Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
LỜI MỞ ĐẦU.
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Nền kinh tế Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực theo cơ chế thị
trường với xu thế hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới trong đó hoạt động
bảo hiểm đang phát triển ngày càng mạnh mẽ đóng góp vào sự phát triển của đất
nước. Hoà vào xu thế phát triển chung đó, rất nhiều công ty bảo hiểm đã được
thành lập và đi vào hoạt động, trong đó công ty bảo hiểm Dầu khí Việt Nam PVI
với hơn 10 năm hoạt động trên thị trường đã thu được nhiều thành quả đáng
khích lệ. Công ty bảo hiểm Dầu Khí Hà Nội là một trong 12 chi nhánh của PVI
được thành lập vào tháng 8/2006,đây là một chi nhánh còn rất trẻ nhưng đã biết
tận dụng lợi thế của mình là đóng tại thành phố Hà Nội –trung tâm kinh tế,chính
trị,văn hoá của cả nước để vươn lên và giành được những thành quả ban đầu.Với
chiến lược kinh doanh rõ ràng và những lợi thế được tận dụng tối đa,PVI Hà Nội
hi vọng sẽ bắt nhịp và trở thành chi nhánh chủ đạo,xứng đáng với tầm quan trọng
của mình.
Trong thời gian thực tập tại PVI Hà Nội, em được tiếp cận với các nghiệp vụ
được triển khai tại công ty và nhận thấy nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận
chuyển bằng đường biển là một trong những nghiệp vụ có vai trò rất quan trọng
đối với công ty và có cơ hội phát triển rất lớn tuy nhiên hiện nay nghiệp vụ này
vẫn gặp phải một số khó khăn lớn, đặc biệt là trong khâu khai thác và những điều
này đã hạn chế rất nhiều đến khả năng phát triển của nghiệp vụ chính vì vậy em
đã chọn đề tài:” Nâng cao hiệu quả khai thác nghiệp vụ BH hàng hoá xuất
nhập khẩu bằng đường biển tại công ty bảo hiểm dầu khí Hà Nội” với mong
muốn có thể đưa ra một vài khuyến nghị dựa trên những phân tích mang tính
khoa học về tình hình thực tế tại công ty để góp phần giải quyết những khó khăn
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
trong công tác khai thác nghiệp vụ này và biến nó trở thành một trong những
nghiệp vụ mạnh,đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển toàn diện của công ty.
- Vận chuyển bằng đường biển có thể đảm nhận những khối lượng hàng hoá lớn
với khối lượng lớn mà các phương tiện vận tải khác không làm được chẳng hạn
vận chuyển các loại hàng hoá siêu trường, siêu trọng.
- Hiệu quả sử dụng của các tuyến đường cao vì đường biển rất rộng lớn mà chi
phí đầu tư xây dựng không cao do dựa nhiều vào điều kiện tự nhiên.Cũng chính
vì vậy mà giá thành vận chuyển bằng đường biển thường thấp hơn so với các
phương tiện khác.
- Vận chuyển bằng đường biển còn có đặc thù là trải qua nhiều vùng biển khác
nhau và nhiều nước khác nhau nên nó góp phần phát triển tốt mối quan hệ kinh
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
tế với các nước và mở rộng quan hệ làm ăn cho các bên,góp phần tăng thu ngoại
tệ cho Nhà Nước.
1.1.1.2.Các loại rủi ro,tổn thất trong vận chuyển bằng đường biển.
Các loại rủi ro.
Mặc dù vận chuyển bằng đường biển có rất nhiều lợi thế nhưng nó vẫn tồn tại
một số nhược điểm mà nhược điểm lớn nhất chính là khả năng xày ra rủi ro đối
với tàu biển là khá lớn,không những thế giá trị tổn thất khi xảy ra rủi ro cũng rất
cao. Rủi ro ở đây được hiểu là rủi ro hàng hải,đó là những rủi ro do thiên tai, tai
nạn bất ngờ trên biển gây ra làm hư hỏng hàng hoá và phương tiện chuyên
chở.Để tiện cho việc kiểm soát và sử dụng các biện pháp khắc phục người ta
thường phân loại các loại rủi ro theo nguyên nhân, theo đó có rủi ro do thiên tai,
rủi ro do tai nạn bất ngờ trên biển và rủi ro do hành động của con người :
+ Thiên tai là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như biển động, bão, lốc,
sét,thời tiết quá xấu… mà con người không chống lại được.
