TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM VÀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ
CHỦ XE CƠ GIỚI
1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM:
1.1.1 Sự cần thiết của Bảo hiểm trong đời sống kinh tế xã hội.
Sau đây nhận định của Henry Ford (nhân vật nổi tiếng thế giới) về vai trò và sự
cần thiết của Bảo hiểm đối với đời sống kinh tế xã hội: “New York không phải là nơi
khai sinh ra lồi người, nhưng sản sinh ra những nhà bảo hiểm … Không có bảo hiểm, sẽ
không có những tòa nhà chọc trời bởi không có một công nhân nào chấp nhận làm việc
ởđộ cao như vậy khi mà họ có thể rơi xuống chết người để lại một gia đình trong sự
khốn khổ. Không có bảo hiểm, sẽ không có một nhà tư bản nào dám đầu tư hàng triệu
đô la để xây dựng các tòa nhà lớn như vậy bởi vì một điếu thuốc có thể thiêu hủy nó
thành một đám tro tàn. Không có bảo hiểm, không ai dám lái xe qua các phố. Một
người lái xe giỏi cũng cóý thức rằng anh ta có thểđâm vào một người đi bộ bất cứ lúc
nào”.
Thật vậy trong cuộc sống, con người luôn bị những rủi ro rình rập là: Đau ốm,
tai nạn, động đất, khủng bố…… Mà không ai dám nói chắc là mình không bao giờ gặp
phải. Bên cạnh cuộc sống hiện đại người ta phải đối phó với những rủi ro rất lớn về
người và vật chất điển hình những vụ thiệt hại gây chấn động thế giới: Sự kiện khủng
bố 11/09 ở Mỹ, khủng bố tàu điện ngầm ở Tây Ban Nha, vụđộâng đất ở Iran, vụ cháy
ITC ở Việt Nam…vv…
Tổn thất một khi phát sinh nó thiệt hại rất lớn về người và của, nó còn làm gián
đoạn quá trình sản xuất, làm tê liệt nền kinh tế, nó gây hậu quả rất nghiêm trọng và kéo
dài một gian mới khôi phục hoặc có thể là ngưng vĩnh viễn.
Những rủi ro nói trên là nguồn gốc phát sinh trong hoạt động dự trữ bảo hiểm.
Những biện pháp thông thường để xử lý rủi ro nói trên:
- Biện pháp phòng tránh, hạn chế tổn thất gồm: Né tránh rủi ro, phòng
tránh rủi ro.
- Biện pháp khắc phục hậu quả rủi ro gồm: Chấp nhận tự gánh chịu (bằng
cách tiết kiệm, lập qũy dự trữ, dự phòng), chuyển nhượng rủi ro (chuyển nhượng đơn
thuần, chuyển nhượng trên nguyên tắc tương hỗ, phân tán rủi ro bằng cách cứu trợ, lập
quỹ chung).
lại.
1.1.2.2 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm Việt Nam.
Giai đọan trước 1975
Ở miền Nam lúc bây giờ có hơn 52 Công ty bảo hiểm trong và nước hoạt động
tại Sài Gòn. Các công ty cũng thực hiện đa dạng các nghiệp vụ và cũng thành lập một
hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm nhằm thực hiện các chức năng thông tin, tư vấn, đào
tạo……
Ở miền Bắc: Ngày 17/12/1964 Công ty bảo hiểm Bảo Việt ra đời và hoạt động
15/01/1965 do nằm trong vùng chiến tranh hoạt động của Bảo Việt chưa phát triển
mạnh, những nghiệp vụ chủ yếu: Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân tàu
và tái bảo hiểm.
Giai đoạn sau 1975 đến trước ngày 18/12/1993
Sau giải phóng, việc quốc hữu hóa các công ty bảo hiểm cũ của miền Nam đã
dẫn đến thành lập công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam (BAVINA), trên cơ sở
quốc hữu hóa các công ty bảo hiểm trước giải phóng, BIVINA một mặt thực hiện các
hợp đồng cũ với khách hàng do các công ty bảo hiểm trước đây thực hiện ký kết và tiếp
tục nhận các hợp đồng mới.
Ngày 01/03/1976 Bộ Tài Chính ra quyết định chuyển công ty BIVINA thành chi
nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Bảo Việt /
TPHCM). Bảo Việt lúc này là công ty bảo hiểm duy nhất của nhà nước hoạt động kinh
doanh bảo hiểm ở Việt Nam theo chếđộ hạch tóan kinh tế thống nhất tồn ngành vào
01/01/1980. Bảo Việt làđơn vị trực thuộc Bộ Tài Chính có chức năng giúp Bộ Tài
Chính thống nhất các quản lý bảo hiểm trong cả nước và trực tiếp tiến hành các nghiệp
vụ bảo hiểm trong cả nước.
Năm 1986 được nâng cấp lên thành Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam có chi
nhánh ở tất cả tỉnh thành trong cả nước.
Giai đoạn sau 18/12/1993
Ngày 18/12/1993 Nghịđịnh 100/CP của Chính Phủđã chấm dứt sựđộc quyền của
Bảo Việt, Từ Nghịđịnh này Có nhiều công ty bảo hiểm thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau thành lập:
tròđó bảo hiểm phát huy tác dụng hết sức quan trọng, đặc biệt, trong nền kinh tế thị
trường, đó là tập trung, tích tụ vốn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thường
xuyên và liên tục.
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm.
