1
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, phần lớn các CTCK đều tập trung vào hoạt động tự doanh cổ
phiếu và môi giới mà chưa chú trọng tới hoạt động kinh doanh trái phiếu. Điều
này đã gây ra khá nhiều rủi ro trong quá trình tham gia thị trường của CTCK bởi
tự doanh cổ phiếu là hoạt động có thể mang lại lợi nhuận cao nhưng kèm với nó
là rủi ro lớn. Trong năm 2008, hoạt động tự doanh cổ phiếu đã đưa phần lớn các
CTCK rơi vào tình trạng làm ăn thua lỗ và CTCK Thăng Long cũng không
ngoại lệ. Trước thực trạng trên các CTCK nói chung và CTCK Thăng Long nói
riêng đã nghiên cứu thêm các phương án đầu tư mới trong đó có phương án kinh
doanh trái phiếu. Đây là một hoạt động nhằm giảm bớt rủi ro cho CTCK trong
thời điểm thị trường biến động mà cũng mang lại lợi nhuận không nhỏ hơn so
với hoạt động tự doanh cổ phiếu.
TTTP của Việt Nam vẫn còn khá non trẻ nhưng cũng đã đóng góp 14,2%
GDP tính đến hết năm 2008 và đang trong quá trình phát triển. Trên thế giới,
TPCP, trái phiếu công ty có tỷ trọng giao dịch lớn trên TTCK bởi sự sôi động
của TTCK phái sinh. Thời gian tới, theo xu thế chung của thế giới, hoạt động
giao dịch trái phiếu sẽ ngày càng phát triển, đặc biệt sau khi TTTP chuyên biệt
đã chính thức đi vào hoạt động.
Tham gia vào TTTP từ tháng 6 năm 2008 nhưng CTCK Thăng Long đã
gặt hái được khá nhiều thành công, đóng góp một phần lợi nhuận không nhỏ cho
công ty. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh trái phiếu tại TLS còn nhiều hạn chế
và vẫn chưa phát triển do quy mô hoạt động kinh doanh nhỏ, phương thức đầu
tư còn đơn điệu và mang tính rủi ro cao. Nhận thức rõ vai trò của việc phát triển
hoạt động kinh doanh trái phiếu trong tương lai nên đề tài: “Phát triển hoạt
động kinh doanh trái phiếu tại Công ty cổ phần Chứng khoán Thăng Long” đã
được chọn để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh trái
phiếu tại CTCK và phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại CTCK.
ĐỘNG KINH DOANH TRÁI PHIẾU TẠI CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN
1.1. Tổng quan về hoạt động kinh doanh trái phiếu tại Công ty chứng
khoán
1.1.1. Hoạt động cơ bản của Công ty chứng khoán
1.1.1.1. Khái niệm về Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt được hình
thành trong thời kỳ phát triển cao của nền kinh tế. Tại Việt Nam, Theo điều 65,
66 Nghị định 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ về chứng khoán và TTCK Công
ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được
UBCKNN cấp Giấy phép thành lập để hoạt động kinh doanh, dịch vụ chứng
khoán đáp ứng đủ các yêu cầu sau:
- Có phương án kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã
hội và phát triển ngành chứng khoán.
- Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật cho kinh doanh chứng khoán.
- Giám đốc, Phó giám đốc (Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc), các nhân
viên kinh doanh của CTCK phải đáp ứng đủ điều kiện để được cấp chứng chỉ
hành nghề kinh doanh chứng khoán do ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp.
- Giấy phép bảo lãnh phát hành chỉ được cấp cho công ty có Giấy phép tự
doanh.
- Có mức vốn pháp định theo từng loại hình kinh doanh sau: Đối với
nghiệp vụ môi giới chứng khoán cần số vốn tối thiểu là 25 tỷ đồng; Đối với
nghiệp vụ tự doanh chứng khoán cần vốn tối thiểu là 100 tỷ; Đối với hoạt động
nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành chứng khoán cần số vốn tối thiểu là 165 tỷ và số
vốn tối thiểu cho hoạt động tư vấn là 10 tỷ - Theo Nghị định số 14/2007, quy
định về vốn đối với các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK và quản lý quỹ
Như vậy số vốn tối thiểu để một CTCK hoạt động ở tất cả các nghiệp vụ
là 300 tỷ đồng.
4
Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2009, ở Việt Nam hiện nay có tất cả 103
mật thông tin tài chính, khả năng chịu đựng rủi ro, kỳ vọng lợi nhuận của từng
khách hàng; Thực hiện nghiệp vụ nhận lệnh giao dịch mua bán chứng khoán
5
niêm yết và OTC; Cung cấp các dịch vụ liên quan đến đăng ký chứng khoán
niêm yết, chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết, đăng ký giao dịch
tập trung, quản lý cổ đông, lưu ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán cho khách
hàng; Chăm sóc khách hàng; Tư vấn cho khách hàng giao dịch chứng khoán;
Thực hiện sửa lỗi theo quy định của HNX và HSX.
• Hoạt động tự doanh
Ngoài tư cách là môi giới chứng khoán, CTCK có thể sử dụng nguồn vốn
của mình để tham gia kinh doanh chứng khoán như một tổ chức độc lập trên thị
trường nhằm thu được lợi nhuận về cho CTCK. Hoạt động tự doanh của CTCK
có thể được chia thành hai lĩnh vực thứ nhất là thực hiện việc mua bán chứng
khoán niêm yết cho chính công ty mình, thứ hai là hình thức mua chứng khoán
chưa niêm yết. Ngoài ra CTCK còn mua chứng khoán niêm yết lô lẻ, sau đó sẽ
gộp thành lô chẵn để bán lại trên Sở giao dịch chứng khoán. Đây cũng là hoạt
động mang lại lợi nhuận cho CTCK bởi giá mua lô lẻ là giá thỏa thuận giữa
CTCK và nhà đầu tư nên CTCK có thể chủ động đưa ra mức giá thỏa thuận để
vừa có thể tìm kiếm lợi nhuận vừa có thể thu hút khách hàng. Phần lớn doanh
thu của CTCK thường là từ hoạt động tự doanh.
• Hoạt động phân tích và tư vấn đầu tư chứng khoán
Ở lĩnh vực này đòi hỏi các CTCK phải có các chuyên gia phân tích để đưa
ra sản phẩm là các báo cáo phân tích cơ bản như phân tích ngành, phân tích
công ty chuyên sâu đồng thời nghiên cứu thị trường hàng ngày hoặc hàng tuần
hoặc báo cáo về triển vọng của thị trường. Đây là những sản phẩm đòi hỏi sự
nghiên cứu chuyên sâu của các chuyên gia. Những sản phẩm này có thể được
thực hiện theo Hợp đồng hợp tác với các tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài
nước hoặc có thể là sản phẩm đặc trưng của một CTCK nhằm nâng cao vị thế
trên thị trường.
• Hoạt động tư vấn doanh nghiệp
+ Kết hợp với hoạt động môi giới, các CTCK có thể cung cấp cho khách
hàng nguồn vốn để đầu tư chứng khoán với tài sản đảm bảo bằng chính những
cổ phiếu của khách hàng. Những cổ phiếu này sẽ bị phong tỏa bởi CTCK và sẽ
được giải tỏa khi khách hàng trả tiền về cho CTCK hoặc khi khách hàng bán
chứng khoán bị phong tỏa, khi đó CTCK sẽ tự động thu phần vốn đã hợp tác
cùng với khách hàng. Nghiệp vụ này áp dụng đối với cả chứng khoán niêm yết
và chứng khoán OTC.
+ Song song với việc cân đối toàn bộ nguồn vốn hoạt động trong CTCK,
một số công ty có bộ phận nguồn vốn trực tiếp tham gia hoạt động kinh doanh
trái phiếu căn cứ vào tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp và tình hình thị
trường. Một số CTCK khác kết hợp với một hoặc nhiều ngân hàng để cung cấp
7
các dịch vụ cho khách hàng như hoạt động ứng trước tiền mua chứng khoán,
hợp tác đầu tư chứng khoán với khách hàng. Khi đó ngân hàng trực tiếp đứng ra
ký kết hợp đồng và thu tiền của khách hàng, CTCK chỉ là trung gian và hưởng
phần trăm hoa hồng.
1.1.2. Hoạt động kinh doanh trái phiếu tại công ty chứng khoán
Hoạt động kinh doanh trái phiếu của CTCK được hiểu là việc CTCK thực
hiện hoạt động môi giới trái phiếu cho khách hàng hoặc tự doanh trái phiếu hoặc
cả hai để từ đó thu phí giao dịch, hoa hồng, trái tức hoặc chênh lệch giữa giá
mua và giá bán nhằm mang lại lợi nhuận về cho CTCK.
