hoạt động khai thác bh hàng hóa xnk vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm quân đội- mic thăng long thực trạng và giải pháp - Pdf 33

Luận văn tốt nghiệp

Nguyễn Thị Quỳnh Trang
LỜI MỞ ĐẦU

Thương mại thế giới ngày nay mở rộng không ngừng, hợp tác quốc tế ngày
càng phát triển. Do đó yếu tố ngoại thương trở thành một đòi hỏi khách quan và nó
kéo theo dịch vụ vận chuyển nói chung và và vận chuyển bằng đường biển nói
riêng.Việt Nam đang trên đà hiện đại hóa nền kinh tế. Đặc biệt là sau khi Việt Nam
gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế quốc tế nhiều hơn nữa thì hoạt động XNK
cũng như bảo hiểm đối vói hàng hóa hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển
trở thành tiềm năng lớn cho nền kinh tế. Hoạt động XNK tăng nhanh nhu cầu bảo
hiểm đối với hàng hóa XNK càng lớn và do đó hoạt động bảo hiểm hàng hóa
XNKđã trở thành tập quán trong ngoại thương nên nghiệp vụ này vẫn là nghiệp vụ
quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi DNBH. Mặt khác, trao đổi buôn
bán hàng hóa XNK hiện nay được vận chuyển chủ yếu bằng đường biển (khoảng
90%) do ưu điểm của loại hình vận chuyển này. Bảo hiểm hàng hóa XNK vận
chuyển bằng đường biển có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động ngoại
thương của mọi quốc gia, đặc biệt là những nước mà vận tải biển là phương tiện
vận tải chủ yếu trong thương mại quốc tế ở Việt Nam. Do đó, việc phát triển và
hoàn thiện các vấn đề trong nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng
đường biển là một yêu cầu quan trọng trong sự phát triển của mỗi DNBH nói riêng
và trong toàn ngành BH nói chung, nhất là khi trong điều kiện thị trường trong
nước và quốc tế có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay.
Nghiệp vụ BH hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển ra đời, được triển
khai từ rất sớm và phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Song ở Việt Nam, triển
khai nghiệp vụ bảo hiểm này còn rất nhiều khó khăn.
Trong thời gian thực tập ở công ty bảo hiểm quân đội – MIC Thăng Long nhận
thấy được vị trí và vai trò quan trọng của hoạt động khai thác BH hàng hóa XNK
vận chuyển bằng đường biển, em quyết định chọn đề tài



CQ 46/03.01


Luận văn tốt nghiệp

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XNK VẬN
CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.1 TỎNG QUAN VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN
CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN.
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển về bảo hiểm hàng vận chuyển bằng đường
biển
* Trên thế giới
Bảo hiểm hàng hải đã có lịch sử rất lâu đời. Nó ra đời và phát triển cùng với sự
phát triển của hàng hóa và ngoại thương. Khoảng thế kỷ V trước công nguyên, vận
chuyển hàng hoá bằng đường biển đã ra đời và phát triển người ta biết tránh tổn
thất toàn bộ một lô hàng bằng cách chia nhỏ, phân tán chuyên chở trên nhiều
thuyền khác nhau. Đây có thể nói là hình thức sơ khai của bảo hiểm hàng hoá. Đến
thế kỷ thứ XII thương mại và giao lưu hàng hoá bằng đường biển giữa các nước
phát triển. Năm 1182 ở Lomborde - Bắc Ý, hợp đồng bảo hiểm hàng hoá đã ra đời,
trong đó người bán đơn này cam kết với khách hàng sẽ thực hiện nội dung đã ghi
trong đơn. Từ đó hợp đồng bảo hiểm, người bảo hiểm đã ra đời với tư cách như là
một nghề riêng độc lập. Năm 1468 tại Venise nước Ý đạo luật đầu tiên về bảo hiểm
hàng hải đã ra đời. Sự phát triển của thương mại hàng hải đã dẫn đến sự ra đời và
phát triển mạnh mẽ của bảo hiểm hàng hải và hàng loạt các thể lệ, công ước, hiệp
ước quốc tế liên quan đến thương mại và hàng hải như: Mẫu hợp đồng bảo hiểm
của Lloyd's 1776 và Luật bảo hiểm của Anh năm 1906 (MiA - Marine insurance

Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt). Công ty Bảo hiểm Việt Nam được thành
lập ngày 17/12/1964 theo Quyết định số 179/CP và chính thức đi vào hoạt động
ngày 15/1/1965. Trước năm 1964 Bảo Việt chỉ làm đại lý bảo hiểm hàng hoá XNK
cho công ty Bảo hiểm nhân dân Trung Quốc trong trường hợp mua theo giá FOB,
CIF và bán theo giá CIF với mục đích là học hỏi kinh nghiệm. Từ năm 1965 –
1975, Bảo Việt mới triển khai ba nghiệp vụ bảo hiểm đối ngoại trong đó có bảo
hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu. Từ sau 1970 Bảo Việt có quan hệ tái bảo hiểm với
Liên Xô (cũ), Ba Lan, Triều Tiên. Trước đó Bảo Việt chỉ có quan hệ tái bảo hiểm
với Trung Quốc. Từ năm 1975 - 1992 Bảo Việt đã triển khai thêm nhiều nghiệp vụ
và mở rộng phạm vi hoạt động. Từ chỗ chỉ có quan hệ tái bảo hiểm với một số
nước xã hội chủ nghĩa cũ thì trong thời kỳ này Bảo Việt đã có quan hệ đại lý, giám
định, tái bảo hiểm với hơn 40 nước trên thế giới. Năm 1965 khi Bảo Việt đi vào
hoạt động, Bộ Tài chính đã ban hành quy tắc chung về Bảo hiểm hàng hoá vận

Tài chính bảo hiểm

CQ 46/03.01


Luận văn tốt nghiệp

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

chuyển bằng đường biển. Gần đây, để phù hợp với sự phát triển thương mại và
ngành hàng hải của đất nước, Bộ Tài chính đã ban hành quy tắc chung mới - Quy
tắc chung 1990 (QTC-1990) cùng với Luật Hàng hải Việt Nam. Quy tắc chung này
là cơ sở pháp lý chủ yếu điều chỉnh các vấn đề về bảo hiểm hàng hoá XNK vận
chuyển bằng đường biển.
1.1.2. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng
đường biển

Bốn là, hàng hóa XNK thường là những hàng hóa có giá trị cao, những vật tư
rất quan trọng với khối luợng rất lớn nên để có thể giảm bớt thiệt hại do các rủi ro
có thể xảy ra, việc tham gia bảo hiểm hàng hóa XNK trở thành một nhu cầu cần
thiết.
Năm là, bảo hiểm hàng hóa XNK đã có lịch sử rất lâu đời do đó việc tham gia
bảo hiểm hàng hóa cho hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển đã trở thành
một tập quán, thông lệ quốc tế trong hoạt động ngoại thương.
Như vậy, việc tham gia bảo hiêm cho hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường
biển là rất quan trọng và ngày càng khẳng định vai trò của nó trong thương mại
quốc tế.
1.1.2.2 Vai trò của bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển
Cũng như các loại hình bảo hiểm khác, vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất
nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển hết sức to lớn đối với người mua bảo hiểm,
doanh nghiệp bảo hiểm và cho quốc gia.


Đối với người mua bảo hiểm

-

Được đảm bảo về mặt tài chính khi có rủi ro xảy ra cho hàng hoá

được bảo hiểm.
-

Giảm bớt rủi ro xảy ra cho hàng hoá do thực hiện các biện pháp

đề phòng hạn chế tổn thất, tăng cường công tác bảo quản kiểm tra khi hàng hoá
được tham gia bảo hiểm.
-

