Sáng kiến kinh nghiệm Mầm non Một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số 5–6 tuổi - Pdf 76

UBND HUYỆN KRƠNG ANA
PHỊNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Tên đề tài:

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp
cho trẻ dân tộc thiểu số 5 – 6 tuổi

Lĩnh vực: Phát triển ngôn ngữ
Họ và tên tác giả: Vũ Thị Lợi
Đơn vị: Trường Mầm non Sơn Ca

Dray Sáp, tháng 03 năm 2019


MỤC LỤC
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU ................................................................................... 1
I. Đặt vấn đề .......................................................................................................... 1
II. Mục tiêu nghiên cứu: ........................................................................................ 3
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .............................................................. 3
I. Cơ sở lí luận của vấn đề: .................................................................................... 3
II. Thực trạng vấn đề: ............................................................................................ 5
III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề: ............................................ 8
IV. Tính mới của giải pháp: ................................................................................ 18
V. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm: ................................................................... 19
Phần thứ ba: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ......................................................... 20
1. Kết luận: .......................................................................................................... 20
2. Kiến nghị: ........................................................................................................ 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 24



1


huynh chưa hiểu hết vấn đề về học tập. Con cái muốn học hành thế nào cũng
được, họ ít quan tâm đến việc học của con em mình. Đối với trẻ thì khơng muốn
đi học vì đi học thì sẽ bị gị bó trong khn khổ, trẻ thích theo cha mẹ đi lên rẫy
để săn bắn chim, chăn trâu, chăn bò. Mặt khác còn một số hạn chế như: Trẻ nhút
nhát, tự ti và lung túng khi đứng trước đám đơng, chưa có kỹ năng hợp tác, làm
việc theo nhóm, chưa có kỹ năng thích ứng, kỹ năng giải quyết vấn đề, đặc biệt
kiến thức cịn nghèo nàn. Chính vì thế giáo viên phải đến tận nhà của trẻ để vận
động phụ huynh cho con đi học. Khi đến lớp các cháu tỏ ra e ngại, rụt rè, sợ cô
không muốn đi học vì trẻ khơng biết giao tiếp bằng Tiếng Việt mà chỉ biết nói
tiếng bản địa.
Trẻ dân tộc thiểu số có nhiều nhu cầu khác nhau cần được hỗ trợ khi đến
trường mầm non, một trong những nhu cầu quan trọng nhất đối với trẻ dân tộc
thiểu số là phát triển ngơn ngữ nói chung và tăng cường Tiếng Việt. Điều này
chứng minh trong báo cáo FDI năm 2012 và 2014 ( Bộ giáo dục và đào tạo) về
kết quả phát triển của trẻ em vùng dân tộc thiểu số ở các lĩnh vực khác nhau.
Kết quả báo cáo trên đã gợi ý cho chúng ta cần phải tập trung vào lĩnh vực phát
triển ngôn ngữ và giao tiếp trong quá trình giáo dục trẻ em vùng dân tộc thiểu
số. Chính vì vậy chúng ta cùng nhìn nhận và thực hiện tốt việc giáo dục kỹ năng
sống nói chung và kỹ năng giao tiếp nói riêng cho trẻ. Bên cạnh đó, cần có
những biện pháp cụ thể mang tính đặc thù cho nền giáo dục mầm non nói chung
và cho nền giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số nói
riêng đây là yêu cầu cần thiết và khách quan trong sự phát triển.
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những giải pháp giáo dục kỹ năng
giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số tại lớp lá 5 trường Mầm non Sơn Ca xã Dray
Sáp Huyện Krông Ana mà bản thân đã thực hiện trong quá trình giảng dạy trong
những năm học vừa qua.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu và đề ra những biện pháp giáo dục kỹ

từ sự phát triển ngôn ngữ sẽ tham gia trực tiếp vào sự phát triển của các lĩnh vực
khác. Bởi ngôn ngữ là phương tiện giao lưu tình cảm, phương tiện để trẻ nhận
thức khám phá tự nhiên.
Tiếng Việt là một môn học hết sức quan trọng đối với tất cả các bậc học
của nước ta hiện nay. Với trẻ là người dân tộc thiểu số, việc tăng cường Tiếng
3


việt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ dân tộc là một trong những vấn đề
đang được các cấp các ngành các trường học đặc biệt quan tâm. Nghị quyết
40/2002/NQ-QH của quốc hội khóa IX về đổi mới giáo dục phổ thông đã khẳng
định: Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông được đưa vào dạy học thống nhất trong
hệ thống giáo dục quốc dân. Tiếng việt trong nhà trường tồn tại với hai tư cách:
Vừa là một môn học vừa là công cụ giao tiếp, học tập của trẻ. Do đó trình độ
Tiếng Việt (vốn từ, kiến thức về tiếng việt và kỹ năng sử dụng vốn từ trong học
tập, giao tiếp) có vai trị và ảnh hưởng rất quan trọng đối với khả năng giao tiếp
và lĩnh hội các kiến thức của trẻ.
Mục đích của giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số là nhằm
phát triển tồn diện nhân cách nói chung và phát triển năng lực hành động của
trẻ nói riêng trong các mối quan hệ của trẻ ở gia đình, nhà trường và xã hội.
Mục đích của q trình giáo dục đó phải là hướng tới là hình thành ở trẻ các kỹ
năng hành vi, biết biểu lộ thái độ, quan điểm của mình trong giao tiếp với người
khác. Đó là trẻ có kĩ năng chào hỏi, nói lời cảm ơn, xin lỗi, biết cách lễ phép với
người lớn tuổi, có kỹ năng chia sẽ với người thân, bạn bè, những người xung
quanh niềm vui và nỗi buồn biết tự nhận thức về mình và người khác có kỹ năng
nghe và trả lời câu hỏi của bạn bè và người lớn tuổi, biết cách từ chối yêu cầu đề
nghị khi thấy không hợp lý, có khả năng xử lý tình huống trong quan hệ giao
tiếp, có kỹ năng giải quyết một số vấn đề cơ bản.
Đất nước Việt Nam ta có rất nhiều dân tộc anh em nhưng Tiếng việt là
ngôn ngữ chính để giao tiếp trao đổi với nhau thuận lợi hơn. Tuy nhiên trong

thiểu số là hoạt động cần thiết nhằm giúp học sinh chưa biết hoặc biết ít Tiếng
Việt có thể học tập và sử dụng Tiếng Việt là ngơn ngữ chính thức một cách đơn
giản hơn.
II. Thực trạng vấn đề:
Trong những năm gần đây được sự quan tâm của sở giáo dục và đào tạo, sự
chỉ đạo sát sao của bậc học Mầm non. Hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp cho
trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ dân tộc thiểu số nói riêng đã dần được đưa vào
một chuyên đề quan trọng.
Được sự chỉ đạo sát sao của cán bộ chun mơn phịng Giáo dục và Đào
tạo sự quan tâm của chính quyền địa phương, các ban ngành đồn thể sự ủng
5


hộ nhiệt tình của quý phụ huynh và Ban Giám Hiệu nhà trường thường xuyên
quan tâm, hỗ trợ kinh phí, đồ dùng học tập chuyên môn nhà trường thường
xuyên phân công dạy mẫu, thao giảng để bản thân cũng như các đồng nghiệp
học hỏi đúc rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng giảng dạy cũng như năng
lực chuyên môn.
Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số trước khi tới trường đều sống hồn tồn trong
mơi trường tiếng mẹ đẻ, khơng có vốn Tiếng việt ban đầu nên việc giáo dục kỹ
năng giao tiếp Tiếng việt cịn khó khăn, do điều kiện kinh tế khó khăn đa số phụ
huynh ở đây khơng biết chữ, phần lớn gia đình đều làm nơng nhận thức của bố
mẹ cịn hạn chế vì thế con em của họ khơng có điều kiện thuận lợi như những
đứa trẻ ở thành thị.
Đối với trẻ dân tộc thiểu số mơi trường học tập ở trường học cịn mới mẻ.
Đa số trẻ chưa biết nói Tiếng việt mà trẻ chỉ giao tiếp với nhau bằng tiếng địa
phương. Cộng với sự bất đồng ngơn ngữ giữa cơ và trẻ. Chính vì thế giáo dục kỹ
năng giao tiếp ở trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cần có sự kết hợp giữa gia đình,
nhà trường và xã hội để trẻ có được nền tảng và nhân cách tốt cho sau này.
Giáo dục mầm non có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nhân cách

