Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
Nâng cao hiệu qủa hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới tại
CTCP bảo hiểm Petrolimex SG - một số giải pháp, kiến nghị
Tài liệu tốt :
Information
MỤC LỤC
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM VÀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CHỦ XE CƠ
GIỚI
1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM:
1.1.1 Sự cần thiết của Bảo hiểm trong đời sống kinh tế xã hội.
1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm.
1.1.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm thế giới.
1.1.2.2 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm Việt Nam.
1.1.3 Vai trò, chức năng, tác dụng của bảo hiểm.
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm.
1.1.4.1 Nguyên tắc sốđông.
1.1.4.2 Nguyên tắc trung thực.
1.1.5 Phân loại bảo hiểm thương mại
1.2 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CHỦ XE CƠ GIỚI.
1.2.1 Nhu cầu và sự phát triển của bảo hiểm xe cơ giới.
1.2.2 Trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới.
1.2.3 Nội dung các loại hình bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới.
1.2.3.1 Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
1.2.3.1.1 Khái niệm.
1.2.3.1.2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự.
1.2.3.1.3 Đối tượng bảo hiểm.
1.2.3.1.4 Phạm vi bảo hiểm.
1.2.3.1.5 Loại trừ bảo hiểm.
1.2.3.1.6 Người được bảo hiểm.
1.2.3.1.8 Phí bảo hiểm.
2.2.2.2 Luật kinh doanh bảo hiểm.
2.2.3 Môi trường nghề nghiệp.
2.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM
DÂN SỰ CHỦ XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX
(PJICO SÀI GÒN).
2..3.1 Tình hình khai thác:
2.3.1.1 Mục đích, ý nghĩa khai thác.
2.3.1.2 Quy trình khai thác.
2.3.1.3 Đánh giá tình hình thực hiện.
2.3.1.3.1 Doanh số khai thác.
2.3.1.3.2 Đánh giá:
2.3.1.4 Những khó khăn, vướng mắc của công ty trong lĩnh vực khai thác.
2.3.2 Tình hình giám định.
2.3.2.1 Mục đích vàý nghĩa giám định.
2.3.2.2 Quy trình giám định.
2.3.2.2.1 Nhận tin và xử lý thông.
2.3.2.2.2 Tiến hành công tác giám định.
2.3.2.2.3 Giám định thiệt hại.
2.3.2.2.4 Hướng dẫn chủ xe, lái xe thực hiện tiếp những công việc sau khi giám định.
2.3.3 Tình hình bồi thường.
2.3.3.1 Mục đích vàý nghĩa bồi thường.
2.3.3.2 Qui trình bồi thường.
2.3.3.2.1 Hướng dẫn chủ xe, lái xe lập hồ sơ bồi thường.
2.3.3.2.2 Tiến hành bồi thường.
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
2.3.3.3 Đánh giá tình hình bồi thường.
2.3.3.3.1 Tình hình bồi thường :
2.3.3.3.2 Đánh giá :
KẾT LUẬN CHƯƠNG II
đầu tư hàng triệu đô la để xây dựng các tòa nhà lớn như vậy bởi vì một điếu thuốc có
thể thiêu hủy nó thành một đám tro tàn. Không có bảo hiểm, không ai dám lái xe qua
các phố. Một người lái xe giỏi cũng cóý thức rằng anh ta có thểđâm vào một người đi
bộ bất cứ lúc nào”.
Thật vậy trong cuộc sống, con người luôn bị những rủi ro rình rập là: Đau ốm,
tai nạn, động đất, khủng bố…… Mà không ai dám nói chắc là mình không bao giờ
gặp phải. Bên cạnh cuộc sống hiện đại người ta phải đối phó với những rủi ro rất lớn
về người và vật chất điển hình những vụ thiệt hại gây chấn động thế giới: Sự kiện
khủng bố 11/09 ở Mỹ, khủng bố tàu điện ngầm ở Tây Ban Nha, vụđộâng đất ở Iran,
vụ cháy ITC ở Việt Nam…vv…
Tổn thất một khi phát sinh nó thiệt hại rất lớn về người và của, nó còn làm gián
đoạn quá trình sản xuất, làm tê liệt nền kinh tế, nó gây hậu quả rất nghiêm trọng và
kéo dài một gian mới khôi phục hoặc có thể là ngưng vĩnh viễn.