giúp các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội cạnh tranh với các công ty nước ngoài,
học hỏi kinh nghiêm đồng thời mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế.
 Đối với quốc gia
Bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển đem lại lợi ích cho nền
kinh tế quốc dân, góp phần tiết kiệm và tăng thu ngoại tệ cho nhà nước. Khi các
đơn vị kinh doanh nhập khẩu hàng hóa theo giá FOB,CF và xuất khẩu theo giá CIF,
CIP sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh của bảo hiểm trong nứớc và nước ngoài. Nhờ có
hoạt động bảo hiểm trong nước mà các chủ hàng không phải mua bảo hiểm ở nứớc
ngoài, nói cách khác là không phải xuất khẩu vô hình.
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT
NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN.
1.2.1.Các loại rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu
1.2.1.1 Rủi ro trong bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển
* Định nghĩa
Rủi ro trong bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển là những tai
nạn, tai họa, sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên hoặc những mối đe dọa
nguy hại, khi xảy ra sẽ gây tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm. Ví dụ như: tàu
đắm, hàng mất, hàng bị đổ vỡ, hư hỏng…
*Phân loại rủi ro
Xét về mặt bảo hiểm có thể chia ra:
- Rủi ro thông thường được bảo hiểm: là các rủi ro được bảo hiểm một cách
bình thường theo điều kiện bảo hiểm gốc: A, B hoặc C. Đây là những rủi ro mang
tính chất bất ngờ, ngẫu nhiên, xảy ra ngoài ý muốn của người được bảo hiểm, như
là thiên tai, tai họa của biển, tai nạn bất ngờ khác, tức gồm cả rủi ro chính và rủi ro
phụ.

Tài chính bảo hiểm

CQ 46/03.01


*Nếu căn cứ vào tính chất liên quan về quyển lợi và trách nhiệm của các bên với
tổn thất:

-

Tổn thất riêng là tổn thất chỉ gây thiệt hại cho riêng quyền lợi của một hoặc
một số chủ hàng trên tàu và chỉ liên quan đến quyền lợi của những chủ hàng, những
người bảo hiểm cho chủ hàng đó mà thôi. Tổn thất riêng có thể là tổn thất bộ phận
hoặc tổn thất toàn bộ của chủ hàng riêng biệt.

-

Tổn thất chung: tổn thất chung gây ra bởi hoặc do hậu quả của hành động tổn
thất chung, đó là sự hi sinh một số ít quyền lợi của chủ hàng và chủ tàu nhằm cứu

Tài chính bảo hiểm

CQ 46/03.01


Luận văn tốt nghiệp

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

vãn an toàn cho tất cả các quyền lợi chung trên hành trình khi có nguy cơ đe doạ.
Hành động tổn thất chung là hành động tự nguyện, có chủ ý của con người nhằm
đem lại an toàn chung cho toàn bộ hành trình. Hành động tổn thất chung thường
xảy ra trong các tình huống: tàu có nguy cơ bị đắm, gặp hoả hoạn trên tàu, tàu mắc
cạn, tàu bị cướp…
Trong bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển, tổn thất và rủi ro


Nguyễn Thị Quỳnh Trang

kết hợp cả các phương tiện vận chuyển khác trong liên hiệp vận chuyển (vận
chuyển đa phương thức).
-

Phạm vi bảo hiểm: Người mua bảo hiểm có thể lựa chọn một trong ba điều
kiện bảo hiểm A, B, C để bảo hiểm cho hàng hóa của mình. Phạm vi bảo hiểm của
điều kiện bảo hiểm A tương tự như ICC 1982, riêng điều kiện bảo hiểm B, C trách
nhiệm người bảo hiểm cộng thêm trách nhiệm đối với hàng hàng hóa chở trên tàu
bị mất tích.

-

Loại trừ bảo hiểm: tương tự như trong ICC 1982.

-

Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm: hợp đồng bảo hiển hàng hóa vận chuyển
bằng đường biển bắt đầu có hiệu lực từ khi hàng hóa rời kho hay nơi chứa hàng tại
địa điểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm để bắt đầu vận chuyển và tiếp tục có hiệu
lực trong suốt quá trình vận chuyển bình thường.

-

Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm: Số tiền bảo hiểm của hàng hóa được xác
định dựa trên cơ sở giá trị của hàng hóa do người được bảo hiểm khai báo. Người
bảo hiểm có thể kê khai theo giá trị hàng hóa tại nơi đến để tham gia bảo hiểm. Về
cơ bản, số tiền bảo hiểm của hàng hóa bằng giá hàng hóa ghi trên hóa đơn cộng chi

tin được thực hiện bằng cách chủ hàng làm giấy yêu cầu bảo hiểm để gửi cho người
bảo hiểm. Thông thường, giấy yêu cầu bảo hiểm bao gồm những nội dung chủ yếu
sau: tên người được bảo hiểm, tên hàng hóa cần được bảo hiểm, loại bao bì, cách
đóng gói và ký mã hiệu của hàng hóa, trọng lượng hay số lượng hàng hóa cần được
bảo hiểm, tên tàu biển và loại phượng tiện vận chuyển, cách thức xếp hàng xuống
tàu, nơi bắt đầu vận chuyển, chuyển tải, nơi nhận hàng, ngày thánh phương tiện
chở hàng bắt đầu rởi bến, giá trị hàng hóa cần được bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm,
nơi thanh toán bồi thường, những thông tin cần thiết khác …
Trên cơ sở giấy yêu cầu bảo hiểm, người bảo hiểm đánh giá rủi ro và quyết định
chấp nhận bảo hiểm hay không. Hợp đồng bảo hiểm coi như đã kí kết khi người
bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm bằng văn bản. Căn cứ vào giấy yêu cầu bảo hiểm,
người bảo hiểm cấp đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm. Nếu không có
thỏa thuận gì khác, người được bảo hiểm phải thanh toán phí bảo hiểm cho người
bảo hiểm ngay sau khi nhận được đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm.
1.2.3 Hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển là một văn bản
trong đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho người tham gia bảo hiểm các
tổn thất của hàng hóa theo các điều kiện bảo hiểm đã ký kết còn người tham gia
bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm.


Các loại hợp đồng

Có hai loại hợp đồng bảo hiểm hàng hoá được áp dụng trong thực tế là: hợp
đồng bảo hiểm chuyến và hợp đồng bảo hiểm bao.
- Hợp đồng bảo hiểm chuyến ( Insurance certificate)
Hợp đồng bảo hiểm chuyến là loại hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàng vận
chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác. Hợp đồng bảo hiểm chuyến là hợp đồng

Tài chính bảo hiểm



Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển bắt đầu có hiệu
lực từ khi hàng rời kho hay nơi chứa hàng tại địa điểm ghi trong hợp đồng bảo
hiểm để bắt đầu vận chuyển, tiếp tục có hiệu lực trong suốt quá trình vận chuyển
bình thường và kết thúc tại một trong các thời điểm sau tuỳ vào thời điểm nào đến
trước:

Tài chính bảo hiểm

CQ 46/03.01


Luận văn tốt nghiệp
-

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Khi giao hàng vào kho hay nơi chứa hàng cuối cùng đã thoả thuận trong hợp
đồng bảo hiểm.

-

Khi giao hàng vào kho hay bất kỳ nơi chứa hàng nào khác mà người được
bảo hiểm chọn dùng làm nơi chia hay phân phối hàng hoặc nơi chứa hàng ngoài
quá trình vận chuyển bình thường.

-


STBH là giới hạn tối đa của số tiền bồi thường.

Tài chính bảo hiểm

CQ 46/03.01


Luận văn tốt nghiệp
-

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Bồi thường bằng tiền và nộp phí BH bằng loại tiền tệ nào thì bồi thường
bằng loại tiền đó.

-

Khi trả tiền bồi thường, DNBH sẽ khấu trừ các khoản tiền mà người được
BH đã đòi từ người thứ 3 ( là người liên quan trong việc gây ra tổn thất cho hàng
hóa ). Nếu hợp đồng BH có mức miễn thường thì khi tính toán số tiền bồi thường
cũng cần xem xét đến mức miễn thường.
1.3.CÔNG TÁC KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT
NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN.
1.3.1. Vai trò
Thị trường bảo hiểm ngày càng trở nên sôi động, các doanh nghiệp bảo hiểm
cạnh tranh gay gắt để giành được nhiều thị phần hơn. Do đó, bất kỳ doanh nghiệp
bảo hiểm cũng chú trọng vào khâu khai thác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
công tác khai thác. Công tác khai thác là khâu quan trọng nhất, là khâu đầu tiên của
một nghiệp vụ bảo hiểm, hiệu quả của các khâu tiếp theo phụ thuộc vào khâu khai

trong khả năng thanh toán. Đặc biệt, hầu hết các hợp đồng bảo hiểm hàng hoá
XNK thường có giá trị lớn, nếu không thận trọng trong khâu khai thác thì sẽ dễ gây
hậu quả nghiêm trọng về sau.
-

Thông qua khâu khai thác, công ty đánh giá đươc quy mô khách hàng, xác

định được đâu là khách hàng tiềm năng, xem xét được hoạt động khai thác cũng
như chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đã tốt hay chưa. Từ đó có biện pháp
điều chỉnh kịp thời để có giải pháp và chính sách phù hợp.
Công tác khai thác bảo hiểm thực sự có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nên cần phải được chú trọng để thực hiện tốt khâu này.