+ Tai nạn bất ngờ trên biển:Mắc cạn, đắm tàu, bị phá huỷ, cháy nổ,mất tích, đâm
va với các tàu khác hoặc đâm va với một vật thể nào đó mà không phải là
nước,sự phá hoại của thuyền trưởng và thuỷ thủ trên tàu…
+ Hành động của con người:Ăn trộm, ăn cắp hàng,mất cướp, chiến tranh, đình
bộ thực sự chắc chắn sẽ xảy ra.
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
• Thứ hai: Xét về tài chính thì coi là tổn thất toàn bộ, ví dụ vận chuyển sắt
thép từ nước ngoài về Việt Nam, dọc đường tàu hỏng máy buộc phải
vào Hồng Kông để sửa chữa. Ðể chữa tàu phải dỡ sắt lên bờ, trong thời
gian chữa phải lưu kho lưu bãi sắt thép, khi chữa xong phải tái xếp sắt
thép xuống tàu và đưa sắt thép về Việt Nam. Tổng các chi phí phải bỏ ra
trong trường hợp này có thể bằng hoặc lớn hơn trị giá bảo hiểm của sắt
thép.
Khi hàng hóa bị tổn thất toàn bộ ước tính, người được bảo hiểm có thể từ bỏ
hàng hóa. Từ bỏ hàng hóa là từ bỏ mọi quyền lợi liên quan đến hàng hóa hay là
sự tự nguyện của người được bảo hiểm chuyển quyền sở hữu về hàng hóa cho
người bảo hiểm để đòi bồi thường toàn bộ. Muốn từ bỏ hàng phải tuân thủ các
quy định sau;
• Một là: Tuyên bố từ bỏ hàng (notice of abandonment - NOA) gửi cho
người bảo hiểm bằng văn bản.
• Hai là: Chỉ từ bỏ khi hàng hóa còn ở dọc đường và chưa bị tổn thất toàn
bộ thực sự.
• Ba là: Khi từ bỏ đã được người bảo hiểm chấp nhận thì không thay đổi
được nữa, sở hữu về hàng hoá thuộc về người bảo hiểm và người được
bảo hiểm được đòi bồi thường toàn bộ.
- Căn cứ vào quyền lợi và trách nhiệm, tổn thất được chia làm hai loại:
+ Tổn thất riêng (particular average) : Là tổn thất của từng quyền lợi bảo
hiểm do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây nên. Ví dụ, dọc đường tàu bị sét đánh
làm hàng hóa của chủ hàng A bị cháy, tổn thất của hàng A là do thiên tai, chủ
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
thất chung.
• TTC phải xảy ra trên biển.
TTC và TTR có những điểm khác nhau: TTR xảy ra một cách ngẫu nhiên và chỉ
ảnh hưởng đến quyền lợi riêng biệt của các bên mà không có sự đóng góp chung
trong khi TTC là cố tình và có sự chia sẻ tổn thất của các bên có liên quan.TTR
có thể xảy ra trên biển hoặc bất kì địa điểm nào khác trong khi TTC chỉ xảy ra
trên biển và đây là loại tổn thất mà công ty bảo hiểm luôn chịu trách nhiệm bồi
thường cho các chủ hàng đối với mức đóng góp của mỗi bên còn đối với TTR
công ty bảo hiểm có bồi thường hay không còn tuỳ vào điều kiện bảo
hiểm.Thông thường khi có TTC xảy ra công ty bảo hiểm phải tiến hành tính toán
mức độ đóng góp tổn thất của các bên để bồi thường hợp lý.
1.1.2.Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển.