Để hiểu rõ về hoạt động kinh doanh trái phiếu ta cần làm rõ các khái niệm
xung quanh trái phiếu:
1.1.2.1. Khái quát về trái phiếu
- Trái phiếu là một loại giấy hứa trả tiền dài hạn, do người đi vay phát
hành, hứa sẽ trả tiền cho người nắm giữ trái phiếu một khoản lãi cố định được
xác định trước mỗi năm. Trái chủ là người cho nhà phát hành vay và họ không
chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả và sử dụng vốn của người vay. Nhà phát
hành có nghĩa vụ phải thanh toán theo các cam kết nợ được xác định trong hợp
đồng vay. Trường hợp nếu một công ty không hoàn trả được lãi cho trái phiếu,
trong thu nhập quá khứ, quy mô công ty và việc ít sử dụng nợ thứ cấp.
1.1.2.2. Các hình thức kinh doanh trái phiếu tại công ty chứng khoán
a, Căn cứ vào công cụ đầu tư:
Trái phiếu được chia thành hai loại chính: TPCP và trái phiếu công ty
tương ứng hoạt động kinh doanh trái phiếu được chia thành kinh doanh TPCP
(TPCP và TPCQĐP, trái phiếu kho bạc, và trái phiếu đô thị) và kinh doanh
TPDN hay trái phiếu công ty.
Việc phân loại hoạt động kinh doanh trái phiếu theo công cụ đầu tư có thể
giúp các nhà quản lý xây dựng danh mục đầu tư với mức độ rủi ro phù hợp, trên
cơ sở đó dễ dàng thay đổi kết cấu danh mục đầu tư. Đầu tư vào TPCP được coi
là có rủi ro thấp nhất do được đảm bảo khả năng trả nợ của Chính phủ. Không
những vậy, TPCP còn có khả năng thanh khoản cao, dễ dàng chuyển thành tiền
mặt. Trái phiếu công ty cũng có rủi ro thấp nhưng vẫn phụ thuộc vào tình hình
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đầu tư kinh doanh trái phiếu công ty
còn có thể được phân chia thành đầu tư vào trái phiếu thế chấp (trái phiếu có bảo
đảm bằng một lượng tài sản tương ứng ký thác tại cơ quan để đảm bảo chắc
chắn khả năng hoàn trả của trái phiếu) và loại trái phiếu công ty có tính rủi ro
cao hơn là đầu tư vào trái phiếu tín chấp hay trái phiếu không có bảo đảm, loại
trái phiếu này chỉ có thể được mua khi tổ chức phát hành là các công ty lớn, có
uy tín danh tiếng trên thị trường.
Dù đầu tư vào TPCP hay TPDN thì hoạt động kinh doanh trái phiếu là
khá an toàn bởi dòng tiền cố định mà nhà đầu tư được nhận đã ấn định từ khi
9
phát hành trái phiếu chứ không phụ thuộc vào tình hình hoạt động cũng như kế
hoạch phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp.
b, Căn cứ vào nguồn vốn và trách nhiệm của công ty
Hoạt động kinh doanh trái phiếu của CTCK được chia thành hoạt động tự
doanh trái phiếu và môi giới giao dịch trái phiếu cho khách hàng.
• Tự doanh trái phiếu là hoạt động CTCK sử dụng nguồn vốn của mình để
kinh doanh trái phiếu trên thị trường. Khi đó, khác với tổ chức trung gian,
trái phiếu chuyên biệt chính thức đi vào hoạt động, chỉ có các CTCK thành
viên mới có chức năng giao dịch môi giới cho khách hàng ngoài hoạt động tự
doanh của mình, các NHTM – thành viên đặc biệt chỉ có thể giao dịch tự doanh
và các CTCK không phải là thành viên hệ thống TPCP chuyên biệt sẽ phải đặt
lệch qua các CTCK thành viên.
c, Căn cứ vào mục tiêu kinh doanh:
Căn cứ theo tiêu thức này có thể chia hoạt động kinh doanh trái phiếu
thành ba loại là kinh doanh đầu tư hưởng lợi, kinh doanh đầu tư phòng vệ và nhà
tạo lập thị trường.
• Kinh doanh đầu tư hưởng lợi: Hoạt động này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh đầu tư trái phiếu có thể có từ trái tức
được phân phối hàng năm và từ chênh lệch giá khi bán trái phiếu. Hoạt
động kinh doanh đầu tư hưởng lợi còn có thể chia thành hoạt động đầu cơ,
kinh doanh chênh lệch giá và kinh doanh xuống giá.
+ Đầu cơ trái phiếu: Là hoạt động đầu tư trái phiếu nhằm tìm kiếm lợi
nhuận từ trái tức và chênh lệch giá trong dài hạn. Hoạt động đầu cơ làm cho trái
phiếu trở nên khan hiếm và giá trái phiếu tăng khi đó nhà đầu cơ có thể kiếm
được lợi từ việc tăng giá trái phiếu.