Đối với người mua bảo hiểm
- Thông qua hoạt động giới thiệu, tư vấn của cán bộ khai thác bảo hiểm, người
mua bảo hiểm phần nào hiểu được ý nghĩa cũng như kiến thức cơ bản của bảo hiểm
hàng hoá xuất nhập khẩu. Nhờ sự tư vấn của cán bộ khai thác mà người mua bảo
hiểm biết cách đề phòng, hạn chế tổn thất có thể xảy ra.
- Thông qua biểu phí mà công ty bảo hiểm cung cấp, người mua bảo hiểm có
thể so sánh giá cả giữa các công ty để lựa chọn cho mình công ty bảo hiểm tin cậy
nhất.
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến khai thác bảo hiểm hàng hóa XNK vận
chuyển bằng đường biển.
* Sự tăng trưởng về XNK hàng hóa: có thể khẳng định rằng đây là nhân tố
ảnh hưởng trực tiếp đến công tác khai thác bảo hiểm. Doanh nghiệp chỉ có thể bán
được sản phẩm của mình cho những khách hàng có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm đó.
Đối với bảo hiểm hàng hóa XNK, khi có sự gia tăng về mặt lượng nghĩa là cầu trên
thị trường gia tăng, thì đó là điều kiện thuận lợi cho các công ty bảo hiểm đẩy mạnh
công tác khai thác của mình.

trường bảo hiểm như có sự tham gia của các công ty bảo hiểm 100% vốn đầu tư
nước ngoài và không hạn chế số lượng chi nhánh trong nước, cho phép công ty bảo
hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ bảo hiểm bắt buộc... đặt ra
cho các công ty bảo hiểm Việt Nam không ít thử thách trong khâu khai thác khi
phải cạnh tranh với các công ty bảo hiểm, môi giới bảo hiểm nước ngoài.
* Các nhân tố tự nhiên: các nhân tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu, môi
trường sinh thái… ảnh hưởng đến khả năng xảy ra rủi ro, làm tăng hoặc giảm nhu
cầu bảo hiểm. Đặc biệt đối với vận tải biển thì điều kiện này có ảnh hưởng rất lớn.
Môi trường hoạt động, thời tiết, điều kiện thủy văn trên mặt biển luôn ảnh hưởng
đến quá trình chuyên chở. Những rủi ro thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển thường
gây ra những tổn thất lớn cho tàu, hàng hóa và sinh mạng của con người.

Tài chính bảo hiểm

CQ 46/03.01


Luận văn tốt nghiệp

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

1.3.3. Quy trình khai thác bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường
biển.
Mỗi một doanh nghiệp bảo hiểm có quy trình, chiến lược khai thác bảo hiểm
hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển riêng, nhưng hiện nay về cơ bản thì
quá trình xem xét khai thác bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển
đều trải qua các bước sau:
Bước 1) Tiếp nhận thông tin
KTV có nhiệm vụ thường xuyên tiếp xúc với khách hàng hoặc cơ quan quản lý,
đại lý, môi giới, cộng tác viên… nhằm kịp thời nắm bắt nhu cầu của khách hàng và

