó CTCK sẽ là trung gian để hưởng
chênh lệch này.
+ Kinh doanh giảm giá: Là hoạt động kinh doanh đầu tư hưởng lợi khi có
hiện tượng giảm giá trái phiếu. Khi dự báo lãi suất tăng, CTCK sẽ bán trái phiếu
để chờ giá trái phiếu giảm xuống và mua lại. Trường hợp đặc biệt của hoạt động
kinh doanh giảm giá trái phiếu là bán khống. Khi đó, CTCK sẽ vay trái phiếu
của nhà tạo lập thị trường để bán khống lượng trái phiếu đó khi lãi suất thị
trường có xu hướng tăng lên trong tương lai làm giá trái phiếu giảm và mua lại
trả nhà tạo lập thị trường khi giá trái phiếu đã giảm tới mức kỳ vọng. Phần
chênh lệch giữa giá bán và giá mua sau khi trừ đi phí giao dịch sẽ là thu nhập
của CTCK. Khi giá trái phiếu không xuống thấp như kỳ vọng mà tăng lên,
CTCK vẫn phải mua trái phiếu trả lại nhà tạo lập thị trường và chịu thua lỗ.
Phần thua lỗ là khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán. Đây cũng là hoạt
động mang tính rủi ro cao nên để ra quyết định đầu tư, CTCK cần phải xem xét
tình hình kinh tế vĩ mô và tình hình biến động lãi suất để từ đó tránh những rủi
ro không đáng có.

khoản của mình hoặc lệnh đặt bán đến nhưng nhà tạo lập thị trường không đủ
khả năng để mua toàn bộ lượng trái phiếu đặt bán của khách hàng thì khi đó nhà
tạo lập thị trường sẽ phải tìm một lệnh đối ứng khác thỏa mãn toàn bộ hoặc một
phần khối lượng đặt mua của khách hàng đặt ra bằng cách tìm đến một nhà tạo
lập thị trường khác.
Việc phân loại hoạt động kinh doanh trái phiếu theo hình thức này có thể
giúp nhà quản trị CTCK kiểm soát được lượng tiền sử dụng cho hoạt động kinh
doanh trái phiếu theo các hình thức đã được xác định.
1.1.2.3. Quản lý danh mục đầu tư trái phiếu
Hiện nay, hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán nói chung và
trái phiếu nói riêng là một công cụ hữu hiệu không chỉ cho các nhà đầu tư tổ
chức mà còn cho cả các nhà đầu tư cá nhân. Như vậy, hoạt động quản lý danh
mục đầu tư trái phiếu là nhu cầu quản lý danh mục đầu tư trái phiếu trong kho
tự doanh của CTCK, trong kho đối với CTCK là nhà tạo lập TTTP hoặc danh
mục trái phiếu được ủy thác quản lý của các nhà đầu tư. Tiền đầu tư trái phiếu
có thể là tiền tự có của CTCK hoặc tiền ủy thác của các nhà đầu tư trong đó
CTCK cam kết trả thanh toán cho nhà đầu tư với một tỷ lệ lãi và kỳ trả lãi nhất
định.
• Vai trò của quản lý danh mục đầu tư trái phiếu
Cũng như các nhà đầu tư kinh doanh khác, CTCK luôn mong muốn lợi
nhuận cao nhất mà rủi ro nếu thua lỗ là thấp nhất. Vì vậy, nhu cầu đa dạng hóa
danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro tránh “cho trứng vào cùng một rỏ” để
giảm nguy cơ thua lỗ khi trái phiếu giảm giá là rất rõ ràng. Nếu dồn toàn bộ tiền
của mình vào một loại trái phiếu như TPDN thì khi nhà phát hành trái phiếu rơi
vào tình trạng làm ăn thua lỗ, không trả được trái tức, CTCK sẽ gặp bất lợi
trong việc thu hồi tiền hoặc chỉ kinh doanh TPCP mặc dù rủi ro là rất thấp vì
khả năng Chính phủ không trả được tiền là hầu như không có nhưng cơ hội để
thu được lợi nhuận cao lại thấp hơn so với TPDN.
Như vậy, nếu với một khoản tiền, CTCK “rải” ra nhiều loại trái phiếu
khác nhau, thì tính tổng khoản đầu tư, rủi ro của trái phiếu này sẽ được bù đắp

Bước 2: Phương pháp đầu tư:
Khi người quản lý danh mục đầu tư đã quyết định được nên đầu tư theo
chỉ số nào thì bước tiếp theo là phải xây dựng danh mục đầu tư theo phiên bản
của chỉ số đó. Để thực hiện công việc này thì người quản lý có thể tiến hành
theo một số cách sau:
Thứ nhất: Mua tất cả các trái phiếu có trong chỉ số chuẩn mà mình cần
tuân theo, với tỷ trọng đầu tư vào mỗi trái phiếu bằng tỷ trọng trái phiếu đó
CTCK chiếm trong chỉ số chuẩn.

Trích đoạn Sự phát triển của Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính và kinh doanh chứng khoán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status