tăng cường những nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp chưa được tiến hành
thường xuyên nhằm giúp trẻ tự tin, tự chủ bộc lộ thái độ và hành vi, kỹ năng
trong các hoạt động.
Việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ hiện nay chưa mang lại kết quả
như mong muốn, những biện pháp đã sử dụng trước đây như tạo mơi trường,
tích hợp lồng ghép, thơng qua hoạt động vui chơi chưa đạt hiệu quả cao cụ thể
như: Vào đầu năm học, tôi đã chủ động kiểm tra, khảo sát trẻ 35 trẻ lớp lá 5
trường Mầm non Sơn Ca để thấy được thực trạng sử dụng những kỹ năng giao
tiếp hằng ngày của trẻ đạt kết quả như sau:

7


Những kỹ năng giao tiếp hằng ngày
của trẻ

Trước khi chưa

Tỷ lệ

có biện pháp thực hiện

Trẻ lắng nghe thấu hiểu

15/35

42%

Nói lời u cầu đề nghị


12/35

34%

Nói lời từ chối yêu cầu, đề nghị

10/35

28%

Bảng 1: Những kỹ năng giao tiếp hằng ngày của trẻ trong quá trình khảo sát.
Kết quả khảo sát cho thấy các kỹ năng giao tiếp cơ bản của trẻ còn nhiều
hạn chế, đây là những kỹ năng được sử dụng hằng ngày, thường xuyên và rất
quan trọng đối với trẻ dân tộc thiểu số khi tham gia vào các hoạt động ở trường.
Từ những điều kiện đặt nêu trên bản thân đã tìm ra những giải pháp, biện pháp
để thực hiện trong thời gian vừa qua và thời gian tiếp theo tại lớp đạt hiệu quả
nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục.
III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
Nhằm đánh giá đúng thực trạng và tình hình trên tơi đã mạnh dạn đưa ra
các biện pháp và mục tiêu chính của giải pháp để giải quyết vấn đề về giáo dục
kỹ năng giao tiếp cho trẻ em người dân tộc thiểu số. Giúp trẻ phát triển toàn diện
các lĩnh vực như: Phát triển về thể chất, tình cảm, nhận thức, ngơn ngữ, thẩm
mỹ. Hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp
1, hình thành ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất
mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi
dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở
cấp học tiếp theo và cho việc học suốt đời. Giúp giáo viên làm tốt công tác
giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ để đạt được hiệu quả cao hơn. Nâng cao
trình độ chun mơn nghiệp vụ và kỹ năng tư vấn tuyên truyền kiến thức nuôi
8

hiểu. Trẻ cần cảm nhận được vị trí, kiến thức của mình trong thế giới xung
quanh. Đây là một kỹ năng cơ bản và khá quan trọng đối với trẻ, nó có vị trí khá
9


chính yếu so với tất cả các kỹ năng khác như: Đọc, viết...Nếu trẻ cảm thấy thoải
mái khi nói về một ý tưởng hay một chính kiến nào đó, trẻ sẽ dễ dàng học và sẵn
sàng tiếp nhận những suy nghĩ mới. Đây chính là yếu tố cần thiết để giúp trẻ sẵn
sàng học mọi thứ.
+ Kỹ năng sống tự tin: Ngay từ khi đến lớp giáo viên nên khuyến khích
động viên trẻ giới thiệu tên của mình với các bạn trong lớp. Nghĩa là giúp trẻ
cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những
người khác. Kỹ năng này giúp trẻ ln cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở
mọi nơi, mọi lúc. Thể hiện khả năng, năng khiếu của bản thân trước tập thể như:
Biết tự giới thiệu về bản thân, tham gia các chương trình văn nghệ, biểu diễn
thời trang… Ví dụ: Trẻ tự tin đứng trước mọi người giới thiệu tên của mình và
hát 1 bài hát yêu thích.
+ Kỹ năng lao động tự phục vụ: Trẻ ở lứa tuổi MN còn rất vụng về, khi để
trẻ tự xúc ăn có thể bố, mẹ hoặc cơ giáo thấy trẻ lúng túng thì lại đút cho trẻ ăn
để tránh rơi vãi, hoặc là khi đến lớp bố mẹ khơng để cho con cất giầy dép, cởi
bớt áo khốc, cất ba lô mà lại làm giúp cho con. Nhưng giáo viên phải xác định
rằng đó là cách trẻ học làm người lớn, để cho trẻ tự cần thìa xúc cơm ăn, lúc đầu
có thể chưa quen nhưng sau đó dần dần trẻ sẽ thành thục trong việc tự phục vụ
cho mình trong ăn uống. VD: Tự đi giày dép, uống nước, tự lấy nệm, lấy gối cho
mình (trẻ lớp mầm)…tự mặc quần áo, cùng với cô và các bạn kê dọn bàn ăn, tự
đánh răng sau khi ăn, tự rửa mặt …
+ Kỹ năng sống hợp tác: Khi dạy trẻ kỹ năng hợp tác cần giúp trẻ hiểu có
những cơng việc một mình sẽ khơng thể làm được. VD Trong giờ hoạt động góc
trẻ hợp tác cùng bạn xây dựng ngơi nhà, khu vui chơi… Chính vì vậy phải có sự
hợp tác của các thành viên trong nhóm.

lồng ghép nội dung này, từ đó đánh giá được đúng mức trình độ của từng giáo
viên để có kế hoạch bồi dưỡng, góp ý. Với những giáo viên khá, giỏi cần hướng
cho giáo viên cách tổ chức các tiết dạy và các hoạt động có lồng ghép nội dung
giáo dục kỹ năng giao tiếp với nhiều hình thức sáng tạo, hấp dẫn. Cách làm đồ
dùng, đồ chơi, sáng tác thơ ca, truyện kể có nội dung về giáo dục kỹ năng giao
tiếp. Với những giáo viên mới và có chun mơn trung bình, Ban giám hiệu đã
tập trung bồi dưỡng về chuyên môn, tác phong sư phạm khi lên lớp, cách tổ
chức các giờ dạy theo chủ đề, cách lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống
11


cho trẻ sao cho phù hợp và có hiệu quả. Với việc tổ chức các hoạt động mẫu và
dự giờ giáo viên thường xuyên, bổ sung góp ý cho giáo viên theo đúng khả
năng, chất lượng của giáo viên trong trường đã được nâng lên một cách rõ rệt.
Việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ cũng được thực hiện
thường xuyên hơn ở trong tất cả các hoạt động.
Biện pháp 2: Tổ chức hoạt động tăng cường Tiếng Việt trong việc giáo dục
kỹ năng giao tiếp cho trẻ .
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người trong xã
hội. Ngôn ngữ chính là q trình con người sử dụng tiếng nói để giao tiếp với
nhau. Trong quá trình giao tiếp, con người biểu hiện ý nghĩ và cảm xúc nhờ
tiếng nói, do đó để hiểu nhau cùng tiến hành các hoạt động. Thế nhưng đối với
trẻ dân tộc thiểu số ở đây mà nói mơi trường giao lưu hạn chế, trẻ thường sử
dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp với nhau, trẻ học Tiếng việt với tư cách là ngôn
ngữ thứ hai trẻ thường phát âm khơng chuẩn và có thói quen sử dụng tiếng mẹ
đẻ trong giao tiếp và vui chơi kể cả khi ở trong lớp. Bên cạnh đó hiểu biết về
cuộc sống và kỹ năng tiếng mẹ đẻ của trẻ kém ảnh hưởng đến việc tiếp nhận
Tiếng Việt của trẻ.Một trong những nhu cầu quan trọng nhất đối với nhóm trẻ ở
đây là phát triển ngơn ngữ nói chung và tăng cường tiếng việt. Điều này đã được
chứng minh trong báo cáo EDI nă 2012 và 2014 (Bộ giáo dục và đào tạo ) và kết

