MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ BHXH, THU BHXH
1.1. Khái niệm về BHXH, thu BHXH bắt buộc
1.1.1. Khái niệm về BHXH
Theo Công ước số 102 (1952) của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO),
BHXH có thể hiểu khái quát là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của
mình thông qua các biện pháp công cộng, nhằm chống lại các khó khăn về kinh
tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm
sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
Ở góc độ tài chính, BHXH được định nghĩa: là quá trình thành lập và sử
dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng những NLĐ, có sự bảo trợ của Nhà nước,
để san sẻ rủi ro, đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những trường hợp
cần thiết theo quy định của pháp luật.
Ở góc độ kiến thức bách khoa, BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần
thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên
cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo
hộ của Nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và
gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Ở góc độ pháp luật, BHXH là một chế độ pháp lí quy định đối tượng, điều
kiện, mức độ đảm bảo vật chất và các dịch vụ cần thiết để bảo vệ NLĐ và gia
đình họ trong các trường hợp bảo hiểm được Nhà nước xác định.
Căn cứ vào mục đích xã hội của bảo hiểm thì BHXH là hình thức bảo hiểm
thu nhập và cung cấp các dịch vụ việc làm, chăm sóc y tế thiết yếu cho NLĐ và
một số thành viên gia đình họ trong các trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn
nghề nghiệp, tàn tật, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp... trên cơ sở đóng quỹ của
người tham gia, góp phần đảm bảo ổn định đời sống cho họ và an toàn xã hội.
Khái niệm này nhằm xác định tính xã hội, tính phi lợi nhuận của hình thức
BHXH, có thể coi là khái niệm BHXH theo nghĩa rộng.
Theo nghĩa hẹp, cũng là nghĩa thông dụng ở nước ta, có thể hiểu BHXH là
sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của NLĐ khi bị ốm đau,
của các bên tham gia BHXH; đồng thời tránh được tình trạng nợ đọng BHXH từ
các cơ quan, đơn vị, từ người tham gia BHXH. Qua đó, đảm bảo sự công bằng
trong việc thực hiện, triển khai và thực hiện chính sách BHXH nói chung và
giữa những người tham gia BHXH nói riêng.
Thu BHXH có vai trò như một điều kiện cần và đủ trong quá trình tạo lập
và thực hiện chính sách BHXH: bởi đây là đầu vào, là nguồn hình thành cơ bản
nhất trong quá trình tạo lập quỹ BHXH. Đồng thời, đây cũng là một khâu bắt
buộc đối với người tham gia BHXH thực hiện nghĩa vụ của mình. Do vậy, công
tác thu BHXH là một công việc đòi hỏi độ chính xác cao, thực hiện thường
xuyên, liên tục, kéo dài trong nhiều năm và có sự biến động về mức đóng và số
người tham gia.
Thu BHXH vừa đảm bảo cho quỹ BHXH được tập trung về một mối, vừa
đóng vai trò như một công cụ thanh kiểm tra số người tham gia BHXH biến
động ở từng khối lao động, cơ quan, đơn vị ở từng địa phương hoặc trên phạm
vị toàn quốc. Bởi công tác thu BHXH cũng đòi hỏi phải được tổ chức tập trung
thống nhất, có sự ràng buộc chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt
đối về tài chính, đảm bảo được sự chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH
ở từng cơ quan, đơn vị cũng như của từng NLĐ. Hơn nữa, hoạt động thu BHXH
là hoạt động liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của cả một đời người và có
tính kế thừa. Số thu BHXH một phần dựa trên số lượng người tham gia để tạo
lập nên quỹ BHXH, cho nên nghiệp vụ của công tác thu BHXH có một vai trò
hết sức quan trọng và rất cần thiết trong thực hiện chính sách BHXH. Bởi vậy,
thu BHXH là khâu đầu tiên giúp cho chính sách BHXH thực hiện được các
chức năng cũng như bản chất của mình.
Hoạt động thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi trả và
quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai: do BHXH cũng như
những loại hình BHXH khác đều dựa trên cơ sở nguyên tắc có đóng có hưởng.
Nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có nguồn để chi trả các chế
độ BHXH cho NLĐ. Vậy hoạt động thu BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến công
tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH. Do đó, thực hiện công tác thu
+ Hợp đồng cá nhân.
- Đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu
hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân, được quy định tại Nghị
định số 68/2007/NĐ - CP ngày 19/4/2007 như sau:
+ NLĐ thuộc diện hưởng lương, bao gồm:
• Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân;
• Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn
kỹ thuật công an nhân dân;
• Người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công
an nhân dân.
+ NLĐ thuộc diện hưởng trợ cấp, bao gồm:
• Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân;
• Hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân.
* NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm:
- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;
- Các công ty Nhà nước thành lập theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước đang
trong thời gian chuyển đổi thành công ty Cổ phần hoặc công ty Trách nhiệm
hữu hạn theo Luật Doanh nghiệp;
- Cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước;
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội -
nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác;
- Tổ chức, đơn vị hoạt động theo quy định của pháp luật;
- Cơ sở ngoài công lập hoạt động trong các lĩnh vực: giáo dục - đào tạo, y
tế, văn hoá, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, xã hội, dân số,
gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em và các ngành sự nghiệp khác;
- Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác
xã;
- Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn,
sử dụng và trả công cho NLĐ theo quy định của pháp luật lao động;
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên