giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại phòng giao dịch ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam chi nhánh bách khoa
3.1 Mục tiêu, phương hướng hoạt động tín dụng tại Sở và những yêu
cầu đặt ra phải nâng cao chất lượng tín dụng
3.1.1 Môi trường hoạt động của phòng giao dịch :
Là một đơn vị kinh doanh trong nền kinh tế do vậy mọi sự biến động
của nền kinh tế đều tác động đến hoạt động kinh doanh đặc biệt là hoạt động
tín dụng của phòng giao dịch.
* Thuận lợi :
Nền kinh tế đã đạt được những kết quả tích cực. Nhịp độ tăng trưởng
GDP đạt khoảng 5%.
Nông nghiệp đạt vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Tổng sản lượng
lương thực đạt 40,5 triệu tấn. Mức cao nhất từ trước đến nay.
Công nghiệp đạt mức tăng trưởng hơn 10%
Kim ngạch xuất khẩu tăng 25% so với năm 2008, vượt hơn chỉ tiêu kế
hoạch đề ra, hạn chế các tác động bất lợi do hậu quả của khủng hoảng kinh tế
khu vực.
Phòng giao dịch nằm tại 92- Võ Thị Sáu là địa bàn đẹp nằm ngay trung
tâm thủ đô có điều kiện để thu hút khách hàng.
* Khó khăn :
Mức tăng trưởng kinh tế ở mức thấp sản xuất cầm chừng, nhiều sản phẩm sản
xuất ra khó tiêu thụ, khu vực dịch vụ tăng chậm, đầu tư trực tiếp nước ngoài
liên
tục giảm mạnh.
1
Tình hình lũ lụt để lại nhiều hậu quả nặng nề trong khu vực, có tác động
xấu đến nền kinh tế đất nước.
Nhà nước tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật
tạo hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động ngân hàng. Bên cạnh đó trong
năm 2008 nhà nước liên tục điều chỉnh giảm lãi suất trần cho vay làm ảnh
hưởng tới hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động của
- Dư nợ cho vay tăng trưởng 25%
- Tỷ lệ nợ quá hạn nhỏ hơn 20% so với tổng dư nợ
- Tỷ lệ cho vay trung, dài hạn chiếm 50% so với tổng dư nợ
- Tỷ lệ cho vay doanh nghiệp chiếm từ 90-95% tổng dư nợ cho vay
Tiếp tục triển khai nhanh tốc độ hiện đại hoá công nghệ ngân hàng,
củng cố và phát triển mạng lưới thanh toán với các chi nhánh. Hoàn chỉnh mô
hình tổ chức, các cơ chế nghiệp vụ, từng bước đưa hoạt động của phòng giao
dịch phát triển đáp ứng được với nhiệm vụ và tầm vóc của Sở đầu mối .
3.2 giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại phòng giao dịch
Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn đứng trước những nguy cơ rủi ro
và tín dụng là một trong những lĩnh vực có rủi ro cao nhất. Đối với các ngân
hàng thương mại Việt Nam hoạt động tín dụng đang là lĩnh vực chủ đạo
chiếm tỷ trọng từ 85-95% doanh thu nên việc đảm bảo tín dụng sẽ là vấn đề
có tính quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại. Chính
vì vậy mà việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất
lượng tín dụng luôn là mục tiêu và là một nhân tố quan trọng nhất để cạnh
tranh và phát triển của mỗi ngân hàng thương mại.
Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng tín dụng .
3
Thông qua việc phân tích thực trạng tín dụng của phòng giao dịch trong
chương II chúng ta thấy rằng tình trạng tín dụng tại ngân hàng đang còn nhiều
vấn đề cần khắc phục. Để chất lượng tín dụng tại ngân hàng trong thời gian
tới thực sự hiệu quả thì ngân hàng cần phải thực hiện một số giải pháp sau
đây:
3.2.1 Công tác huy động vốn :
Nguồn vốn mà ngân hàng huy động bao gồm có: Tiền gửi không kỳ hạn,
tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác như phát hành các
giấy tờ có giá... Các loại tiền gửi này có thể được hưởng lãi hoặc không và
ngân hàng phải hoàn trả khi khách hàng yêu cầu. Đây là nguồn vốn cơ bản để
ngân hàng hoạt động cho vay và các dịch vụ khác mang lại lợi ích cho ngân
Thực hiện nhiều hình thức huy động đa dạng phong phú hấp dẫn khách
hàng như nhận tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân, tiền gửi tổ chức kinh tế, tổ
chức các đợt phát hành kỳ phiếu trái phiếu bằng nội tệ, ngoại tệ ...