- Ví dụ: Trong câu chuyện “ Chú dê đen”
+ Bản thân đã sử dụng con rối để giới thiệu từng nhân vật (dáng đi, tiếng
kêu)tính đặc điểm bề ngoài của nhân vật.
+ Cho trẻ xem tranh và giới thiệu các từ và cho trẻ phát âm nhiều lần.
+ Khuyến khích trẻ các cụm từ chính vào hoạt động kể chuyện.
+ Đặt câu hỏi trước, trong và sau khi kể chuyện? Đây là con gì? Nó là con
vật sống ở đâu?
Thường xuyên cho trẻ hát những bài hát, đồng giao thể hiện nền văn hóa
của địa phương.
Hỗ trợ chăm sóc vệ sinh, hỗ trợ dinh dưỡng hằng ngày cho trẻ như: Cho trẻ
gọi tên món ăn, những loại thực phẩm mà trẻ được ăn hằng ngày.
Phương pháp đưa hoạt động “Tăng cường Tiếng Việt” cho trẻ mọi lúc mọi
nơi bản thân nhận thấy ngôn ngữ của trẻ phát triển đáng kể. Trẻ tự tin mạnh dạn
13


hơn, khơng rụt rè, nhút nhát. Trẻ có thể sử dụng thành thạo Tiếng Việt mà ít nói
tiếng mẹ đẻ hơn.Từ đó trẻ mạnh dạn giao tiếp với cơ giáo với bạn bè hơn.

Hình 3: Tạo mơi trường tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số mọi
lúc mọi nơi.
Biện pháp 3: Tăng cường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu
số thơng qua các góc hoạt động.
Lớp học, trường học là môi trường thuận lợi trong việc phát triển tri thức tư
duy và ngôn ngữ giao tiếp; lớp học và trường học như một xã hội thu nhỏ, ở đó
các em được học tập, vui chơi khám phá và tìm tịi. Trẻ sẽ được hịa mình vào
những mối quan hệ giao tiếp rộng hơn.
Đối với trẻ mầm non chơi mà học, học bằng chơi, hoạt động vui chơi chiếm
vai trò chủ đạo trong hoạt động của trẻ lúc ở trường. thông qua giờ chơi trẻ đóng
vai khác nhau trong xã hội, đóng vai và tái hiện lại những gì trẻ đã thấy trong

hiện với vai mình đóng. Qua vai chơi trẻ biết điều chỉnh cách nói chuyện thân
thiện và xa lạ. Qua đó trẻ học được kỹ năng đó là: Nói chuyện trong khi chơi với
bạn, lắng nghe bạn nói, bắt chước bạn học được những từ mới, nói về cảm xúc
của bản thân; trẻ được trao đổi, thỏa thuận, chào hỏi….
- Khi tham gia ở góc tạo hình:
+ Tạo hình là hoạt động nghệ thuật ln được trẻ ưa thích, tạo cơ hội cho
trẻ được thử nghiệm, sáng tạo, khám phá mới, thích thú và trẻ được tiếp nhận
cảm xúc.
Qua hoạt động này trẻ được trò chuyện trao đổi với nhau khi vẽ; được miêu
tả , kể mình vẽ cái gì?
15