- Trường hợp những dịch vụ đặc biệt có giá trị lớn, tính kỹ thuật phức tạp hoặc
trên phân cấp KTV cần đề xuất với lãnh đạo phòng, lãnh đạo công ty phương án
đàm phán tối ưu.
- KTV có thể từ chối nhận bảo hiểm.
Bước 4) Đàm phán và chào phí
- Trường hợp phải tham khảo phí bảo hiểm của thị trường tái bảo hiểm thì chỉ
chào phí cho khách hàng sau khi đã nhận được thông báo phí của thị trường tái bảo
hiểm. Các nội dung cần có trong bản chào phí là: điều kiện bảo hiểm, quy tắc bảo
hiểm áp dụng, giá trị bảo hiểm, mức khấu trừ, thời hạn bảo hiểm, phạm vi hoạt
động, tỷ lệ phí, phí bảo hiểm.
- Phí bảo hiểm đã chào cho khách hàng nhưng chưa được chấp thuận, lãnh đạo
phòng và lãnh đạo công ty có thể gặp mặt, trao đổi và tính toán lại phí.
- Trong quá trình đàm phán, các yếu tố liên quan như: quy tắc bảo hiểm, biểu
phí, hồ sơ, số liệu về khách hàng, chính sách khách hàng… cần được xem xét để
đưa ra mức phí phù hợp.
Bước 5) Chấp nhận bảo hiểm
- Khi khách hàng chấp nhận bản chào phí, đề nghị khách hàng gửi Giấy yêu
cầu bảo hiểm hoàn chỉnh, chính thức cho doanh nghiệp bảo hiểm.
- Trường hợp không thể liên lạc được qua fax, yêu cầu cần thiết… KTV có thể
nhận thông tin qua điện thoại để cấp đơn. Tuy nhiên, khi giao cho khách hàng phải
yêu cầu khách hàng ký Giấy yêu cầu bảo hiểm theo các thông tin đã khai báo qua
điện thoại.
- Đề nghị khách hàng kê khai rõ tất cả các mục trong giấy yêu cầu bảo hiểm.
Trường hợp khai thiếu về: số B/L; ký mã hiệu; trọng lượng; số kiện( do chưa được

Tài chính bảo hiểm

CQ 46/03.01





Luận văn tốt nghiệp

Nguyễn Thị Quỳnh Trang
CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG KHAI THÁC BẢO HIỂM HÀNG HÓA XNK
VẬN CHUYỂN TẠI CÔNG TY MIC – THĂNG LONG
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM CỔ PHẦN
QUÂN ĐỘI VÀ CÔNG TY BẢO HIỂM MIC- THĂNG LONG
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm quân đội (MIC) tiền thân là Công ty cổ phần
Bảo hiểm Quân đội được thành lập ngày 8/10/2007 theo Giấy phép thành lập và
hoạt động số 43GP/KDBH của Bộ Tài chính và là doanh nghiệp bảo hiểm đầu tiên
được thành lập theo Nghị định số 45/CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ với vốn
điều lệ là 300 tỷ đồng, hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ.
Trong giai đoạn đầu MIC cung các sản phẩm phi nhân thọ bao gồm: Bảo hiểm
sức khỏe, bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại, bảo
hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông và đường
hàng không, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy, nổ, bảo hiểm thân tàu và trách
nhiệm dân sự chủ tàu, baỏ hiểm trách nhiệm, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính,
bảo hiểm thiệt hại kinh doanh. Đồng thời MIC kinh doanh nhận và nhượng tái bảo
hiểm đầu tư vốn.
• Tên gọi đầy đủ: Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội
• Tên tiếng anh: Military Insurance Corporation
• Tên viết tắt: MIC
• Trụ sở chính: 54 - Lê Văn Lương (kéo dài )- Trung Văn – Từ Liêm – Hà
Nội.
Công ty Bảo hiểm Quân đội- MIC Thăng Long


P.PHH

PKD

PKD

PKD

PKD

PKD

PKD

số 1

Hai

Thanh

Tây

Thạch

Đống



Xuân

Bảo hiểm kỹ thuật bao gồm bao hiểm rủi ro xây dựng, rủi ro lắp đặt, thiết bị
chủ thầu.



Bảo hiểm xe cơ giới: Bảo hiểm TNDS chủ xe ô tô, xe máy; Bảo hiểm người
ngồi trên xe mô tô- xe máy; Bảo hiểm ô tô; bảo hiểm TNDS của chủ xe ô tô; TNDS
chủ xe đối với hàng hóa vận chuyển trên xe; Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người
ngồi trên xe; Bảo hiểm thiệt hại vật chất xe.



Bảo hiểm con người phi nhân thọ: Bảo hiểm bồi thường cho người lao động;
Bảo hiểm con người; Bảo hiểm tai nạn con người; Bảo hiểm sức khỏe toàn diện;
Bảo hiểm học sinh; Bảo hiểm du lịch; Bảo hiểm khách du lịch trong nước;bảo hiểm
người nước ngoài du lịch Việt; Bảo hiểm người Việt Nam du lịch toàn cầu; Bảo
hiểm tai nạn thuyền viên.



