HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM - Pdf 76

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT
NAM
I. Sự cần thiết của việc hình thành các Quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt
Nam
Trên con đường hội nhập và phát triển, Việt Nam đang đứng trước một
đòi hỏi rất lớn về vốn đầu tư xã hội trong khi thị trường tài chính thì chưa
hoàn thiện còn thị trường vốn vẫn còn sơ khai. Trong khi đó, những người dân
đang nắm trong tay một số lượng tiền nhàn rỗi lớn lại tỏ ra không mấy mặn
mà với việc đầu tư. Họ thường chọn các phương pháp để dành phi kinh tế như
lấy tiền mặt để đi mua vàng, USD, bất động sản… những thứ mà họ có thể
kiểm soát được. Nếu có đầu tư thì chủ yếu họ sẽ đầu tư vào lĩnh vực thương
mại, dịch vụ chứ không phải sản xuất. Theo như kết quả điều tra cho thấy,
hiện nay lượng vốn nhàn rỗi trong dân cư là khoảng hơn 4 - 6 tỷ USD, chiếm
tới 40% - 50% khối lượng tiền mặt trong lưu thông. Thế nhưng phần đông
công chúng khi có tiền dư thường gửi tiết kiệm ở ngân hàng, ở Hà Nội là 53%,
TP Hồ Chí Minh là 30%, hiện nay số dư tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ của dân cư
khoảng 4 tỷ USD. Số những người cất tiền ở nhà là 15%
1)
. Ngoài ra một bộ
phận rất lớn công chúng đầu tư vào bất động sản, gây nên những cơn sốt nhà
đất hoặc nếu chưa tìm được phương án đầu tư hợp lý thì đưa tiền vào tiêu
dùng. Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nói
riêng đang đứng trước tình trạng thiếu vốn gay gắt. Khả năng huy động vốn
của các doanh nghiệp vẫn còn rất thấp, phương pháp huy động vốn nghèo nàn
chủ yếu trông chờ từ vốn ngân sách và các khoản tín dụng ưu đãi từ ngân
hàng. Kể từ khi Luật doanh nghiệp ra đời đã tạo ra môi trường hoạt động
thông thoáng cho các doanh nghiệp nhưng mức độ phát triển còn nhiều hạn
chế, quy mô còn nhỏ, chủ yếu dựa vào nguồn vốn tự có và các khoản vay qua
1

đóng) thường được các chính phủ cho phép tham gia đầu tư trước khi thị
trường chứng khoán được mở cửa cho những người đầu tư trực tiếp.
2
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
Quỹ đầu tư đóng góp vào sự phát triển thị trường vốn. Những người quản
lý thường mang theo mình những kỹ năng điều hành và phân tích đầu tư
chuyên nghiệp. Người quản lý quỹ thường đòi hỏi những chuẩn mực cao trong
hoạt động lưu ký, thanh toán bù trừ, công bố thông tin và giám sát thị trường.
Kết quả là cơ sở thị trường được củng cố vững chắc.
Quỹ cung cấp các phương tiện đầu tư đa dạng. Trước sự phát triển của
nền kinh tế cùng với mức độ tích luỹ tài sản tài chính, người đầu tư có xu
hướng phát sinh nhu cầu về các phương tiện đầu tư tài chính đa dạng. Để đáp
ứng nhu cầu này, các công ty quản lý quỹ đầu tư phát triển những sản phẩm
đầu tư tài chính đa dạng và linh hoạt về thời gian đáo hạn, tính sinh lợi và mức
độ an toàn. Sự đa dạng và linh hoạt của các phương tiện đầu tư này giúp cho
việc huy động nguồn vốn trong xã hội trở nên triệt để hơn.
Chứng chỉ quỹ làm tăng tính thanh khoản của thị trường. Sự tham gia của
những nguồn vốn mới từ bên ngoài vào một thị trường chứng khoán thường
làm tăng mức cầu về chứng khoán, gia tăng tính thanh khoản của các chứng
khoán và như vậy sẽ thu hút được các nhà đầu tư Việt Nam mà cho đến nay
chỉ quen giữ hoặc gửi tiền của mình vào các tài khoản tiết kiệm ở ngân hàng
và nhờ đó các doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách dễ dàng hơn.
Ngoài ra, Quỹ đầu tư chứng khoán còn cung cấp cơ hội cho nhà đầu tư vươn
ra thị trường nước ngoài hoặc tái đầu tư khoản cổ tức và thặng dư vốn vào
quỹ.
Sự hiện diện của các Quỹ đầu tư kích thích tăng trưởng đối với các doanh
nghiệp. Các quỹ cung cấp những nguồn vốn rủi ro cao và kỹ năng quản lý
khoa học, đem lại những cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao.

