THỰC TRẠNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM - Pdf 76

THỰC TRẠNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG
ĐƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM.
I. Thực trạng bảo hiểm ở Việt Nam.
 Thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Quy mô thị trường ngày càng được mở rộng: từ chỗ chỉ có một doanh nghiệp
bảo hiểm là Bảo Việt đến nay đã có 28 doanh nghiệp bảo hiểm Phi nhân thọ, 11
doanh nghiệp bảo hiểm Nhân thọ, 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt
động cùng nhau tranh tài cung cấp sản phẩm bảo hiểm để khách hàng có quyền
lựa chọn một cách tích cực. Trong số đó, bảo hiểm phi nhân thọ có 7 DN 100%
vốn nước ngoài, 4 doanh nghiệp liên doanh, bảo hiểm nhân thọ có 10 doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài, môi giới bảo hiểm có 4 doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài.
Bảng 2.1: Thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Năm
Số DN bảo hiểm phi
nhân thọ
Số DN bảo hiểm
nhân thọ
Số DN mô giới BH Vốn huy động lại
(tỷ đồng)
2006 17 5 5 30660
2007 22 7 6 44940
2008 28 11 10 56320
Nguồn: Số liệu thống kê bảo hiểm Việt nam
Mạng lưới hoạt động của ngành bảo hiểm được mở rộng bằng các chi nhánh,
công ty thành viên, văn phòng giao dịch của các doanh nghiệp bảo hiểm đến tận
các tỉnh, thành, quận, huyện, các vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo. Đối
tượng khách hàng ngày càng đa dạng, phong phú. Không có một doanh nghiệp
sản xuất, một ngành nghề nào là không được doanh nghiệp bảo hiểm tiếp cận
tuyên truyền giới thiệu sản phẩm và vận động tham gia bảo hiểm.
 Sản phẩm bảo hiểm ở Việt Nam.

trưởng
Doanh thu BH
(Tỷ đồng)
Tốc độ tăng
trưởng
2006 4854 6% 5361 17%
2007 7487 8% 7524 20%
2008 10489 11% 10825 29%
Nguồn: Công ty Bảo Minh
Tốc độ tăng trưởng bảo hiểm phi nhân thọ bình quân 15 năm qua đạt
2%/năm, bảo hiểm nhân thọ thí điểm từ năm 1996, chính thức triển khai từ cuối
năm 1999 cũng đạt tăng trưởng bình quân 1999 – 2008 là 20%/năm. Như vậy từ
khi ra đời và phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển
vượt bậc với tốc độ tăng trưởng cao, mang sức hấp dẫn lớn đối với các công ty
bảo hiển nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam. Để có tốc độ tăng trưởng cao
ngành bảo hiểm Việt Nam đã có những cố gắng lớn vượt bậc. Ngành bảo hiểm
Việt Nam ngày càng lớn mạnh có sức cạnh tranh với bảo hiểm nước ngoài.
 Năng lực tài chính:
Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng mạnh. Năm 1993,
ngành bảo hiểm có vốn chủ sở hữu 145 tỉ đồng, dự phòng nghiệp vụ 188 tỉ
đồng, đến nay, vốn chủ sở hữu đã lên tới trên 17.500 tỉ đồng, dự phòng nghiệp
vụ lên tới 35.485 tỉ đồng. Khối bảo hiểm phi nhân thọ có vốn chủ sở hữu 10.676
tỉ đồng, dự phòng nghiệp vụ 5.611 tỉ đồng, khối nhân thọ có vốn chủ sở hữu
6.824 tỉ đồng, dự phòng nghiệp vụ 34.446 tỉ đồng. Đặc biệt, có doanh nghiệp
bảo hiểm có vốn chủ sở hữu lớn như Bảo Minh 2.067 tỉ đồng, PVI 1.754 tỉ
đồng, Bảo Việt 1.005 tỉ đồng, có dự phòng bảo hiểm cao như Bảo Việt 1.895 tỉ
đồng, Bảo Minh 635 tỉ đồng, Bảo Việt Nhân Thọ 12.215 tỉ đồng, Prudential
13.059 tỉ đồng. Vốn chủ sở hữu và dự phòng nghiệp vụ tăng mạnh làm cho năng
lực bảo hiểm của từng doanh nghiệp bảo hiểm nâng lên rõ rệt, tăng khả năng
nhận tái bảo hiểm trong nước và giảm dần phần tái bảo hiểm nước ngoài.