Tăng cường hoạt động trên các phương tiện thông tin đại chúng để ngân
hàng tự giới thiệu về mình với khách hàng. Có thể nói cho đến nay trong phần
lớn bộ phận dân cư còn chưa hiểu biết đầy đủ về phòng giao dịch nên việc
làm trên sẽ tạo được ưu thế của phòng giao dịch trên thị trường có như vậy
các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư mới có thể tập trung về ngân
hàng.
Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá
hiện đại hoá nên lượng vốn để đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế ngày càng
lớn. Vì vậy nếu phòng giao dịch thực hiện tốt những công tác trên sẽ thu hút
5
được một lượng vốn đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng góp
phần điều hoà vốn tốt nhất cho nền kinh tế.
3.2.2. Trong công tác cho vay và thu nợ :
Đây là công tác quan trọng nhất quyết định đến chất lượng của các
khoản tín dụng và sự tồn tại của ngân hàng do vậy mục tiêu của ngân hàng ở
đây không chỉ là mở rộng doanh số cho vay mà phải thực hiện các khoản vay
có hiệu quả trong công tác này Sở cần phải áp dụng các biện pháp như :
* Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng ngân hàng :
Trong hoạt động tín dụng có vô số các rủi ro khác nhau có thể dẫn đến
việc không trả được nợ khi đến hạn của khách hàng. Đều có thể đưa ra được
quyết định cho vay các nhà lãnh đạo ngân hàng phải cố gắng ước lượng
những rủi ro không hoàn trả. Rủi ro này có thể dự đoán được trong quá trình
phân tích tín dụng hay thẩm định tín dụng.
Thẩm định tín dụng là xác định khả năng hay ý muốn của người vay
trong việc hoàn trả tiền vay. Có rất nhiều yếu tố mà các nhà ngân hàng cần
phải xem xét về khả năng và sự sẵn lòng hoàn trả tiền vay phù hợp với các
điều khoản trong hợp đồng tín dụng. Trong đó còn chú ý tới 5 nhân tố quan
tín của đơn vị vay vốn. Bên cạnh đó ngân hàng còn điều tra các thông tin từ
bên ngoài như: thông tin điều tra nơi hoạt động sản xuất kinh doanh, điều tra
từ các bạn hàng của đơn vị vay vốn, các nguồn thông tin từ Trung tâm thông
tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước và Trung tâm thông tin phòng ngừa rủi ro
của nhno&ptnt chi nhánh bách khoa ...Tuy nhiên hoạt động của các trung tâm
này mới chỉ đạt được một số kết quả nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu
thực tế của hoạt động tín dụng. Vì vậy ngân hàng cần trang bị các phương tiện
thông tin hiện đại, tập huấn nghiệp vụ cho các cán bộ làm công tác thu thập
7
thông tin phòng ngừa rủi ro nhằm trang bị phương pháp tìm kiếm, tra cứu tạo
lập thông tin về doanh nghiệp một cách chính xác.
Trong thời gian tới khi Sở thực hiện cho vay đối với hộ sản xuất thì
nguồn thông tin thu thập chủ yếu ở đây là: Tên tuổi, địa chỉ của chủ hộ, trình
độ học vấn, đạo đức, tính thật thà siêng năng, các tệ nạn như nghiện rượu,
nghiện hút ... kinh nghiệm quản lý, tài sản hiện có, tình trạng gia đình (số lao
động, số nhân khẩu), đối tượng xin vay vốn, diện tích canh tác, mức thu nhập
bình quân/ tháng và một số tình hình khác ...
Trên cơ sở thông tin đã thu thập được tiến hành xử lý và phân tích các
thông tin đó một cách chính xác và khoa học để từ đó đưa ra những quyết
định chính xác.
- Phân tích tài chính đơn vị vay vốn :
Việc thường xuyên phân tích tài chính đơn vị vay vốn, để hiểu rõ về
năng lực tài chính của đơn vị đó từ đó làm cơ sở đưa ra những phán quyết tín
dụng là việc làm hết sức cần thiết. Mặt khác việc phân tích tài chính là việc
phân tích tình hình hoạt động của đơn vị vay vốn từ đó biết được tình hình tài
chính, khả năng trả nợ của người xin vay, các khoản thu, chi của đơn vị đó có
hợp lý không, biết được các khoản phải trả, các khoản phải thu để có thể tính
được các khoản mà đơn vị có thể trả trong tương lai cho ngân hàng...Chính vì
vậy các cán bộ tín dụng cần đi sâu phân tích các khoản phải trả, doanh thu,
chi phí, lợi nhuận, khả năng tiêu thụ sản phẩm hàng hoá. Đồng thời tính toán