- Đối với góc xây dựng, lắp ghép: Trẻ được cung cấp nhiều cơ hội để
phát triển óc tưởng tượng, sang tạo, giúp phát triển kỹ năng giao tiếp, ở đây
trẻ được lắng nghe, trao đổi thảo luận với bạn, lắng nghe ý kiến của bạn, đề
nghị bạn giúp đỡ, chia sẽ đồ chơi, hợp tác giúp đỡ bạn, được miêu tả những gì
mình đã xây dựng.
- Đối với góc âm nhạc: Trẻ được lắng nghe giai điệu, nhịp điệu âm thanh
nhận ra những âm thanh từ những nhạc cụ khác nhau.
Trong mỗi giờ lên lớp, trong mỗi hoạt động bản thân đều khuyến khích trẻ
chủ động trong giờ học không những tăng cường mối quan hệ giữa cô và trẻ mà
cịn giúp trẻ có cơ hội được thể hiện ;được trải nghiệm thực tế và kỹ năng của
mình khắc phục tính nhút nhát và thiếu tự tin trong giao tiếp. Chính vì thế trẻ
cảm thấy lúc ở bên cơ sẽ được an toàn, trẻ chủ động mạnh dạn khi giao tiếp với
bạn bè và cô giáo. Trẻ hạn chế nói trống rỗng, nói tục mà biết sử dụng những
ngơn ngữ giao tiếp đơn giản, biết thể hiện sắc thái phù hợp hơn nâng cao chất
lượng giáo dục hơn so với đầu năm học.
Biện pháp 4: Sử dụng phương pháp nêu gương trong các hoạt động hằng ngày.
Phương pháp nêu gương là giáo viên dùng những tấm gương sáng của cá

chức hoạt động giao tiếp.
Giáo viên đã cố gắng học hỏi, tìm cơ hội để giao tiếp với phụ huynh, tìm
hiểu về phong tục tập quán và lối sống của họ dần dần bản thân đã tự học được
một số tiếng địa phương của trẻ, sự bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trẻ dần dần
được cải thiện.
Kết hợp tổ chức các buổi nói chuyện thảo luận với phụ huynh như: Tổ chức
các cuộc họp phụ huynh đầu năm, giữa kì và cuối kỳ, tổ chức lễ khai giảng, tổng
kết năm học. Qua đó kết hợp lồng ghép tích cực các chuẩn mực đạo đức phù hợp
đối với trẻ. Trao đổi với phụ huynh để họ quan tâm sát sao hơn nữa, quan tâm
đến những hành vi của trẻ, kịp thời thông báo đến cô và nhà trường những hành
vi không đúng của trẻ khi ở nhà. Nói cho phụ huynh biết giáo dục chính là yếu
tố quyết định về nhân cách con người sau này. Chính vì thế phụ huynh cần hình
thành cho trẻ kỹ năng giao tiếp ngay từ đầu như: Trẻ biết chào hỏi, biết nói lời
cảm ơn, biết thành thật nói lời xin lỗi người lớn hay bạn bè khi làm sai, biết lắng
17


nghe người khác nói, biết giải quyết những vấn đề đơn giản …dần dần sẽ tạo
thành thói quen.

Hình 1: Khai giảng năm học
IV. Tính mới của giải pháp:
Với những biện pháp cũ, phương pháp dạy học không thay đổi, cô giáo áp
đặt các hình thức hoạt động, trẻ chỉ thụ động, nhàm chán, làm cho trẻ càng ngày
càng ít hứng thú, khơng tích cực tham gia vào hoạt động.
Cịn với những biện pháp mới, giáo viên tìm hiểu, nắm rõ tâm tư nguyện
vọng của từng trẻ, cho trẻ hoạt động một cách tích cực, chú trọng thay đổi hình
thức để tăng tính kích thích, sáng tạo, hứng thú cho trẻ với nhiều hình thức,
thơng qua các hoạt động hằng ngày của trẻ. Ban đầu mức độ sử dụng các kỹ
năng giao tiếp của trẻ chưa được cao, có thành thạo nhưng chiếm tỷ lệ tương đối

V. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm:
Như đã trình bày ở mặt hạn chế, do giới hạn của phạm vi nghiên cứu,
những giải pháp đề tài mới chỉ được áp dụng tại lớp Lá 5 trường mầm non Sơn
Ca, chưa có điều kiện khảo nghiệm, áp dụng rộng rãi ở nhiều đối tượng. Chính
vì vậy để mang lại hiệu quả cao nhất trong việc giúp trẻ 5 tuổi thực hiện tốt việc
giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả
cơng tác chăm sóc giáo dục cho trẻ mầm non. Cần phải triển khai đồng bộ,
thường xuyên tất cả các giải pháp nêu trên.
Qua một thời gian tôi sử dụng các biện pháp trên áp dụng cho các cháu ở lớp
lá 5, tơi thấy có sự chuyển biến một cách rõ rệt và kết quả có sự chênh lệch giữa tỉ
lệ trước khi thực hiện đề tài và sau khi thực hiện đề tài như sau:
19


Những kỹ năng giao

Trước khi

tiếp hằng ngày của trẻ

chưa thực hiện

hiện giải pháp

tăng so

biện pháp

Tháng 9/2018



12/35

34%

32/35

91%

57%

Xử lý tình huống

10/35

28%

30/35

85%

57%

Giải quyết vấn đề

11/35

31%

31/35


12/35

34%

30/35

85%

51%

Nói lời từ chối yêu cầu,

10/35

28%

31/35

88%

60%

đề nghị
Bảng 2: Kết quả khảo sát kỹ năng giao tiếp của 35 trẻ sau khi thực hiện
giải pháp

Phần thứ ba: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Trong hoạt động giảng dạy và tổ chức các hoạt động hằng ngày cho trẻ

Để thực hiện tốt cơng tác chăm sóc giáo dục trẻ, tơi mong được sự giúp đỡ
của các cấp lãnh đạo, các đồng nghiệp giúp đỡ tôi về chuyên môn cũng như tạo
điều kiện để tôi được học hỏi kinh nghiệm của trường bạn.
Cần nâng cao nhận thức vai trò của giao tiếp, kỹ năng giao tiếp cho cán bộ
quản lý, giáo viên, trẻ, gia đình và các lực lượng xã hội từ đó có những biện
pháp tổ chức, chỉ đạo và quản lý hoạt động giáo dục nói chung, giáo dục giao
tiếp, kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số một cách hiệu quả.
Xây dựng tổ chức thực hiện các biện pháp tổ chức hoạt động đa dạng,
phong phú để phát triển năng lực nhận thức tăng cường giao tiếp dưới các hình
21


thức hoạt động ngoại khóa, văn nghệ có sân chơi phát triển kỹ năng giao tiếp
...phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và tâm lý trẻ đặc biệt là đối với dân tộc thiểu số.
Cần phải xây dựng môi trường giáo dục thống nhất, đồng bộ giữa nhà
trường, gia đình và xã hội nhằm tăng hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng sống
nói chung, giáo dục rèn luyện giao tiếp, kỹ năng giao tiếp cho trẻ nói riêng.
Các cấp, các nghành, chính quyền địa phương đặc biệt là ngành giáo dục
cần tăng cường đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, điều
kiện cho hoạt động dạy học và giáo dục cho trường.
Trên đây là một số biện pháp và giải pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho
trẻ dân tộc thiểu số tại lớp lá 5, Trường Mầm non Sơn Ca Xã Dray sáp, Huyện
Krông Ana. Bản thân tôi đã cố gắng nhưng khổng thể tránh khỏi thiếu sót và
hạn chế. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, các bạn đồng
nghiệp để tôi ngày càng thực hiện đề tài được tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Dray Sáp, ngày 10 tháng 03 năm 2019
Người viết

Vũ Thị Lợi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status