+ Kinh doanh chênh lệch giá: Là hoạt động mua bán trái phiếu nhằm tìm
kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn từ chênh lệch giá mua và giá bán. Giá chênh lệch
có thể do địa điểm mua bán khi tỷ giá giữa hai đồng tiền tại hai khu vực khác
nhau hoặc khi CTCK tìm được người có nhu cầu bán và người có nhu cầu mua
trái phiếu mà giá mua cao hơn giá bán khi đó CTCK sẽ là trung gian để hưởng
chênh lệch này.
+ Kinh doanh giảm giá: Là hoạt động kinh doanh đầu tư hưởng lợi khi có
hiện tượng giảm giá trái phiếu. Khi dự báo lãi suất tăng, CTCK sẽ bán trái phiếu
để chờ giá trái phiếu giảm xuống và mua lại. Trường hợp đặc biệt của hoạt động
kinh doanh giảm giá trái phiếu là bán khống. Khi đó, CTCK sẽ vay trái phiếu
của nhà tạo lập thị trường để bán khống lượng trái phiếu đó khi lãi suất thị
trường có xu hướng tăng lên trong tương lai làm giá trái phiếu giảm và mua lại
+ Hoạt động tự doanh: Khác với tự doanh trái phiếu tại các CTCK khoán
khác, công ty có thể mua hoặc không mua, có thể bán hết lượng trái phiếu mình
nắm giữ nếu cần. Còn hoạt động tự doanh của CTCK với tư cách là nhà tạo lập
thị trường thì CTCK luôn phải nắm giữ một lượng nhất định trái phiếu đủ lớn để
sẵn sàng bán khi có nhu cầu đặt mua đồng thời phải dự trữ ngân quỹ khi nhà đầu
tư có yêu cầu bán. Khi đó CTCK với vai trò là nhà tạo lập thị trường đồng thời
thực hiện quản lý ngân quỹ và đầu tư.
+ Hoạt động môi giới hay đại lý (tổ chức trung gian): Không chỉ đứng ra
thay mặt khách hàng thực hiện giao dịch và hưởng hoa hồng giống như các
12
thành viên giao dịch khác, với tư cách là nhà tạo lập thị trường, khi lệnh đặt mua
đến nhưng nhà tạo lập TTTP không đủ số trái phiếu đặt mua trong tài khoản của
mình hoặc lệnh đặt bán đến nhưng nhà tạo lập thị trường không đủ khả năng để
mua toàn bộ lượng trái phiếu đặt bán của khách hàng thì khi đó nhà tạo lập thị
trường sẽ phải tìm một lệnh đối ứng khác thỏa mãn toàn bộ hoặc một phần khối
lượng đặt mua của khách hàng đặt ra bằng cách tìm đến một nhà tạo lập thị
trường khác.
Việc phân loại hoạt động kinh doanh trái phiếu theo hình thức này có thể
giúp nhà quản trị CTCK kiểm soát được lượng tiền sử dụng cho hoạt động kinh
doanh trái phiếu theo các hình thức đã được xác định.
1.1.2.3. Quản lý danh mục đầu tư trái phiếu
Hiện nay, hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán nói chung và
trái phiếu nói riêng là một công cụ hữu hiệu không chỉ cho các nhà đầu tư tổ
chức mà còn cho cả các nhà đầu tư cá nhân. Như vậy, hoạt động quản lý danh
mục đầu tư trái phiếu là nhu cầu quản lý danh mục đầu tư trái phiếu trong kho tự
doanh của CTCK, trong kho đối với CTCK là nhà tạo lập TTTP hoặc danh mục
trái phiếu được ủy thác quản lý của các nhà đầu tư. Tiền đầu tư trái phiếu có thể
là tiền tự có của CTCK hoặc tiền ủy thác của các nhà đầu tư trong đó CTCK
cam kết trả thanh toán cho nhà đầu tư với một tỷ lệ lãi và kỳ trả lãi nhất định.