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiều
rủi ro và tổn thất khó lường , trong lịch sử đã có không ít các rủi ro gây tổn thất
rất lớn cho các chủ hàng, gây ra những ảnh hưởng rất xấu đến công việc kinh
doanh của họ và con người đã có nhiều biện pháp chống lại những tác động xấu
này nhưng thực tế cho thấy biện pháp hữu hiệu nhất là bảo hiểm. Hình thức sơ
khai ban đầu là các chủ hàng đã tự bảo hiểm cho nhau bằng cách cùng chở hàng
cho nhiều chủ hàng trên một con tàu, như vậy nếu có xảy ra rủi ro tổn thất thì các
chủ hàng sẽ san sẻ tổn thất cho nhau và không ai phải gánh chịu rủi ro một mình
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
cả, đây là cách làm rất hiệu quả vì vậy nó tiếp tục được nhân rộng và hoàn thiện
dưới dạng các đơn bảo hiểm được cung cấp đa dạng bởi các công ty bảo hiểm
như ngày nay. Vì bảo hiểm có quy mô và phạm vi bảo vệ rộng nên nó có thể
đảm nhận vai trò là tấm lá chắn cho các chủ hàng khỏi những tổn thất lớn về tài
chính mà họ không thể kham nổi. Nếu không có bảo hiểm các chủ hàng có thể sẽ
không thể vực dậy hoạt động kinh doanh của mình khi có những tổn thất lớn xảy
- Nhóm F: Hàng hoá được bảo hiểm không bao gồm cước vận chuyển chính và
bao gồm các điều kiện giao hàng cụ thể sau:
+ FCA( free carrier ) : hàng được bảo hiểm kể từ khi nó được giao cho người vận
chuyển gọi là điều kiện giao hàng cho người vận chuyển
+ FAS( free alongside ship): hàng hoá được bảo hiểm kể từ khi nó được giao qua
mạn tàu gọi là điều kiện giao hàng dọc mạn tàu.
+ FOB (free on board) : hàng hoá được bảo hiểm khi nó đã nằm trên tàu gọi là
điều kiện giao hàng lên tàu.
- Nhóm C :Hàng hoá được bảo hiểm đã bao gồm cả cước vận chuyển chính và
bao gồm các điều kiện giao hàng cụ thể sau:
+ CFR( Cost and freight): Giá trị bảo hiểm được bao gồm tiền hàng và cước phí
vận chuyển
+ CIF( Cost insurance freight) : Giá trị bảo hiểm bao gồm tiền hàng, phí bảo
hiểm và cước phí.
+ CPT ( carriage paid to…): cước trả tới
+ CIP ( Carriage and insurance paid to…) tiền cước và phí bảo hiểm trả tới.
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
-Nhóm D: Bảo hiểm cho hàng hoá khi hàng đến, tức là khi người bán đã giao
hàng tại nước người mua, bao gồm:
+ DAF (Delivered at frontier) : bắt đầu bảo hiểm có hiệu lực khi hàng hoá được
giao tại biên giới
+ DES ( Delivered ex-ship): bắt đầu bảo hiểm có hiệu lực khi hàng hoá được
giao tại tàu.
+ DEQ(Delivered ex-quay): bắt đầu bảo hiểm có hiệu lực khi hàng hoá được
giao tại cầu cảng.
+ DDU( Delivered duty paid) : hàng hoá bắt đầu được bảo hiểm khi nó được
giao tại đích và đã nộp thuế cho hải quan.
Trong các điều kiện trên thì điều kiện FOB và điều kiện CIF là được sử dụng
- Người bảo hiểm có trách nhiệm đối với hàng hoá đăng kí bảo hiểm.Chẳng hạn
kiểm tra chứng từ về hàng hoá,về hành trình và bản thân con tàu vận chuyển…
1.1.3.2.Giá trị bảo hiểm,Số tiền bảo hiểm và Phí bảo hiểm.
Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm(GTBH) là giá trị thực tế của lô hàng đăng kí tham gia bảo
hiểm,thường là giá CIF,bao gồm : Giá hàng hoá, cước phí vận chuyển,phí bảo
hiểm và các chi phí liên quan khác.Ngoài ra để đáp ứng nhu cầu khách hàng, các
công ty bảo hiểm còn tổ chức bảo hiểm cho lợi nhuận dự tính của lô hàng.