Những rủi ro nói trên là nguồn gốc phát sinh trong hoạt động dự trữ bảo hiểm.
Những biện pháp thông thường để xử lý rủi ro nói trên:
- Biện pháp phòng tránh, hạn chế tổn thất gồm: Né tránh rủi ro, phòng
tránh rủi ro.
- Biện pháp khắc phục hậu quả rủi ro gồm: Chấp nhận tự gánh chịu (bằng
cách tiết kiệm, lập qũy dự trữ, dự phòng), chuyển nhượng rủi ro (chuyển nhượng đơn
thuần, chuyển nhượng trên nguyên tắc tương hỗ, phân tán rủi ro bằng cách cứu trợ,
lập quỹ chung).
Có nhiều loại quỹ dự trữ, bảo hiểm hoạt động theo cơ chếđó: Quỹ dự trữ quốc gia;
bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; bảo hiểm thương mại….
1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm.
1.1.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm thế giới.
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
Như ta đã thấy, bảo hiểm xuất hiện như một phương thức xử lý rủi ro, tổn thất
mà con người phải đối phó hàng ngày trong đời sống sinh hoạt sản xuất của mình.
Cách xử lýđó dựa trên ý niệm “cộng đồng hóa rủi ro, hiểm họa”.
hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm nhằm thực hiện các chức năng thông tin, tư vấn, đào
tạo……
Ở miền Bắc: Ngày 17/12/1964 Công ty bảo hiểm Bảo Việt ra đời và hoạt động
15/01/1965 do nằm trong vùng chiến tranh hoạt động của Bảo Việt chưa phát triển
mạnh, những nghiệp vụ chủ yếu: Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân
tàu và tái bảo hiểm.
Giai đoạn sau 1975 đến trước ngày 18/12/1993
Sau giải phóng, việc quốc hữu hóa các công ty bảo hiểm cũ của miền Nam đã
dẫn đến thành lập công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam (BAVINA), trên cơ sở
quốc hữu hóa các công ty bảo hiểm trước giải phóng, BIVINA một mặt thực hiện các
hợp đồng cũ với khách hàng do các công ty bảo hiểm trước đây thực hiện ký kết và
tiếp tục nhận các hợp đồng mới.
Ngày 01/03/1976 Bộ Tài Chính ra quyết định chuyển công ty BIVINA thành
chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Bảo
Việt / TPHCM). Bảo Việt lúc này là công ty bảo hiểm duy nhất của nhà nước hoạt
động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam theo chếđộ hạch tóan kinh tế thống nhất tồn
ngành vào 01/01/1980. Bảo Việt làđơn vị trực thuộc Bộ Tài Chính có chức năng giúp
Bộ Tài Chính thống nhất các quản lý bảo hiểm trong cả nước và trực tiếp tiến hành
các nghiệp vụ bảo hiểm trong cả nước.
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
Năm 1986 được nâng cấp lên thành Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam có chi
nhánh ở tất cả tỉnh thành trong cả nước.
Giai đoạn sau 18/12/1993
Ngày 18/12/1993 Nghịđịnh 100/CP của Chính Phủđã chấm dứt sựđộc quyền
của Bảo Việt, Từ Nghịđịnh này Có nhiều công ty bảo hiểm thuộc các thành phần kinh
tế khác nhau thành lập:
- Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)
- Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (Pjico)
- Công ty cổ phần bảo hiểm nhà rồng (Bảo Long)
tế thị trường, đó là tập trung, tích tụ vốn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được
thường xuyên và liên tục.
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm.
1.1.4.1 Nguyên tắc sốđông.
Hoạt động bảo hiểm nói chung và hoạt động bảo hiểm thương mại nói riêng
tạo ra một “sựđóng góp của sốđông vào rủi ro của sốít” trên cơ sở quy tụ nhiều người
có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn
thất. Số người tham gia càng đông, tổn thất càng phân tán mỏng, rủi ro càng giảm
thiểu ở mức độ thấp nhất, thể hiện ở mức phí phải đóng là nhỏ nhất đủđể mỗi chủ
tham gia không bịảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất của mình.
1.1.4.2 Nguyên tắc trung thực.
Khi hợp đồng bảo hiểm dược ký kết, xem như rủi ro của người được bảo hiểm
chuyển sang cho nhà bảo hiểm khi người này đóng phíđầy đủ, nhà bảo hiểm cam kết
sẽ bồi thường khi có tổn thất xảy ra. Lúc này sẽ có những nghi ngờ giữa hai bên như
sau:
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
- Đối với nhà bảo hiểm:Không biết người được bảo hiểm có khai báo
chính xác rủi ro hay không và khi rủi ro xảy ra thì do nguyên nhân khách quan hay
cốý.
- Đối với người được bảo hiểm:Khi họđóng phí bảo hiểm cho nhà bảo
hiểm, họ tự hỏi khi có rủi ro thì nhà bảo hiểm có bồi thường hay không hoặc cóđủ khả
năng bồi thường không.
Như vậy để có sự tin tưởng hai bên trên hợp đồng bảo hiểm phải gắn liền với
sự tin tưởng lẫn nhau vàđiều này đòi hỏi phải thực hiện nguyên tắc trung thực tuyệt
đối.
Ngồi ra đối với bảo hiểm nhân thọ còn thêm ba nguyên tắc:
Nguên tắc lợi ích bảo hiểm.
Nguyên tắc bồi thường.
Nguyên tắc thế quyền.
không ngừng tăng lên khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển một cách có tổ chức.
Ơû Việt Nam hiện nay, ý nghĩa mục đích tốt đẹp đóđược thể hiện qua loại hình bảo
hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và hành
khách trên xe.
1.2 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CHỦ XE CƠ
GIỚI.
1.2.1 Nhu cầu và sự phát triển của bảo hiểm xe cơ giới.
Sự tồn tại và phát triển của ngành bảo hiểm xe cơ giới không tách rời sự tồn tại
và phát triển tất yếu của ngành bảo hiểm nói chung trong hệ thống kinh tế xã hội, nhất
là trong giai đoạn tăng trưởng kinh tếở mức độ cao, ổn định. Tuy nhiên cũng cần thấy
các nhân tố trực tiếp, cụ thể khẳng định sự cần thiết của các loại hình này, đặc biệt đối
với Việt Nam:
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
Kinh tế ngày càng phát triển, kéo theo sự gia tăng về số lượng xe cơ giới nhằm
đáp ứng nhu cầu phát triển đó. Do cơ sở hạ tầng giao thông chật hẹp không đáp ứng
kịp sự phát triển của phương tiện đi lại. Người dân điều khiển phương tiện không cóý
thức chấp hành luật lệ giao thông nên số lượng xe cơ giới tăng cũng đồng nghĩa với
việc gia tăng tai nạn giao thông. Một khi tai nạn xảy ra không phải ai cũng có khả
năng bồi thường cho người thứ ba để khôi phục lai lại tài sản đã bị thiệt hại. Đểđáp
ứng nhu cầu được bảo vệ của các chủ xe, để bảo vệ quyền lợi cho các nạn nhân, do đó
loại hình bảo hiểm xe cơ giới ra đời.
Bảo hiểm xe cơ giới được các nhà bảo hiểm triển khai ở miền Nam trước
1975, chủ yếu là bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới. Sau 1975, loại hình này
được tiếp tục duy trìở thành phố Hồ Chí Minh và sau đó lan ra tồn miền Nam (1979)
và cả nước (1980). Năm 1988, nghịđịnh số 30/HDBT của hội đồng Bộ Trưởng và tiếp
sau đó là NĐ 115/1997/NĐ-CP được ban hành đưa ra chếđộ bảo hiểm bắt buộc về
trách nhiệm dân sựđối với tất cả các chủ xe cơ giới.
Việt Nam, bảo hiểm xe cơ giới thông thường gồm ba loại cơ bản sau:
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới.
chúý một số trường hợp sau:
- Người lái xe gây ra tai nạn khi anh ta sử dụng vào việc riêng: Chủ xe
vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng được đòi hỏi trách nhiệm của
người lái xe.
- Tai nạn xảy ra khi xe đang giao cho người khác mượn: Người mượn
phải bồi thường. Nếu chủ xe cho mượn cả lái xe thì chủ xe chịu trách nhiệm bồi
thường.
- Tai nạn xảy ra khi xe lưu hành không có sựđồng ý của chủ xe: Người sử
dụng không được phép của chủ xe phải bồi thường.
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
- Tai nạn do người vị thành niên gây ra: Họ không chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại vì không có năng lực hành vi dân sự. Nếu người vị thành niên điều
khiển xe gây tại nạn thì thông thường cha mẹ hoặc người dám hộ là người chịu trách
nhiệm bồi thường.
b) Trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới theo hợp đồng.
Trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới theo hợp đồng được xác định trên cơ sở
những thỏa thuận dân sự giữa một bên là chủ xe với một bên là các đối tượng cần vận
chuyển (hành khách, hàng hóa). Trách nhiệm này có thểđưa ra trên cơ sở quy định
chung của pháp luật và có thể là những thỏa thuận riêng. Trách nhiệm dân sự chủ xe
cơ giới theo hợp đồng thường là trách nhiệm đối với hành khách trên xe và trách
nhiệm đối với hàng hóa trên xe.
1.2.3 Nội dung các loại hình bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là loại hình
bảo hiểm bắt buộc, được thực hiện theo nghịđịnh số 115/1997/NĐ-CP ngày
17/12/1997 của Chính Phủ về chếđộ bắt buộc bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ
xe cơ giới và quyết định 23/2003/QĐ-BTC (25/2/2003) của Bộ Tài Chính về việc ban
hành quy tắc, biểu phí, mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe
cơ giới.
1.2.3.1 Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
vi gây tai nạn do không chấp hành hoặc chấp hành không đúng những quy định trong
điều lệ về trật tự an tồn giao thông đường bộ. Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật này
có thểđơn thuần chỉ là một vi phạm pháp luật về dân sự nhưng cũng có thể nặng hơn
là một việc phạm pháp về hình sự. Trong trường hợp phạm pháp về hình sự, người
gây tai nạn không những phải bồi thường thiệt hại mà còn phải bị truy tố trước pháp
luật.
c) Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại:
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
Mối quan hệ này được hiểu là thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của
hành vi trái pháp luật, và ngược lại, hành vi trái pháp luật thực sự là nguyên nhân trực
tiếp của thiệt hại xảy ra.
Tuy nhiên, không loại trừ trường hợp hành vi trái pháp luật tuy không phải là
nguyên nhân trực tiếp của thiệt hại đã xảy ra nhưng lại cóý nghĩa quyết định đối với
thiệt hại thìđược coi là mối quan hệ nhân quả với thiệt hại.
d) Phải có lỗi của người gây thiệt hại:
Đây là yếu tố quan trọng. Lỗi của người gây thiệt hại được đánh giá trên cơ
sởđộ sai phạm của anh ta. Người gây thiệt hại phải nhận thức được hoặc có thể nhận
thức hành vi của mình là trái pháp luật. Sau những vụ tai nạn giao thông đường bộ,
mức độ lỗi của người gây ra tai nạn được đánh giá bằng việc xem xét, đo đạc hiện
trường, kiểm tra phương tiện và kiểm tra lời khai nhân chứng của cơ quan chức năng.
Dù người gây tai nạn là cốý hay vôý, họđều có lỗi, tuy nhiên người gây tai nạn có thể
thốt trách nhiệm nếu chứng minh được tai nạn xảy ra hồn tồn là do lỗi của nạn nhân.
Cần lưu ý rằng, thông thường trách nhiệm dân sự sẽ phát sinh khi người gây tai
nạn có lỗi trong việc điều khiển xe. Tuy nhiên có những trường hợp người gây tai nạn
vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường khi anh ta không có lỗi. Đó là trường hợp tai
nạn xảy ra vì cấu tạo của máy móc, vật liệu.
1.2.3.1.3 Đối tượng bảo hiểm.
Là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng của chủ xe cơ giới gây ra.
Trách nhiệm của chủ xe cơ giới bao gồm TNDS của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao
phạt đối với chủ xe, lái xe trong những trường hợp tai nạn xảy ra do họđã vi phạm
nghiêm trọng luật lệ giao thông:
- Xe không có giấy phép lưu hành.
- Lái xe không có bằng lái hoặc có nhưng không hợp lệ.
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
- Điều khiển xe trong tình trạng say rượu, bia, ma tuý hoặc các chất kích
thích tương tự khác.
- Xe được sử dụng để chuyên chở chất cháy, chất nổ trái phép.
- Xe chở quá trọng tải hoặc quá số hành khách quy định.
- Xe đi vào đường cấm.
- Xe có hệ thống lái bên phải.
- Xe đi đêm không cóđèn hoặc chỉ cóđèn bên phải.
- Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao.
- DNBH không chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại, tổn thất
xảy ra do:
- Hành động cốý gây thiệt hại của chủ xe, hoặc của người bị thiệt hại.
- Xe không có giấy chứng nhận kiểm định an tồn kỹ thuật và môi trường.
- Lái xe không có bằng lái hợp lệ (đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có
giấy phép lái xe); lái xe có nồng độ cồn, rượu, bia vượt mức quy định của pháp luật
hiện hành, khi có kết luận bằng văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
- Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi
sửa chữa (trừ khi có thoả thuận khác).
- Xe đi vào đường cấm, khu vực cấm; xe đi đêm không cóđủđèn chiếu
sáng theo quy định.
- Chiến tranh và các nguyên nhân tương tự chiến tranh.
- Thiệt hại có tính chất gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương
mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại.
- Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn.
- Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng bạc, đá quý, tiền và các
lưu lượng xe mỗi năm cũng như số vụ tai nạn mà có sựđiều chỉnh mức phí và mức
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
trách nhiệm bảo hiểm sao cho phù hợp. Xét về khía cạnh kỹ thuật, theo GS-TS Hồ
Xuân Phương, phí bảo hiểm xe cơ giới có thểđược xác định theo phương pháp sau:
Mức phí bảo hiểm / năm/ xe = Phí tuần + Phụ phí
Phí thuần=
∑
∑
=
=
n
i
n
i
Ci
SiTi
1
1
Trong đó:
S
i
: mức độ tổn thất bình quân thuộc trách nhiệm của NBH trong một vụ tai
nạn năm thứ i.
T
i
: số vụ tai nạn xảy ra có phát sinh trách nhiệm của NBH , khi tính mức độ
tổn thất bình quân S
i
, với những vụ tổn thất có mức độ vượt quá hạn mức trách nhiệm
Về việc hồn phí bảo hiểm, Điều 6 Quyết định 23 quy định : “ DNBH phải hồn
trả lại cho chủ xe 80% phí bảo hiểm của thời gian hủy bỏ, trừ trường hợp trong thời
gian hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực đã xảy ra sự kiện bảo hiểm liên quan đến
chiếc xe có yêu cầu huỷ bỏ bảo hiểm.”
Số tiền bồi thường :
Số tiền bồi thường (STBT) được tính căn cứ vào lỗi của chủ xe và mức độ
thiệt hại thực tế :
STBT = Thiệt hại thực tế x mức độ lỗi của xe STBH
Trong đó :
Mức độ lỗi của xe : căn cứ vào hồ sơ tai nạn do CSGT hay cảnh sát điều tra
cung cấp để xác định lỗi của chủ xe gây ra tai nạn :
+ Đối với những vụ tai nạn được giải quyết bằng thương lượng, hồ giải dân
sự giữa các bên, CSGT nơi thụ lý tai nạn giao thông báo trước cho NBH thống nhất
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 20
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
về phương pháp và cách thực hiện để buổi hồ giải có kết quả tốt, đồng thời cung cấp
cho NBH hồ sơ tai nạn.
+ Đối với những vụ tai nạn giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự, trong
vòng 30 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn, cảnh sát điều tra sẽ cung cấp cho NBH kết
quảđiều tra tai nạn nhằm xác định lỗi vàđiều tra nguyên nhân của các bên có liên
quan, đồng thời cung cấp chứng từ cần thiết để NBH có căn cứ pháp lý ban đầu để
tạm ứng bồi thường.
Thiệt hại thực tế của nạn nhân, bao gồm những thiệt hại về tài sản và những
thiệt hại về người.
- Đối với những thiệt hại về tài sản, có thể chia làm hai trường hợp sau:
+ Trường hợp thứ nhất : Tài sản bị hư hỏng hồn tồn hoặc hư hỏng không thể
sửa chữa được. Trong trường hợp này thiệt hại về tài sản được xác định bằng giá mua
của tài sản cùng loại tương đương trên thị trường tự do hoặc chi phí hợp lýđể làm lại
tài sản đó.
+ Trường hợp thứ hai: Tài sản bị hư hỏng có thể sửa chữa được, thiệt hại
+ Tuỳ từng trường hợp, thiệt hại về con người tính đến một khoản tiền
bùđắp tổn thất về tinh thần mà nạn nhân phải gánh chịu như sựđau đớn về thể xác, sự
hoảng loạn thần kinh… ngồi ra còn tính đến những chi phíđưa đón nạn nhân, phí tổn
di chuyển bệnh viện, chi phí làm chân tay giả, mắt giả…
2) Trường hợp nạn nhân bị chết, được tính đến những khoản sau:
+ Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc nạn nhân trước khi chết, mai táng
phí hợp lý.
+ Tiền cấp dưỡng cho những người mà khi còn sống nạn nhân có nghĩa vụ
cấp dưỡng như vợ, chồng, cha, mẹ, con …
+ Tiền bồi thường về tổn thất tinh thần cho những người thân thích, gần gũi
nhất của nạn nhân.
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
Trong trường hợp chủ xe có tham gia bảo hiểm trùng thì trách nhiệm của
DNBH sẽ căn cứ theo tỷ lệ tương ứng với số tiền bảo hiểm mà DNBH đã nhận bảo
hiểm.
1.2.3.2 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hành khách trên xe.
Đây cũng là loại hình bảo hiểm bắt buộc được thực hiện theo NghịĐịnh 115 và
Quyết định 23. Tại Điều 5, nghịđịnh 155 có quy định rõ: “ Chếđộ BHTNDSCXCG
quy định tại Nghịđịnh này bao gồm bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi
hợp đồng do xe cơ giới gây ra đối với người thứ ba, BHTNDSCXCG đối với hành
khách trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách”.
1.2.3.2.1 Đối tượng bảo hiểm:
Ngồi trách nhiệm dân sựđối với chủ xe cơ giới đối với những thiệt hại về tính
mạng, sức khoẻ của hành khách phát sinh trong qúa trình vận chuyển theo hợp đồng
vận chuyển hành khách và chủ xe phải có nghĩa vụ bồi thường theo luật định .
Tuy nhiên hiện nay có vài thay đổi đối với hoạt động kinh doanh vận tải hành
khách. Theo Quyết định 19 ngày 3/2/2000 của Chính Phủ về việc bãi bỏ các loại giấy
trái phép với quy định của luật doanh nghiệp thì các giấy trái phép sau trong lĩnh vực
giao thông vận tải đường bộ bị bãi bỏ: giấy phép vận tải hàng hố, giấy phép vận tải
người thuê xe kinh doanh vận chuyển hàng hố.
1.2.3.3.3 Số tiền bảo hiểm – phí bảo hiểm:
Số tiền bảo hiểm (STBH) được xác định theo số trọng tải đăng ký:
STBH = Mức trách nhiệm bảo hiểm x số trọng tải đăng ký
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 24
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
Hiện nay, mức bảo hiểm thấp nhất là 10 triệu đồng/ tấn / vụ với mức phí
60.000 đồng / tấn. Ngồi ra chủ xe và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thoả thuận theo
mức trách nhiệm cao hơn.
1.2.3.3.4 Phạm vi bảo hiểm – loại trừ bảo hiểm :
Phạm vi bảo hiểm : NBH nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe đối với
hàng hố vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển giữa chủ xe và chủ hàng.
Trách nhiệm dân sự chủ xe ởù đây là số tiền chủ xe phải chịu trách nhiệm bồi
thường cho chủ hàng căn cứ theo “ thể lệ vận chuyển hàng hố bằng ô tô” ban hành
kèm theo quyết định số 1690/QĐ – VT ngày 15/9/1990 của Bộ giao thông vận tải và
bưu điện. Ngồi ra, DNBH còn thanh tốn cho chủ xe các chi phí cần thiết và hợp lý
nhằm :
- Ngăn ngừa và làm giảm nhẹ tổn thất cho hàng hố khi xảy ra tai nạn.
- Bảo quản, xếp dỡ lưu kho, lưu bãi hàng hố trong quá trình vận chuyển
do hậu quả của tai nạn.
- Giám định tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
- Loại trừ bảo hiểm : ngồi các loại trừđã nêu ở phần BHDSCXCG đối với
người thứ ba , DNBH không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong những
trường hợp:
- Xe chở hàng trái phép
- Chủ xe, lái xe không có trách nhiệm trong việc trông coi, bảo quản
hàng.
- Xe không thích hợp với loại hàng chuyên chở.
- Mất cắp
- Bắt giữ của cơ quan chức năng