• Vai trò của quản lý danh mục đầu tư trái phiếu
Trên thị trường có nhiều loại trái phiếu có mức độ rủi ro khác nhau. Do
vậy, nhà quản lý danh mục đầu tư thụ động cũng cần phải xem xét hai yếu tố để
quyết định nên đầu tư theo danh mục loại nào. Yếu tố thứ nhất là xác định mức
độ rủi ro thanh toán mà CTCK có thể chấp nhận được. Nếu lựa chọn danh mục
dựa trên chỉ số chứa đựng hoàn toàn trái phiếu công ty thì sẽ phải gặp rủi ro tín
nhiệm hơn là chỉ số TPCP. Nếu mức rủi ro quá cao không thể chấp nhận được
thì tốt nhất không nên dựa vào chỉ số đó để lập danh mục. Vấn đề thứ hai là phải
tuân theo mục tiêu của công ty đề ra. Chẳng hạn lợi suất của các chỉ số có thể
khá đồng đều, song độ biến thiên của chúng lại khác nhau mỗi khi có biến động
lãi suất. Do vậy, nếu mục tiêu của người đầu tư là lựa chọn những danh mục có
biến thiên lợi suất thấp thì cần phải đầu tư theo chỉ số có thời gian đáo hạn bình
quân rất ngắn.
Bước 2: Phương pháp đầu tư:
Khi người quản lý danh mục đầu tư đã quyết định được nên đầu tư theo
chỉ số nào thì bước tiếp theo là phải xây dựng danh mục đầu tư theo phiên bản
của chỉ số đó. Để thực hiện công việc này thì người quản lý có thể tiến hành
theo một số cách sau:
Thứ nhất: Mua tất cả các trái phiếu có trong chỉ số chuẩn mà mình cần
tuân theo, với tỷ trọng đầu tư vào mỗi trái phiếu bằng tỷ trọng trái phiếu đó
CTCK chiếm trong chỉ số chuẩn.
14
Thứ hai: Chỉ mua chọn lọc một số lượng nhất định các trái phiếu trong chỉ
số.
Thứ ba: Phương pháp chia nhỏ, đây là phương pháp phân chia chỉ số theo
các nhóm nhỏ đại diện cho những đặc tính khác nhau của chỉ số.
Thứ tư: Phương pháp tối ưu hóa (optimization approach).Trong phương
pháp này người quản lý danh mục phải xây dựng một danh mục, một mặt ăn
khớp với các nhóm chia nhỏ như phương pháp thứ ba, mặt khác phải tuân theo
một số điều kiện và đồng thời tối ưu các mục tiêu đề ra.
- Chiến lược quản lý bán chủ động
- Chiến lược hoán đổi lãi suất: Chiến lược này được thực hiện theo một số
nguyên tắc sau:
+ Đánh giá hai loại trái phiếu tương đương chất lượng và thời gian đáo
hạn, chuyển từ loại có coupon thấp sang loại có coupon cao nhưng giá lại không
cao hơn nhiều để hy vọng thu được lợi suất cao hơn.
+ Dự đoán mức độ tín nhiệm của một công ty có xu hướng tăng lên,tức
lợi suất đầu tư vào trái phiếu do công ty này phát hành sẽ giảm, do vậy phải mua
ngay loại trái phiếu này và bán loại tương đương không có triển vọng.
- Chiến lược dự đoán lãi suất:
Đây là phương pháp đơn giản nhất của chiến lược quản lý chủ động. Chìa
khóa của phương pháp này là dự đoán được xu hướng biến động của lãi suất
trong tương lai để từ đó xây dựng một danh mục nhạy cảm với sự biến động đó.
Vì thời gian đáo hạn bình quân là đơn vị đo mức nhạy cảm của danh mục tới sự
biến động lãi suất nên người quản lý dự đoán lãi suất sẽ giảm thì cần phải xây
dựng danh mục đầu tư có thời gian đáo hạn bình quân dài và ngược lại.
- Chiến lược dự đoán chênh lệch đường cong lãi suất
Dự đoán chênh lệch đường cong lãi suất có nghĩa là nhà quản lý dự đoán
sự khác nhau trong xu hướng biến động của lãi suất hai kỳ hạn khác nhau của
một loại trái phiếu (hoặc hai trái phiếu tương đương về ngành nghề, chất lượng
và coupon…). Nếu tại một thời điểm nào đó người ta thấy sự biến động lãi suất
của hai loại kỳ hạn diễn ra bất thường (vượt xa ngoài mức biến động bình quân
thường có trong quá khứ) thì người ta dự đoán nó sẽ đổi chiều vào một thời
điểm nào đó trong tương lai từ đó có hiện lượng đầu tư thích hợp.
- Chiến lược đường cong lãi suất
Chiến lược đường cong lãi suất là chiến lược mà người quản lý chỉ cần dự
đoán về mức biến động của lãi suất, tức lãi suất biến động ít hay nhiều mà
không cần dự đoán về xu hướng lãi suất.