- Việc cho phép người nước ngoài đầu tư thông qua Quỹ đầu tư có thể
giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực có thể phát sinh nếu mở cửa thị trường
cho người nước ngoài đầu tư trực tiếp ngay trong giai đoạn đầu. Những ảnh
4
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
hưởng tiêu cực này có thể là việc người nước ngoài thâu tóm quyền kiểm soát
công ty, hay sự rối loạn trên thị trường chứng khoán do sự dịch chuyển đột
biến của các luồng tài chính. Thêm vào đó, trước sự giảm sút của nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thì việc cho phép đầu tư gián tiếp
của nước ngoài thông qua các Quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán có thể
được coi là một giải pháp hữu hiệu tăng cường khả năng thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, đồng thời là bước đi phù hợp của Việt Nam trong việc tiếp cận thị
trường vốn quốc tế. Quỹ đầu tư là phương tiện thuận tiện, đơn giản và linh
hoạt cho phép người nước ngoài đóng góp và tham gia vào sự tăng trưởng của
nền kinh tế Việt Nam.
Tóm lại, trong điều kiện hiện nay sự ra đời và hoạt động của các quỹ đầu
tư chứng khoán là một tất yếu khách quan quyết định đến sự ra đời và vận
hành của thị trường chứng khoán, góp phần tạo lập thị trường vốn, mở ra một
kênh huy động vốn trung - dài hạn phục vụ cho yêu cầu công nghiệp hoá, hiện
đại hoá và phát triển đất nước.
II. Quỹ đầu tư theo quy chế của Việt Nam
Sau khi có các cơ sở pháp lý về thị trường chứng khoán tại Việt Nam, cụ
thể là sau khi Nghị định 48/1998/NĐ-CP, cùng với một số văn kiện quan trọng
khác, Uỷ ban chứng khoán nhà nước Việt Nam (SSC) đã ban hành quy định
Quy chế về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty
quản lý quỹ. Mới đây, vào ngày 28/11/2003, Nghị định 144 về chứng khoán
và thị trường chứng khoán ra đời, thay thế hoàn toàn cho Nghị định 48. Về cơ
bản, những quy định về Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ trong
Nghị định 144 vẫn chưa có gì thay đổi so với Nghị định 48.

đã biết. Đối với Quỹ mở, công ty quản lý quỹ phải thường xuyên duy trì tỷ lệ
tài sản lưu hoạt ghi trong điều lệ quỹ. Tài sản lưu hoạt là phần tài sản có của
quỹ bao gồm tiền mặt và các tài sản khác có khả năng chuyển đổi thành tiền
mặt trong 15 ngày. Tỷ lệ này tối thiểu phải bằng 20% tổng giá trị tài sản của quỹ.
6
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
Tham gia trong quá trình hoạt động của quỹ chủ yếu có công ty quản lý
quỹ và ngân hàng giám sát. Công ty quản lý quỹ đứng ra quản lý quỹ, phát
hành chứng chỉ đầu tư, cử người điều hành, quản lý hoạt động và chịu trách
nhiệm về hiệu quả và pháp lý của quỹ. Ngân hàng giám sát đảm nhận việc bảo
quản, lưu ký các chứng khoán mà quỹ nắm giữ để kinh doanh, lưu giữ các hợp
đồng kinh tế, các chứng từ có liên quan tới tài sản của quỹ, đồng thời giám sát
hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ. Thành viên
hội đồng quản trị công ty quản lý quỹ, người điều hành công ty quản lý quỹ và
những người điều hành quỹ không được là cổ đông của ngân hàng giám sát.
Theo nội dung của quy chế, công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư là hai
thực thể được cơ cấu và tổ chức khác nhau. Công ty quản lý quỹ cùng lúc có
thể khai sinh và quản lý nhiều quỹ độc lập nhau, đồng thời có sự độc lập cả về
tài sản, các nghĩa vụ tài chính giữa công ty quản lý quỹ và một Quỹ đầu tư nào
đó. Người điều hành quỹ là người được công ty quản lý quỹ chỉ định để trực
tiếp điều hành hoạt động của một quỹ. Trong khi công ty quản lý quỹ được tổ
chức và hoạt động như một doanh nghiệp, có đầy đủ tư cách pháp nhân, có hội
đồng quản trị và hệ thống hành chính nhân sự… thì Quỹ đầu tư là một tập hợp
có điều lệ và tài sản độc lập nhưng không có bộ máy điều hành riêng gắn trực
tiếp với nó. Quỹ đầu tư không là pháp nhân mà chỉ có đại hội những người
đầu tư do công ty quản lý quỹ hoặc ngân hàng giám sát triệu tập có điều kiện
và tuỳ thuộc vào tình huống được nêu trong quy chế. Các Quỹ đầu tư khi được
tổ chức theo SSC thì thực chất có thể xem là các sản phẩm của công ty quản lý
quỹ đầu tư. Tuy nhiên, theo định nghĩa của quy chế, chúng lại được xem là tài

