TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
1.1 Khái niệm về dịch vụ ngân ha
̀
ng.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng (DV NH) chưa được định nghĩa một cách cụ thể
trong bất kỳ tự điển nào. Có không ít quan niệm cho rằng chỉ những hoạt động
ngân hàng (NH) không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động
nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của một trung gian tài chính (huy động
tiền gửi, cho vay…) mới gọi là dịch vụ ngân hàng như dịch vụ chuyển tiền, thu
chi hộ, môi giới,… Một số khác lại cho rằng tất cả hoạt động của ngân hàng
phục vụ cho khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp đều gọi là dịch vụ ngân
hàng.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng do NHNNVN ban hành, dịch vụ ngân hàng
cũng không được định nghĩa và giải thích cụ thể. Tại khoản 1 và khoản 7, điều
20 thì hoạt động kinh doanh tiền tệ và DV NH bao hàm cả 3 nội dung: nhận tiền
gửi, cấp tín dụng và cung ứng DV thanh toán, nhưng đâu là kinh doanh tiền tệ
và đâu là DV NH thì vẫn chưa được phân định rõ ràng.
DV tài chính , theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), là bất kỳ DV nào có
tính chất tài chính được cung cấp bởi nhà cung cấp DV tài chính. DV tài chính
bao gồm DV bảo hiểm, DV NH , DV chứng khoán, và các DV tài chính khác .
Trong lộ trình hội nhập quốc tế của VN, Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ là
bước thử thách đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng , vì nội dung chủ yếu của hiệp
định này giống như các nội dung của Thỏa thuận chung về Thương mại Dịch vụ
(GATS), chỉ khác về thời điểm có hiệu lực (thời gian bắt đầu thực hiện các cam
kết). Theo đó, các cam kết mở cửa DV NH được thực hiện theo lộ trình 9 năm
trước khi mọi cam kết đối với các NH Mỹ được bãi bỏ. Sự cạnh tranh giữa các
NH VN và NH nước ngoài chủ yếu là cạnh tranh về DV, điều này đòi hỏi chúng
ta phải có chiến lược phát triển các DV NH một cách hoàn chỉnh và kịp thời.
Các DV NH , theo GATS, là: Nhận tiền gửi, Cho vay, Cho thuê tài chính,
Chuyển tiền và thanh toán, thẻ , sec,…, Bảo lãnh và cam kết, Mua bán các công
cụ thị trường tài chính, Phát hành chứng khoán, Môi giới tiền tệ, Quản lý tài
xa lạ với những khái niệm ngân hàng tự động, ngân hàng không người, ngân
hàng ảo.
* Đối với khách hàng
Đối với các khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ: DV NH tạo điều
kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành trôi chảy, nhịp nhàng,
thúc đẩy đồng vốn luân chuyển nhanh, góp phần đẩy nhanh tốc độ sản xuất,
luân chuyển hàng hóa.
Thông qua các DV cho vay, hệ thống NHTM giúp các doanh nghiệp
chuyển đổi cơ cấu sản xuất, dịch chuyển vốn đầu tư, đổi mới trang thiết bị, công
nghệ, nhằm hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, nhất là trong giai
đoạn hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế hiện nay.
1.2.2. Đối với ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng đem lại cho ngân hàng các khoản thu nhập lớn về
phí dịch vụ. Phát triển dịch vụ ngân hàng đa dạng, nhiều tiện ích theo hướng cải
tiến phương thức thanh toán, đơn giản hóa thủ tục, mở rộng mạng lưới hoạt
động . . . Bên cạnh đó ngân hàng có thể phát triển những dịch vụ hổ trợ như
dịch vụ chi trả lương cho những người có tài khoản tại nhiều ngân hàng khác
nhau, chuyển tiền mặt giao tận tay người nhận sẽ thu hút ngày càng nhiều khách
hàng đến với ngân hàng, từ đó làm tăng nguồn thu dịch vụ của ngân hàng.
Bằng các DV NH, NHTM tận dụng được nguồn vốn trong thanh toán
của khách hàng đang lưu ký trên tài khoản thanh toán, ký qũy. Những tài khoản
này ngân hàng không phải trả lãi hoặc trả lãi thấp làm cho chi phí đầu vào của
nguồn vốn huy động giảm xuống, tạo ra chênh lệch lớn giữa lãi suất bình quân
cho vay so với lãi suất bình quân tiền gửi.
Khi các NHTM xây dựng được mạng lưới khách hàng đa dạng, rộng
khắp sẽ làm nền tảng để phát triển các dịch vụ ngân hàng.
NHTM tăng khả năng hoạt động đáp ứng các nhu cầu khách hàng, từ
đó tăng dần khả năng thích ứng, cạnh tranh của các ngân hàng thương mại, góp
phần làm vững mạnh thêm nền tài chính nước nhà.
1.3 Các loại dịch vụ ngân hàng phổ biến hiện nay
thương mại được cấp tín dụng cho các tổ chức và cá nhân dưới hình thức cho
vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài
chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng thương mại trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Ngân hàng thương mại cho vay theo
nguyên tắc đối tượng vay phải hoàn trả gốc và lãi khi khoản vay đến hạn và
được kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay của tổ chức, cá nhân vay
vốn. Hoạt động cho vay đi kèm với các rủi ro trong hoạt động tín dụng nên ngân
hàng thương mại được sử dụng các biện pháp đảm bảo tài sản từ các đối tượng
vay như: thế chấp, cầm cố, bảo lãnh… và trích lập quỹ dự phòng rủi ro để bù
đắp các khoản cho vay không thu được nợ.
1.3.2.Cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là một giao dịch hợp đồng giữa hai chủ thể bao gồm
bên chủ sở hữu tài sản và bên sử dụng tài sản, trong đó bên chủ sở hữu tài sản
(bên cho thuê) chuyển giao tài sản cho bên đi thuê sử dụng trong một thời gian
nhất định và bên sử dụng tài sản phải thanh toán tiền thuê cho bên chủ sở hữu
tài sản.
Cho thuê tài chính là loại cho thuê vốn dài hạn, bên thuê không được hủy
bỏ hợp đồng. Bên đi thuê chịu trách nhiệm bảo trì, đóng bảo hiểm và thuế tài
sản. Phần lớn các hợp đồng cho thuê tài chính, bên thuê được quyền gia hạn hợp
đồng hoặc được quyền mua đứt tài sản sau khi thời hạn hợp đồng kết thúc. Thực
chất của cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ vốn, trong đó theo yêu cầu
của bên đi thuê, bên cho thuê tiến hành mua tài sản và chuyển giao cho bên đi
thuê sử dụng.
1.3.3. Dịch vụ thanh toán và tài trợ thương mại
Hầu hết các giao dịch thanh toán giữa các khách hàng trong nước và nước
ngoài đều được thực hiện qua ngân hàng. Nhờ việc nắm giữ tài khoản của khách
hàng, đồng thời thông qua việc kiểm soát chứng từ thanh toán mà các ngân hàng
hoàn toàn có khả năng thực hiện các dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách
Phương thức chuyển tiền có thể được tiến hành bằng hình thức chuyển
tiền bằng thư (M/T) hoặc chuyển tiền bằng điện (T/T). Việc chuyển tiền ngày
nay có thể được thực hiện thông qua hệ thống SWIFT.
Phương thức chuyển tiền là một phương thức đơn giản, NH chỉ đóng vai
trò trung gian nên người bán sẽ gặp rủi ro nếu người mua không thực hiện thanh
toán.
*Phương thức nhờ thu :
Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán , trong đó người bán
sau khi hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa hoặc cung ứng DV cho
khách hàng, ủy thác cho NH phục vụ mình thu hộ tiền của người mua trên cơ sở
hối phiếu do người bán lập ra (hoặc / và kèm chứng từ).
Các loại nhờ thu : nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
*Phương thức tín dụng chứng từ (L/C):
Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng phổ
biến nhất hiện nay. Đây là một sự thỏa thuận trong đó một NH theo yêu cầu của
khách hàng của mình (ngừơi xin mở L/C) sẽ trả tiền cho người thứ ba hoặc trả
cho bất cứ người nào theo lệnh của người thứ ba hoặc sẽ trả, chấp nhận mua hối
phiếu do người hưởng lợi phát hành; hoặc cho phép một NH khác trả tiền, chấp
nhận mua hối phiếu khi xuất trình đầy đủ các chứng từ đã quy định và mọi điều