Chẳng hạn, một nhà đầu tư dự kiến kỳ đầu tư 5 năm vậy trước hết để
phòng ngừa rủi ro lãi suất, anh ta phải chọn danh mục có thời gian đáo hạn bình
quân bằng 5 theo một trong các cách sau:
- Điều chỉnh và cập nhật. Trong hoạt động đầu tư một danh mục đầu tư
không phải là bất biến mà luôn cần được phân tích và điều chỉnh nhằm
đáp ứng tốt mục tiêu đầu tư và thích ứng với sự biến chuyển không
ngừng của tình hình kinh tế vĩ mô cũng như tình hình kinh doanh của
các doanh nghiệp. Việc điều chỉnh này bao gồm điều chỉnh tỷ trọng đầu
tư vào các tài sản, chấm dứt đầu tư vào một hay nhiều loại tài sản hay
17
bắt đầu đầu tư vào các loại tài sản khác nhau. Tuy nhiên sự điều chỉnh
này phải luôn luôn tuân thủ các mục tiêu đầu tư đã được nêu ra ở các
bước trên.
1.1.2.4. Vai trò của hoạt động kinh doanh trái phiếu tại công ty chứng khoán
Hoạt động kinh doanh trái phiếu ngày càng thể hiện rõ ưu việt của nó
trong thị trường tài chính bởi hoạt động này giúp Tăng tính lỏng và tính sinh lời
của các tài sản đầu tư. Bất kỳ một tổ chức nào khi tiến hành đầu tư cũng phải
bảo đảm được tính thanh khoản của danh mục đầu tư. Tại CTCK, tài khoản
thanh toán của công ty và tài khoản của các nhà đầu tư được tách riêng theo quy
định của UBCKNN để đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư. CTCK cũng là
một nhà đầu tư tham gia vào thị trường tài chính và để đảm bảo tính thanh
khoản của mình, CTCK luôn phải duy trì một khoản mục dự trữ nhất định. Tuy
nhiên, vấn đề đặt ra là mặc dù dự trữ càng nhiều thì thanh khoản càng được bảo
đảm nhưng không sinh lời hoặc sinh lời rất thấp. Trong khi đó một yêu cầu cũng
được đặt ra là phải tăng lợi nhuận. Vì vậy, các CTCK cũng như các tổ chức tài
chính khác như NHTM đã tính tới việc kinh doanh TPCP hoặc trái phiếu công ty
vì chúng có thể mang lại được thu nhập ổn định và có tính thanh khoản cao do
một số loại còn có thể được bán tại hầu hết thị trường tài chính thế giới như trái
phiếu kho bạc Mỹ và các nước Châu Âu,… Bên cạnh đó, các loại trái phiếu còn
có thể được sử dụng để huy động nguồn vốn dễ dàng thông qua các nghiệp vụ
repo trái phiếu. Đây là nghiệp vụ khá phát triển và là tài sản thế chấp có tính rủi
ro rất thấp do trái phiếu là tài sản đảm bảo chắc chắn bởi chính phủ hoặc là tài
sản nợ của các doanh nghiệp phát hành nên các tổ chức tín dụng rất ưa dùng.
chất và lượng trong hoạt động kinh doanh trái phiếu. Đó sẽ là sự thay đổi trên
các mặt sau:
- Gia tăng quy mô kinh doanh trái phiếu trên cơ sở gia tăng quy mô trái
phiếu trong danh mục kinh doanh hoặc gia tăng loại trái phiếu kinh doanh hoặc
cả hai.
- Tăng hiệu quả và chất lượng kinh doanh nhằm tăng doanh thu, giảm rủi
ro trong kinh doanh trái phiếu từ đó gia tăng lợi nhuận. Để tăng hiệu quả và chất
lượng kinh doanh, CTCK cần gia tăng số lượng và chất lượng cán bộ quản lý và
cán bộ nhân viên đáp ứng nhu cầu công việc bên cạnh đó cần nâng cao tính
chuyên nghiệp trong hoạt động kinh doanh trái phiếu trên cơ sở chuẩn hóa quy
trình kinh doanh trái phiếu, phát triển hệ thống trang thiết bị phục vụ cho hoạt
động kinh doanh.
- Tăng giá trị đầu tư thể hiện qua việc tăng lên về số lượng tiền đầu tư vào
kinh doanh trái phiếu như vậy danh mục kinh doanh và số lượng trái phiếu cũng
tăng lên tương ứng.
- Gia tăng thị phần giao dịch trong hoạt động kinh doanh trái phiếu.