các Quỹ đầu tư trong quá trình hoạt động. Mục tiêu của các quỹ là hỗ trợ cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mà hầu hết các doanh nghiệp này đều có mức
vốn dưới 10 tỷ VND. Điều này dẫn đến tỷ lệ vốn đầu tư vào một doanh nghiệp
trên tổng nguồn vốn của quỹ là quá thấp và cũng vì vậy mà quỹ đầu tư vào
8
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
nhiều doanh nghiệp khác nhau. Kết quả là chi phí quản lý cao, dẫn đến các
công ty sẽ thu được lãi thấp.
Về việc giải thể của quỹ. Quỹ chỉ được giải thể trong trường hợp kết thúc
thời hạn hoạt động ghi trong điều lệ quỹ, hoặc trong trường hợp phải giải thể
quỹ nhằm bảo vệ lợi ích người đầu tư. Việc giải thể phải xin phép Uỷ ban
chứng khoán nhà nước và chỉ được chấp thuận khi phương án giải thể quỹ phù
hợp với quyền lợi người đầu tư. Trong trường hợp công ty quản lý quỹ phá
sản, tài sản thuộc quỹ là của người đầu tư và không được tính là tài sản của
công ty quản lý quỹ. Không ai được sử dụng vốn hay tài sản của của quỹ để
thanh toán những khoản nợ của công ty quản lý quỹ.
Tóm lại, mặc dù quy chế công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư còn quy định
nhiều điều bất cập nhưng sự ra đời của nó mang một ý nghĩa rất lớn, là một
cột mốc quan trọng và là sự quyết tâm lớn của Uỷ ban chứng khoán nhà nước
Việt Nam. Ý nghĩa của nó thể hiện ở chỗ nó thúc đẩy hoạt động đầu tư tài
chính nước nhà vào buổi đầu còn bỡ ngỡ, nhất là quá trình cổ phần hoá, hợp
nhất các định chế về mặt luật cho các loại công ty và đặc biệt là sự hình thành
của thị trường chứng khoán.
III. Đánh giá chung về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt
Nam
Sau khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, đặc biệt là kể từ khi Luật
đầu tư nước ngoài được ban hành vào tháng 2 năm 1998, hàng loạt công ty
đầu tư nước ngoài đã bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam. Cùng với làn sóng đầu tư
đó, trước năm 1993 khi có thông tin về sự hình thành của thị trường chứng

Giá cổ phiếu
(USD)
Mức Premium/
Discount
TTCK
Dạng quỹ
Vietnam Fund
75 15 + 40.6% Dublin Đóng
Vietnam Keppel Fund
12.5 - - - Đóng
Beta Vietnam Fund
68.3 52.5 + 4.6% Dublin Đóng
Vietnam Frontier Fund
27.5 5.5 +10.2% Dublin Đóng
10
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
Vietnam Lazard Fund
58.8 - - - Đóng
Templeton Vietnam Fund
117 - + 6.1% NYSE Đóng
Tất cả các quỹ trên nhìn chung đều được gọi là các Quỹ nội địa vì tất cả
vốn của chúng đều được đầu tư vào một quốc gia riêng lẻ. Phương pháp đầu tư
thông thường của các quỹ là mua cổ phiếu của các công ty không được niêm
yết, các công ty được cổ phần hoá hay tham gia vào sự hình thành của các
công ty mới như là những cổ đông sáng lập. Do ở Việt Nam vào năm 1993,
1994 không có thị trường chứng khoán nên các Quỹ đầu tư không có sự lựa
chọn nào hơn là đầu tư vào những công ty không niêm yết. Vì vậy, sự thành
thạo chuyên môn của họ trong việc điều hành các danh mục đầu tư bị hạn chế
và các quỹ buộc phải đầu tư vào những công ty không được niêm yết một cách

Trong thực tế, mỗi quỹ phải xem xét 300 tới 400 dự án để chọn ra khoảng 30
dự án làm thành một danh sách đầu tư tiềm năng. Từ danh sách này, hội đồng
quản trị của quỹ sẽ lựa chọn ra khoảng 15 đến 20 dự án để đầu tư.
Với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường, một vài quỹ đã điều chỉnh cả những
quy định của thể chế tài chính để có thể đầu tư vào các công ty tiềm năng trên
thị trường Việt Nam. Khi chưa có những văn bản luật nào cho phép sự tham
gia của nhà đầu tư nước ngoài vào ngân hàng địa phương, các quỹ đã táo bạo
đầu tư vào những ngân hàng cổ phần tư nhân. Nhiều quỹ đã sử dụng thoả
thuận khoản vay có thể chuyển đổi để có thể đầu tư sớm vào ngân hàng ACB,
ngân hàng Maritime hay ngân hàng AP…
Khi đầu tư vào Việt Nam, các quỹ phải đối mặt với nhiều rào cản làm
hạn chế đầu tư. Với hành lang pháp lý còn nhiều bất cập, những hạn chế trong
việc chuyển đổi tiền tệ, rủi ro tỷ giá đi liền với sự quan liêu và gánh nặng hành
chính ở mọi cấp… đã làm giảm giá cổ phiếu của quỹ. Thêm vào đó, khủng
hoảng tài chính khu vực năm 1997 và những hạn chế khác đã ảnh hưởng tới
12

Trích đoạn Vietnam Opportunities Fund
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status