nguồn thu thuế VAT gần 1.000 tỉ đồng, thuế thu nhập cá nhân của nhân viên và
đại lý bảo hiểm gần 1.000 tỉ đồng. Các doanh nghiệp bảo hiểm đã tài trợ cho các
hoạt động thể thao, văn hóa, xã hội, từ thiện hàng trăm tỉ đồng.
Tóm lại ngành bảo hiểm xứng đáng là tấm lá chắn kinh tế của nền kinh tế
xã hội, góp phần ổn định sản xuất kinh doanh, ổn định đời sống trước những rủi
ro hiểm họa xảy ra. Năm 1993, ngành bảo hiểm giải quyết bồi thường 120 tỉ
đồng, đến năm 2007, ngành bảo hiểm đã giải quyết bồi thường 3.229 tỉ đồng đối
với bảo hiểm phi nhân thọ, trả tiền bảo hiểm 2.239 đối với bảo hiểm nhân thọ.
Năm 2008, bảo hiểm phi nhân thọ giải quyết bồi thường ước đạt 4.500 tỉ đồng
và trả tiền bảo hiểm nhân thọ ước đạt trên 3.000 tỉ đồng. Nhiều tổn thất lớn xảy
ra đã và đang được giải quyết bồi thường. Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm
còn tích cực làm tốt công tác đề phòng, hạn chế tổn thất cho các công trình
đường lánh nạn, gương cầu lồi, hàng rào hộ lan, đường gom, đường dân sinh,
khắc phục điểm đen tai nạn.
Có thể nói những năm qua là chặng đường dài ngành bảo hiểm đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn, vượt qua thử thách, mở cửa và hội nhập quốc tế để phục
vụ cho công cuộc xây dựng đất nước, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển đầu
tư trong nước, ổn định đời sống nhân dân trước những thiên tai, hiểm họa xảy
ra.
Nhưng thị trường bảo hiểm Việt Nam đã bộc lộ một số yếu kém, đó là tình
trạng cạnh tranh gay gắt chủ yếu bằng hạ phí bảo hiểm thấp hơn cả phí tái bảo
hiểm ra nước ngoài hoặc tỉ lệ bồi thường chung của thị trường; trích lập dự
phòng chưa đủ, hồ sơ bồi thường còn tồn đọng nhiều. Năm 2009, nền kinh tế
toàn cầu nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng, trong đó có ngành bảo
hiểm sẽ còn đối mặt với nhiều khó khăn, hậu quả của khủng hoảng tài chính
toàn cầu.
Trước tình hình trên đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải tiếp tục
nâng cao năng lực cạnh tranh, đầu tư phát triển công nghệ mới, phát triển sản
phẩm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực điều hành doanh nghiệp, hợp
tác chia sẻ thông tin, rủi ro để phát triển lành mạnh. Ngành bảo hiểm phát huy

nghiệp, thương mại xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài và đầu tư toàn xã hội đã
tạo đà cho các Doanh nghiệp bảo hiểm Phi nhân thọ một tiềm năng khai thác
tốt. Tuy nhiên, biến động của thị trường chứng khoán cũng làm cho các doanh
nghiệp bảo hiểm thận trọng hơn trong việc đầu tư từ vốn chủ sở hữu, thặng dư
vốn và dự phòng nghiệp vụ vào lĩnh vực này.
Bảng 2.3: Tỷ lệ bồi thường theo nghiệp vụ của toàn thị trường.
Nghiệp vụ bảo hiểm
Tổng
doanh thu
phí bảo
hiểm
Tổng bồi
thường
Tỷ lệ bồi
thường
chung toàn
nghiệp
vụ
BH sức khỏe và tai nạn con người 180,922 112,321 62.08%
BH hàng hóa vận chuyển 117,125 28,597 24.42%
BH hàng không 78,636 2,994 3.81%
BH xe cơ giới 510,091 226,908 44.48%
Bảo hiểm cháy nổ và mọi rủi ro tài
sản 162,448 68,548 42.20%
BH gián đoạn kinh doanh 5,531 12,809 231.59%
BH thân tàu và TNDS chủ tàu 222,741 44,200 19.84%
BH trách nhiệm chung 37,386 1,334 3.57%
BH nông nghiệp 161 12 7.45%
BH tín dụng và rủi ro tài chính 103 0 0.00%
BH tài sản và thiệt hại 496,180 207,374 41.79%