19
- Đa dạng hóa phương thức kinh doanh: CTCK không chỉ tham gia hoạt
động môi giới trái phiếu mà còn tham gia tự doanh trái phiếu hay kinh doanh
đầu tư hưởng lợi, kinh doanh đầu tư phòng vệ từ đó tiến tới trở thành nhà tạo lập
thị trường.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá mức phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu
của công ty chứng khoán
Đánh giá sự phát triển của hoạt động đầu tư trái phiếu cần sử dụng các chỉ
tiêu sau:
1.2.2.1. Các chỉ tiêu định tính
- Tính đa dạng của hoạt động kinh doanh trái phiếu thể hiện qua việc
CTCK thực hiện kinh doanh các loại trái phiếu khác nhau với nhiều kỳ hạn khác
nhau, hay nhiều mảng thị trường khác nhau. Công ty có thể đầu tư vào TPCP
hay trái phiếu công ty hay đầu tư vào các công cụ phái sinh để giảm thiểu rủi ro
chức hoạt động kinh doanh trái phiếu trong công ty, hệ thống trang thiết bị phục
vụ cho hoạt động kinh doanh trái phiếu và khả năng kinh doanh của các cán bộ
tham gia trực tiếp kinh doanh trái phiếu. Đánh giá khả năng của cán bộ nhân
viên phụ thuộc vào chuyên môn và độ nhạy bén cao khi tham gia hoạt động kinh
doanh trái phiếu.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
- Chỉ tiêu về mức tăng doanh thu kinh doanh
Để đánh giá mức độ tăng trưởng về doanh thu kinh doanh người ta thường
so sánh so với năm trước (kỳ trước):
Mức tăng doanh thu từ
hoạt động kinh doanh
=
Chênh lệch doanh thu kinh
doanh năm nay (kỳ này)
Doanh thu kinh doanh năm trước
(kỳ trước)
x 100%
Trong đó chênh lệch doanh thu kinh doanh năm nay (kỳ này) và năm
trước (kỳ trước) được tính như sau:
Chênh lệch doanh thu kinh
doanh năm nay (kỳ này)
=
Doanh thu kinh
doanh năm nay (kỳ
này)
-
Doanh thu kinh
doanh năm trước
(kỳ trước)
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bao gồm phí, hoa hồng, trái tức và
Vốn
x 100%
Trong đó,
Lợi nhuận từ hoạt động kinh
doanh
=
Doanh thu từ hoạt
động kinh doanh
-
Chi phí từ hoạt
động kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận càng cao chứng tỏ hoạt động kinh doanh càng hiệu quả.
Thông thường chỉ tiêu này được sử dụng để so sánh với các chỉ tiêu: chi phí cơ
hội của vốn kinh doanh, chi phí lãi vay...
- Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng của tỷ suất lợi nhuận trên vốn
Tỷ suất lợi nhuận trên
vốn
=
Tỷ suất lợi nhuận
năm nay
–
Tỷ suất lợi nhuận
năm trước
Vốn
x 100%
Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng của tỷ suất lợi nhuận hoạt động kinh doanh
được đánh giá theo từng giai đoạn cụ thể. Trong giai đoạn hoạt động kinh doanh
đang phát triển thì chỉ tiêu này cần duy trì ở mức cao và tỷ lệ này sẽ thấp khi tỷ
suất lợi nhuận đạt mức ổn định.
mạnh hệ thống broker nhằm lôi kéo khách hàng trên cơ sở chia sẻ lợi nhuận …
từ đó với khối lượng và giá trị giao dịch lớn, CTCK sẽ nâng thị phần môi giới
trên thị trường. Với một ban lãnh đạo quan tâm và chú trọng tới hoạt động phát
triển bền vững, họ sẽ đặt cao mục tiêu kinh doanh trái phiếu bên cạnh việc phát
triển các hoạt động thu nhiều lợi nhuận nhưng rủi ro cao. Từ đó, họ sẽ đầu tư
một lượng vốn đáng kể cho hoạt động này, tuyển nhân sự đào tạo nhân viên có
chuyên môn cao, đầu tư một cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, từ đó thúc đẩy hoạt
động kinh doanh trái phiếu phát triển và ngược lại, khi không quan tâm tới hoạt
động này, ban lãnh đạo sẽ không đầu tư thời gian và vốn cũng như công nghệ
phát triển, từ đó hoạt động kinh doanh trái phiếu của công ty sẽ bị bỏ ngỏ hoặc
mảng hoạt động kinh doanh trái phiếu sẽ chỉ là một hoạt động rất nhỏ nhằm đa
dạng hóa loại hình đầu tư của CTCK mà không được chú trọng phát triển. Như
vậy, không có nguồn vốn, không có sự quan tâm của ban lãnh đạo, không có sự
đầu tư nhân sự và kỹ thuật, hoạt động KDTP cũng không thể phát triển.