Bảo hiểm hàng hóa: Bảo hiểm hàng hóa xuất khẩu; Bảo hiểm hàng hóa nhập
khẩu; Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa.



Bảo hiểm tàu, thuyền: Bảo hiểm tàu pha sông biển( tàu ven biển); TNDS tàu
pha sông biển bao gồm hàng hóa; Bảo hiểm tàu biển; Bảo hiểm P$I; Bảo hiểm thân
tàu biển; Bảo hiểm thân tàu biển – định hạn; Bảo hiểm cho rủi ro nhà thầu đóng
tàu; Bảo hiểm rủi ro cho nhà thầu đóng tàu pha sông biển.




Kiểm tra và quản lí toàn bộ Đơn bảo hiểm hàng hải do công ty cấp.



Tổng hợp, báo cáo tổng kết công tác bảo hiểm hàng hải cho Tổng công ty.



Thông qua công tác quản lí, chỉ đạo, kiểm tra, phát hiện những yếu kém,
thiếu sót từ đó có biện pháp khắc phục hợp lí.



Thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất, quản lí rủi ro trong bảo
hiểm hàng hải.



Tham mưu cho giám đốc xây dựng kế hoạch doanh thu cho các nghiệp vụ
bảo hiểm hàng hải.
2.2 THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HÓA XNK VẬN CHUYỂN CỦA
VIỆT NAM.
2.2.1 Thực trạng bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển của Việt Nam
Lịch sử bảo hiểm hàng hóa XNK của Việt Nam đã có từ lâu. Ngay từ khi thành
lập ngày 15/1/1965, Công ty bảo hiểm Việt Nam đã bảo hiểm cho hàng hóa
XNKcủa nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa.Tuy nhiên cho đến nay, hoạt động
bảo hiểm cho hàng hóa XNK do các công ty bảo hiểm Việt Nam tiến hành vẫn còn
ở mức hạn chế, tốc độ tăng trưởng vẫn chưa cao, có giai đoạn theo chiều hường đi

hàng – tức là khi XK hàng hóa – người bán thường tìm mọi cách thường tìm mọi
cách để giao hàng với điều kiện tiền hàng + bảo hiểm + cước, còn gọi là bán giá
theo CIF. Điều đó có nghĩa là người bán ( người XK )giao hàng cho người mua
trên tàu của người bán, tại cảng của nước người mua ( người NK).Khi mua hàng
(NK), người mua lại luôn luôn đám phán để mua hàng theo điều kiện giao hàng
trên tàu còn gọi là mua hàng theo giá FOB. Ở nước ta, phần lớn các doanh nghiệp
kinh doanh XNK đang thực hiện theo phương thức ngược lại. Khi xuất khẩu, các
doanh nghiệp Việt Nam giao hàng theo giá FOB, tức là giao hàng cho bên mua trên
tàu của bên mua trên tàu của bên mua tại cảng Việt Nam. Khi mua hàng, phần lớn
doanh nghiệp của VN lại nhận hàng của bên bán trên tàu của bên bán tại cảng VN.
Đó là tập quán kinh doanh ở VN đã hình thành từ rất lâu vẫn tồn tại cho đến nay,
việc thay đổi tập quán cũ này khó thực hiện trong một sớm một chiều. Như vây, đối
với hoạt động NK, nếu nhập theo giá CIF, quyền vận tải và quyền baỏ hiểm thuộc
về nhà bảo hiểm nước ngoài. Với các quyền đó, đối tác nước ngoài tùy ý thuê tàu

Tài chính bảo hiểm

CQ 46/03.01


Luận văn tốt nghiệp

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

và mua bảo hiểm. Theo lẽ thường họ ký hợp đồng với các công ty bảo hiểm nước
ngoài vì thế có điều kiện phát triển hơn.
Thứ hai, năng lực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nhất là
khả năng về vốn còn nhiều hạn chế, chưa mang tầm quốc tế. Thêm vào đó, trình độ
cán bộ làm công tác bảo hiểm nói chung còn bất cập so với đòi hỏi của thị trường
mà còn non yếu so với mặt bằng thế giới. Theo đánh giá khách quan, các nhà XNK


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status