17% so với cùng kì 2007, trong đó bảo hiểm xây dựng lắp đặt 457 tỉ đồng tăng
14,7%, bảo hiểm thiết bị điện tử đạt 32 tỉ đồng tăng 669% so với cùng kì 2007,
biểu hiểm máy móc thiết bị đạt 18 tỉ đồng giảm 46,2% so với cùng kì 2007, Bảo
hiểm Dầu khí đạt 326 tỉ đồng, giảm 20,4%. Ngoài ra các nghiệp vụ bảo hiểm
khác trong bảo hiểm kỹ thuật đạt 432 tỉ đồng cũng tăng 150%. Dẫn đầu doanh
thu bảo hiểm xây dựng lắp đặt là PVI 217 tỉ đồng, Bảo Việt 122 tỉ đồng, BIC
24,7 tỉ đồng. Dẫn đầu doanh thu bảo hiểm máy móc thiết bị là UIC 4 tỉ đồng và
Bảo Việt 3,6 tỉ đồng. Dẫn đầu doanh thu Bảo hiểm Dầu khí PVI 323 tỉ đồng,
UIC 2,4 tỉ đồng. Dẫn đầu doanh thu bảo hiểm thiết bị điện tử là PTI 27 tỉ đồng,
Bảo Việt 2,3 tỉ đồng, MIC 2,2 tỉ đồng. Top 03 doanh nghiệp có tỉ lệ bồi thường
cao trong bảo hiểm kỹ thuật là PJICO 62,2%, Bảo Minh 60%, Bảo Long 56%.
• Bảo hiểm Thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu có doanh thu đứng thứ ba
trên thị trường 602 tỉ đồng tăng 45,7% so với cùng kỳ năm 2007. Dẫn đầu về
doanh thu là PVI 193 tỉ đồng, Bảo Việt 187 tỉ đồng, Bảo Minh 106 tỉ đồng.
Tổng số tiền bồi thường là 296 tỉ đồng chiếm 49,2% doanh thu. Doanh nghiệp
có tỉ lệ bồi thường cao là Bảo Long 50,4%, , PVI 43%, Bảo Minh 41,3%.
• Bảo hiểm Con người đạt doanh thu 577,8 tỉ đồng tăng 44,3% so với cùng kì
năm 2007. Dẫn đầu là Bảo Việt 264,5 tỉ đồng, Bảo Minh 133,9 tỉ đồng, PVI 41
tỉ đồng. Tổng số tiền đã giải quyết bồi thường là 320,7 tỉ đồng chiếm 55,5%
doanh thu. Bồi thường có tỉ lệ cao là PJICO 83%, Bảo Việt 65%, PTI 63,5%,
Bảo Minh 63%, Bảo Ngân 54%, Groupama 51%.
• Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đạt doanh thu 472,3 tỉ đồng tăng 59,8% so với
cùng kì năm 2007. Dẫn đầu là Bảo Việt 153 tỉ đồng, Bảo Minh 85 tỉ đồng,
PJICO 56,7 tỉ đồng, PVI 41,7 tỉ đồng. Bồi thường có tỉ lệ cao là Bảo Long
74,8%, MIC 29%, PTI 25%.
• Bảo hiểm cháy nổ và mọi rủi ro đạt doanh thu 457 tỉ đồng đã tăng 9% so với
cùng kỳ năm 2007. Dẫn đầu doanh thu là Bảo Minh 119,6 tỉ đồng tiếp đến là
Bảo Việt 89,5 tỉ đồng, PVI 88,5 tỉ đồng, PJICO 28 tỉ đồng. Bồi thường có tỉ lệ
cao là VASS 59,4%, PTI 52,6%.
Năm 2009, cơn bão suy thoái kinh tế toàn cầu ảnh hưởng tới nền kinh tế xã

hàng hóa xuất nhập khẩu của việt Nam có thể được nhìn nhận theo giai đoạn
phát triển.
Thời kỳ bảo hiểm hoạt động theo cơ chế độc quyền Nhà nước. Giai đoạn này
chỉ có một tổ chức bảo hiểm duy nhất là bảo hiểm hoạt động phục vụ bảo hiểm
hàng hóa xuất nhập khẩu theo nghị định thư. Quy mô và phạm vi bảo hiểm của
thời kỳ này còn rất hạn chế, hoạt động của thị trường không có sự cạnh tranh.
Thời kỳ bảo hiểm hoạt động trong nền kinh tế thị trường: Vào những năm
cuối thập niên 80, với chính sách kinh tế mở, cùng nhịp độ phát triển của nền
kinh tế, ngành bảo hiểm đã có những bước phát triển của nền kinh tế, ngành bảo
hiểm đã có những bước phát triển đáng kể. Đứng trước yêu cầu đa dạng hóa các
loại hình kinh doanh bảo hiểm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội,
bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định và nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng
bảo hiểm trong nước để đầu tư lại phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, Nghị định 100/ CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về hoat động
kinh doanh bảo hiểm theo hướng thị trường mở trên thị trường bảo hiểm Việt
Nam bắt đầu phát triển, nhiều công ty bảo hiểm mới ra đời trên thị trường đã có
sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty bảo hiểm để giành khách hàng và tăng
doanh thu phí. Nhiều vấn đề mới nảy sinh và bất cập trong thời kỳ này đã ảnh
hưởng đến hoạt động của các công ty bảo hiểm. Nhằm bảo vệ quyền lợi, lợi ích
hợp pháp của các cá nhân và tổ chức tham gia bảo hiểm, đẩy hoạt động kinh
doanh bảo hiểm, thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế- xã
hội, Luật kinh doanh bảo hiểm đã được quốc hội thông qua ngày 09/12/2000, có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2001. sau khi Luật này được ban hành, chính phủ
và bộ Tài Chính đã ban hành những văn bản thi hành luật nhằm phát huy tối đa
hiệu quả của Luật kinh doanh bảo hiểm.
Nền kinh tế Việt Nam cũng như trong khu vực, trong năm vừa qua đã có tác
động tích cực đối với toàn ngành bảo hiểm Việt Nam. Các doanh nghiệp bảo
hiểm Việt Nam đã tăng cường bám sát khách hàng hơn tích cực khai thác những
khách hàng quen thuộc và những khoảng trống của thị trường. Trong thời gian
qua trình độ của các nhân viên bảo hiểm Việt Nam đã được nâng lên rõ rệt qua


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status