1.1.4.1 Nguyên tắc sốđông.
Hoạt động bảo hiểm nói chung và hoạt động bảo hiểm thương mại nói riêng tạo
ra một “sựđóng góp của sốđông vào rủi ro của sốít” trên cơ sở quy tụ nhiều người có
cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất. Số
người tham gia càng đông, tổn thất càng phân tán mỏng, rủi ro càng giảm thiểu ở mức
độ thấp nhất, thể hiện ở mức phí phải đóng là nhỏ nhất đủđể mỗi chủ tham gia không
bịảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất của mình.
1.1.4.2 Nguyên tắc trung thực.
Khi hợp đồng bảo hiểm dược ký kết, xem như rủi ro của người được bảo hiểm
chuyển sang cho nhà bảo hiểm khi người này đóng phíđầy đủ, nhà bảo hiểm cam kết sẽ
bồi thường khi có tổn thất xảy ra. Lúc này sẽ có những nghi ngờ giữa hai bên như sau:
- Đối với nhà bảo hiểm:Không biết người được bảo hiểm có khai báo chính
xác rủi ro hay không và khi rủi ro xảy ra thì do nguyên nhân khách quan hay cốý.
- Đối với người được bảo hiểm:Khi họđóng phí bảo hiểm cho nhà bảo
hiểm, họ tự hỏi khi có rủi ro thì nhà bảo hiểm có bồi thường hay không hoặc cóđủ khả
năng bồi thường không.
Như vậy để có sự tin tưởng hai bên trên hợp đồng bảo hiểm phải gắn liền với sự
tin tưởng lẫn nhau vàđiều này đòi hỏi phải thực hiện nguyên tắc trung thực tuyệt đối.
Ngồi ra đối với bảo hiểm nhân thọ còn thêm ba nguyên tắc:
Nguên tắc lợi ích bảo hiểm.
Nguyên tắc bồi thường.
Nguyên tắc thế quyền.
1.1.5 Phân loại bảo hiểm thương mại
Có nhiều cách phân loại bảo hiểm: Phân loại theo đối tượng bảo hiểm, phân
loại theo kỹ thuật bảo hiểm, phân loại theo phương thức quản lý, phân loaị theo quy
định hiện hành. Ơû đây ta chỉ nói đến phân loại theo phương thức quản lý.
1.2.1 Nhu cầu và sự phát triển của bảo hiểm xe cơ giới.
Sự tồn tại và phát triển của ngành bảo hiểm xe cơ giới không tách rời sự tồn tại
và phát triển tất yếu của ngành bảo hiểm nói chung trong hệ thống kinh tế xã hội, nhất
là trong giai đoạn tăng trưởng kinh tếở mức độ cao, ổn định. Tuy nhiên cũng cần thấy
các nhân tố trực tiếp, cụ thể khẳng định sự cần thiết của các loại hình này, đặc biệt đối
với Việt Nam:
Kinh tế ngày càng phát triển, kéo theo sự gia tăng về số lượng xe cơ giới nhằm
đáp ứng nhu cầu phát triển đó. Do cơ sở hạ tầng giao thông chật hẹp không đáp ứng kịp
sự phát triển của phương tiện đi lại. Người dân điều khiển phương tiện không cóý thức
chấp hành luật lệ giao thông nên số lượng xe cơ giới tăng cũng đồng nghĩa với việc gia
tăng tai nạn giao thông. Một khi tai nạn xảy ra không phải ai cũng có khả năng bồi
thường cho người thứ ba để khôi phục lai lại tài sản đã bị thiệt hại. Đểđáp ứng nhu cầu
được bảo vệ của các chủ xe, để bảo vệ quyền lợi cho các nạn nhân, do đó loại hình bảo
hiểm xe cơ giới ra đời.
Bảo hiểm xe cơ giới được các nhà bảo hiểm triển khai ở miền Nam trước 1975,
chủ yếu là bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới. Sau 1975, loại hình này được
tiếp tục duy trìở thành phố Hồ Chí Minh và sau đó lan ra tồn miền Nam (1979) và cả
nước (1980). Năm 1988, nghịđịnh số 30/HDBT của hội đồng Bộ Trưởng và tiếp sau đó
là NĐ 115/1997/NĐ-CP được ban hành đưa ra chếđộ bảo hiểm bắt buộc về trách nhiệm
dân sựđối với tất cả các chủ xe cơ giới.
Việt Nam, bảo hiểm xe cơ giới thông thường gồm ba loại cơ bản sau:
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới.
- Bảo hiểm vật chất xe.
- Bảo hiểm con người trong việc sử dụng xe.
1.2.2 Trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới.
Pháp luật của các quốc gia đều thừa nhận và bảo vệ quyền lợi bất khả xâm phạm
về tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm và uy tín của mọi công dân. Vì vậy
pháp luật buộc mọi người phải có trách nhiệm chung là không làm hại về tinh thần cũng
như về vật chất của người khác. Nếu có hành vi vi phạm thì người bị thiệt hại được
pháp luật bảo vệ có thể khiếu nại đòi bồi thường từ phía người gây thiệt hại.
nhiệm bồi thường.
b) Trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới theo hợp đồng.
Trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới theo hợp đồng được xác định trên cơ sở
những thỏa thuận dân sự giữa một bên là chủ xe với một bên là các đối tượng cần vận
chuyển (hành khách, hàng hóa). Trách nhiệm này có thểđưa ra trên cơ sở quy định