Giả sử là các hợp đồng bảo hiểm đều bảo hiểm cho cả lô hàng hoá và cả lợi
nhuận thương mại của lô hàng(tối đa 10% giá CIF) thì giá trị bảo hiểm của lô
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
hàng lớn nhất bằng 110% CIF. Có thể xác định giá trị bảo hiểm( GTBH ) theo
giá CIF theo công thức sau:
V=C+F/1-R
Trong đó:
- V (Value) là GTBH của hàng hoá XNK theo giá CIF
- C(Cost) là giá hàng được tính bằng giá FOB ở cảng đi
- F(freight) là cước phí vận chuyển
- R(rate) là tỷ lệ phí bảo hiểm
Hoặc nếu bảo hiểm theo lãi dự tính thì GTBH = (C+F).(a+1)/1-R
Trong đó a là tỉ lệ phần trăm lãi dự tính của lô hàng so với tổng giá trị của lô
hàng(gồm giá trị hàng hoá và cước phí vận chuyển)
Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm(STBH ) là số tiền được đăng kí bảo hiểm ghi trong hợp đồng
bảo hiểm,nó được xác định trên cơ sở GTBH . GTBH lại thường được xác định
căn cứ vào hoá đơn hàng hoá.Thường thì có 3 trường hợp sau đây:
-Nếu STBH bằng GTBH thì gọi là bảo hiểm ngang giá trị hay bảo hiểm toàn
phần.
phí bảo hiểm:hàng hoá được chở trên tàu trẻ và có chất lượng chuyên chở tốt sẽ
có tỉ lệ phí bảo hiểm thấp hơn hàng chở bằng tàu già.
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
- Hành trình: Tỷ lệ phí bảo hiểm tăng lên đối với những hành trình có nhiều rủi
ro(theo thống kê kinh nghiệm) hoặc hành trình qua các vùng có xung đột vũ
trang…
- Điều kiện bảo hiểm:Điều kiện bảo hiểm có phạm vi càng hẹp thì tỷ lệ phí bảo
hiểm càng thấp.
Các bộ luật và quy tắc bảo hiểm hàng hải đều lưu ý rằng việc nộp phí bảo hiểm
là điều kiện vô cùng quan trọng để xác định HĐBH có hiệu lực .Công ty bảo
hiểm có quyền huỷ HĐBH nếu người được bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ
trả phí theo thoả thuận hoặc có quyền từ chối bồi thường khi rủi ro xảy ra.
Giám định và bồi thường tổn thất.
Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất.
Khi có rủi ro xảy ra đối với phương tiện vận chuyển hoặc đối với bản thân hàng
hoá mà đe doạ tới sự an toàn của hàng hoá của người được bảo hiểm thì người
được bảo hiểm phải có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan liên quan nơi gần
nhất như cơ quan hàng hải, cơ quan bảo hiểm …để những cơ quan này có biện
pháp theo dõi và phòng bị cho tàu và hàng hoá.Nếu nhận được thông tin hay phát
hiện hàng hoá bị tổn thất thì người được bảo hiểm cần phải thông báo ngay cho
người bảo hiểm hay đại lý họ chỉ đến giám định .Việc giám định này chỉ được
thực hiện khi có đơn đề nghị của người được bảo hiểm gửi đến cho người bảo
hiểm.
Bên cạnh đó việc tổ chức các hoạt động bảo vệ tài sản trước những tổn thất lớn
hơn có thể xảy ra hoặc hạn chế tổn thất đã xảy ra là trách nhiệm của cả hai
bên,nó đòi hỏi nỗ lực lớn từ cả hai bên và hành động cứu chữa hàng hoá này
không hề là dấu hiệu cho thấy bất kì sự gian dối hay từ chối nào từ phía nhà bảo
hiểm hay nói cách khác việc cứu chữa hàng hoá không làm ảnh hưởng đến cách
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
- Bản chính hoặc bản sao hoá đơn gửi hàng,kèm tờ kê chi tiết hàng hoá và/hoặc
phiếu ghi trọng lượng
- Bản chính của vận tải đơn và /hoặc hợp đồng chuyên chở các loại
- Biên bản giám định và chứng từ tài liệu khác chỉ rõ mức độ tổn thất.
- Giấy biên nhận và giấy chứng nhận tàu giao hàng và phiếu ghi trọng lượng tại
nơi nhận cuối cùng
- Bản sao báo cáo hải sự và/hoặc trích sao nhật kí hàng hải.
- Công văn thư từ trao đổi với người chuyên chở và các bên khác về trách nhiệm
của họ đối với tổn thất
- Thư đòi bồi thường.
Trường hợp các chứng từ trong bộ hồ sơ khiếu nại chưa làm sáng tỏ được tổn
thất có thuộc trách nhiệm của bảo hiểm hay không,người bảo hiểm yêu cầu cung
cấp thêm các chứng từ sau:
- Hợp đồng mua bán
- Thư tín dụng
- Lược khai
- Phiếu kiểm đếm
- Biên bản giám định hàng hoá xuất nhập khẩu
- Nhật kí hàng hải
- Giấy chứng nhận đăng kiểm tàu
- Các biên bản của công an,chính quyền cảng …
Giám định và bồi thường tổn thất.
Sau khi nhận được thông báo tổn thất về hàng hoá của người tham gia bào
hiểm,nhà bảo hiểm phải nhanh chóng xem xét để giải quyết các khiếu nại này
cho khách hàng.Quy trình này bao gồm giám định và bồi thường tổn thất.
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
* Giám định là việc làm của người bảo hiểm hoặc người được ủy thác nhằm
giám
định
Thoả
thuận và
theo dõi,
khắc
phục hậu
quả
Lập
biên
bản
giám
định
Bồi
thường
Báo
cáo
tổng
công
ty
Chỉ
định
giám
định
Nhận
biên
bản
giám
định,
trả
thông báo tin tức bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hoặc những hoạt động quân sự thì
thời hạn này được đổi thành 6 tháng.
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
* Bồi thường.
- Sơ đồ:
- Ngay sau khi việc giám định được tiến hành xong, nhân viên của công ty bảo
hiểm sẽ yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ bộ hồ sơ khiếu nại và dựa vào đó
để làm căn cứ xét bồi thường.Cán bộ bồi thường phải làm tờ trình bồi thường và
trình cho cán bộ lãnh đạo xem xét, cho ý kiến và duyệt hồ sơ bồi thường theo
phân cấp.Nếu không đồng ý bồi thường vì một lý do nào đó, cán bộ bồi thường
phải lập công văn gửi cho người khiếu nại giải thích rõ lý do vì sao lại từ chối
bồi thường.Nếu hồ sơ được cán bộ lãnh đạo xét duyệt cho bồi thường thì cán bộ
bồi thường lập thông báo bồi thường và gửi cho khách hàng để lấy ý kiến của họ
về việc bồi thường.Ở bước này, phải tuỳ vào phản ứng của khách hàng để có
những xử lý phù hợp: Nếu khách hàng chấp nhận việc bồi thường thì tiến hành
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
20
Thu thập
và kiểm
tra hồ sơ
đòi bồi
thường
Xét bồi
thường
Trình
tổng
công ty
Duyệt
ê
n
p
h
a
n
c
ấ
p
Bồi thường
K
h
ô
n
g
b
ồ
i
t
h
ư
ờ
n
g
K
h
- Khi hàng hóa được bảo hiểm bị tổn thất bộ phận thì số tiền bồi thường đựơc
xác định bằng tổng giá trị hàng hóa khi còn nguyên vẹn trừ đi tổng giá trị hàng
hóa còn lại sau khi đã bị tổn thất tại nơi nhận hàng trên cơ sở tỷ lệ giữa số tiền
bảo hiểm và giá trị bảo hiểm.
- Trường hợp tổn thất chung thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm thì số tiền
đóng góp tổn thất chung của người đựơc bảo hiểm sẽ đựơc bảo hiểm bồi thường
lại đầy đủ.Tuy nhiên,nếu số tiền bảo hiểm của hàng hóa lại thấp hơn giá trị tổn
thất chung thì người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường số tiền đóng góp
tổn thất chung theo tỉ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị đóng góp.
- Trách nhiệm của người bảo hiểm chỉ giới hạn ở số tiền bảo hiểm.Tuy nhiên,
người bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm đối với số tổn thất cộng với các chi
phí cứu hộ,chi phí giám định ,chi phí đánh giá và bán lại hàng hóa bị tổn thất,chi
phí đòi người thứ ba bồi thường và tiền đóng góp tổn thất chung,dù cho tổng số
tiền bồi thường như vậy có thể vượt quá số tiền bảo hiểm.