23
1.3.1.2. Cơ cấu tổ chức của công ty
Với một cơ cấu hoạt động trong CTCK không hiệu quả, các bộ phận
không có sự phối hợp chặt chẽ sẽ làm cho hoạt động kinh doanh trái phiếu kém
hiệu quả. Hoạt động này đòi hỏi sự phân tích tổng hợp về tình hình thị trường,
tình hình kinh tế vĩ mô cũng như ảnh hưởng của các chính sách tài chính tiền tệ,
vì vậy, mọi thông tin đều quan trọng và tác động tới TTCK nói chung và TTTP
nói riêng. Vì vậy, nếu không có sự phối kết hợp giữa nhiều phòng ban như
phòng Phân tích và tư vấn đầu tư cổ phiếu, phòng quản trị rủi ro cũng như bộ
phận Môi giới, thì thông tin đến hoạt động kinh doanh trái phiếu là không đầy
đủ từ đó sẽ giảm hiệu quả kinh doanh.
Bên cạnh đó, theo kinh nghiệm của các nước phát triển hoạt động kinh
doanh trái phiếu là một mảng lớn không nhỏ hơn thị trường cổ phiếu vì vậy để
phát triển hoạt động này, cần phải có, một bộ phận chuyên biệt, một đội ngũ cán
bộ chuyên gia giỏi chuyên trách từ đó mới có thể phân tích xu thế, quản lý danh
mục kinh doanh trái phiếu và phát triển mảng hoạt động môi giới trái phiếu. Có
tới hoạt động của thị trường, hoặc bán khống, mua bán nội gián, thông tin sai sự
thật, tham gia hoạt động tín dụng và cho vay trái phiếu, lũng đoạn thị trường.
Như vậy sẽ làm ảnh hưởng tới hình ảnh của CTCK thậm chí gây phương hại tới
nền kinh tế của đất nước.
1.3.1.4. Quy mô vốn cho hoạt động kinh doanh trái phiếu
Với hoạt động môi giới trái phiếu, CTCK chỉ là trung gian giao dịch giữa
người mua và người bán khi đó chỉ cần CTCK là thành viên giao dịch TPCP.
Trong hoạt động tự doanh trái phiếu hay với tư cách là nhà tạo lập thị trường,
CTCK luôn phải đặt yếu tố vốn sử dụng cho hoạt động kinh doanh là tiêu chí
đầu tiên cần phải xem xét khi phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu.
Khối lượng và giá trị của mỗi lần giao dịch trái phiếu thường trên 10 tỷ, là
rất lớn so với một lần giao dịch cổ phiếu hay các hàng hóa khác, do vậy với khả
năng tài chính mạnh mẽ CTCK có thể mua bán nhiều loại trái phiếu khác nhau,
tham gia vào nhiều giao dịch hơn từ đó sẽ không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh tạo
nên vị thế trên TTTP.
Trường hợp, CTCK muốn trở thành nhà tạo lập thị trường thì cũng phải
đáp ứng đủ các yêu cầu về vốn cho không chỉ khoản đặt cọc tại cơ quan quản lý
thị trường mà trong quá trình hoạt động quy mô vốn lớn sẽ hạn chế rủi ro vỡ nợ
khi tổ chức phát hành phá sản, nhà tạo lập thị trường đối với trái phiếu đó không
chỉ chịu tác động trực tiếp đến số trái phiếu còn trong kho của mình mà còn chịu
trách nhiệm đối với trái phiếu đã bán cho khách hàng và những trái phiếu đã
mua vào trong danh mục đầu tư mà khách hàng nhờ quản lý.
Bên cạnh đó, nếu nguồn vốn dùng cho kinh doanh trái phiếu là đi vay, khi
hoạt động quản lý nguồn vốn là yếu kém, kỳ hạn trái phiếu không khớp với kỳ
hạn nguồn vốn, món vay không gia hạn được, CTCK có thể bị mất thanh khoản
và có thể dẫn đến rủi ro vỡ nợ. Như vậy, việc có một khoản vốn lớn hoặc một
25
chỗ dựa tài chính vững chắc là rất cần thiết đối với hoạt động kinh doanh trái
phiếu.
1.3.1.5. Các nhân tố khác
• Hệ thống thông tin