- Người bảo hiểm có quyền được miễn mọi trách nhiệm quy định trong hợp đồng
bảo hiểm bằng cách khước từ quyền lợi về hàng hóa bảo hiểm và quyền khiếu
nại người thứ ba, đồng thời bồi thường cho người được bảo hiểm toàn bộ số tiền
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
bảo hiểm.Khi thực hiện quyền này thì người bảo hiểm phải thông báo cho ngưòi
được bảo hiểm biết trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của
người được bảo hiểm về thảm họa đã xảy ra và hậu quả của nó.Những chi tiết
hợp lý cần thiết mà người bảo hiểm đã chi trước khi nhân được thông báo trên
nhằm phòng tránh hoặc giảm nhẹ tổn thất sẽ được người bảo hiểm bồi hoàn.
- Việc bồi thường được giải quyết bằng loại tiền quy định trong hợp đồng hoặc
giấy chứng nhận bảo hiểm,không bồi thường bằng hiện vật.
Quá trình bồi thường lại thường cần lưu ý những công việc đặc biệt như:
- Chuyển quyền đòi bồi thưòng(đòi người thứ ba)
Sau khi thanh toán bồi thưòng theo hợp đồng bảo hiểm,mọi khoản khiếu nại và
hiểm đối với tổn thất của hàng hoá.Hàng hoá được bảo hiểm theo điều kiện bảo
hiểm nào thì chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện đó mới được bồi
thường.Ngày 01/01/1963,Viện những người bảo hiểm Luân Đôn ILU xuất bản 3
điều kiện bảo hiểm hàng hoá là FPA,WA và AR.Các điều kiện này đã được áp
dụng rộng rãi trên thế giói trong một thời gian dài,tuy nhiên nó cũng đã bộc lộ
những điểm hạn chế như điều khoản không rõ ràng, gây hiểu lầm cho người
tham gia do đó ngày 01/01/1982, ILU xuất bản các điều kiện bảo hiểm mới thay
thế các điều kiện bảo hiểm cũ.So với các điều kiện cũ, các điều kiện mới trình
bày rõ ràng, dễ hiểu hơn.Điều kiện bảo hiểm mới đã khắc phục được những điêm
hạn chế của các điều kiện cũ, khắc phục được sự mập mờ, khó hiểu của ngôn
ngữ trong các điều kiện bảo hiểm cũ,nội dung bảo hiểm mới cũng đã có sự thay
đổi và hiện nay xu thế chung là thế giới đang chuyển sang dùng hệ thống các
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TH.S.Nguyễn Thị Chính
điều kiện mới này nên ở đây chỉ xin đề cập đến nội dung các điều kiện mới
này.Các điều kiện này bao gồm:
- Institute cargo clauses C(ICC C)-điều kiện bảo hiểm C
- Institute cargo clauses B(ICC B)-điều kiện bảo hiểm B
- Institute cargo clauses A (ICC A)-điều kiện bảo hiểm A
- Institute war clauses-điều kiện bảo hiểm chiến tranh
- Institute strikes clauses-điều kiện bảo hiểm đình công
Sau đây là nội dung cơ bản của ICC 01/01/1982
Điều kiện bảo hiểm C(ICC C)
- Phạm vi bảo hiểm theo điều kiện C bao gồm:
+ Tổn thất hay tổn hại của hàng hoá được bảo hiểm có nguyên nhân hợp lý do
cháy hoặc nổ; tàu bị mắc cạn,chìm đắm,bị lật,đâm va;dỡ hàng tại cảng lánh nạn.
+ TTC
+ Phần trách nhiệm mà người được bảo hiểm phải chịu theo điều khoản hai tàu
đâm va đều có lỗi.
điều kiện bảo hiểm C thì còn bồi thường tổn thất hay tổn hại đối với hàng hoá
được bảo hiểm do động đất,núi lửa, sét đánh,bị nước biển cuốn khỏi tàu,nước
biển,nước sông hồ xâm nhập vào hầm tàu,vào công-ten-nơ hoặc nơi để hàng; tổn
thất nguyên kiện hàng trong quá trình xếp dỡ truyền tải
Điểu kiện bảo hiểm A(ICC A)
Đây là điều kiện bảo hiểm có phạm vi rộng nhất, bảo hiểm cho tất cả những hư
hỏng ,mất mát của hàng hoá,kể cả rủi ro cướp biển,chỉ trừ những rủi ro loại trừ
theo quy định và không áp dụng mức miễn thường.
SV: Vũ Thị Tâm Bảo Hiểm 46B
25