Phát triển các nghiệp vụ kinh doanh tại Công ty cổ phần Chứng khoán Thái Bình Dương - Pdf 76

MỤC LỤC
KHUẾCH TRƯƠNG HÌNH ẢNH DOANH NGHIỆP ..................................................................... 69
Danh mục tài liệu tham khảo ....................................................................... .........93

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời từ tháng 7/2000. Trong những
năm đầu phát triển, quy mô thị trường chưa lớn, chưa phát triển. Doanh
nghiệp chưa coi đây là một thị trường tiềm năng để huy động vốn, nhà đầu tư
chưa đánh giá đây là môi trường đầu tư hấp dẫn vì vậy các công ty chứng
khoán mở ra trong thời điểm này cũng hoạt động cầm chừng, chưa có điều
kiện phát triển. Nguồn thu chủ yếu của các công ty chứng khoán trong khoảng
thời gian này (giai đoạn 2000 – 2003) là phát triển dịch vụ tư vấn cổ phần hoá
theo chính sách cổ phần hoá mạnh mẽ các doanh nghiệp nhà nước của Chính
phủ, thu phí từ hoạt động môi giới – giao dịch.
Các công ty chứng khoán ra đời vào thời điểm này hầu hết dưới hình
thức Công ty TNHH một thành viên trực thuộc các Ngân hàng Thương Mại
quốc doanh lớn, được cấp 100% vốn, không chịu áp lực lợi nhuận và doanh
số. Tuy thị trường chứng khoán còn chưa phát triển, nghiệp vụ kinh doanh các
công ty chứng khoán còn đơn giản chưa phát triển song các công ty chứng
khoán vẫn tồn tại được vì áp lực cạnh tranh không cao, yêu cầu từ phía thị
trường giản đơn…
Ngày nay, qua một thời gian phát triển 7 năm, thị trường chứng khoán
Việt Nam đã lớn mạnh gấp hàng trăm lần cả về quy mô và sự phát triển và
bên cạnh đó các công ty chứng khoán hoạt động trong thị trường này chịu áp
lực cạnh tranh đào thải của gay gắt. Số lượng các công ty chứng khoán nhiều
gấp mười lần so với trước kia, yêu cầu đòi hỏi của thị trường tăng cao thêm
vào đó các ưu đãi của nhà nước dành cho ngành chứng khoán chứng khoán
dần giảm đi.
Đứng trước những thách thức thị trường và áp lực cạnh tranh to lớn,
khoảng hơn một năm trở lại đây, các công ty chứng khoán đã liên tục cho ra

3
Chương 2 : Thực trạng các nghiệp vụ kinh doanh tại công ty
cổ phần chứng khoán Thái Bình Dương
Chương 3 : Giải pháp phát triển các nghiệp vụ kinh doanh
tại Công ty cổ phần Chứng khoán Thái Bình
Dương
.
4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁC NGHIỆP VỤ
KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1. Khái niệm Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế. Công ty
chứng khoán sử dụng các chức năng kinh doanh Môi giới chứng khoán, Tự
doanh chứng khoán, Bảo lãnh phát hành chứng khoán, Tư vấn chứng khoán…
để thực hiện kinh doanh thu lợi nhuận.
1.1.2. Chức năng của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán có ba chức năng chủ yếu trên thị trường tài chính:
- Một là: Tạo ra cơ chế huy động vốn bằng cách kết nối những người có tiền
(nhà đầu tư) với những người muốn huy động vốn đó là tổ chức phát hành
chứng khoán như Công ty cổ phần, Công ty TNHH hoặc là Chính phủ.
- Hai là: Cung cấp một cơ chế giá cả cho giá trị của các khoản đầu tư. Các
khoản đầu tư được đưa cho người sử dụng vốn có hiệu quả thì giá cả hiện
hữu của chúng trên thị trường có thể gấp nhiều lần so với giá trị của các
khoản đầu tư và ngược lại.
- Ba là: Cung cấp cơ chế chuyển ra tiền mặt cho các nhà đầu tư. Sau một
thời gian đầu tư khi không muốn nắm giữ khoản đầu tư đó nữa nhà đầu tư
có thể thông qua cơ chế của Công ty chứng khoán để chuyển nhượng toàn
bộ hoặc một phần khoản đầu tư của mình sang nhà đầu tư khác.
Khi thực hiện các chức năng của mình, các Công ty chứng khoán cũng tạo

1.1.3.2. Vai trò cung cấp một cơ chế giá cả
Ngành công nghiệp chứng khoán nói chung, công ty chứng khoán nói
riêng thông qua các trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giao dịch chứng
khoán và thị trường OTC có chức năng cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp
nhà đầu tư có được sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị các khoản
đầu tư của mình. Các sở giao dịch chứng khoán và trung tâm giao dịch chứng
khoán niêm yết giá cổ phiếu của các công ty niêm yết hàng ngày, các giao
dịch thường xuyên về chứng khoán của các công ty này tạo ra một giá cả thị
trường chuẩn mực.. Ngoài ra chứng khoán của nhiều công ty lớn (các công ty
6
đại chúng) chưa được niêm yết tại sở giao dịch hoặc trung tâm giao dịch
chứng khoán, giá cả của chúng cũng được công bố thường xuyên trên các
webside của các công ty chứng khoán, các công ty môi giới OTC hoặc các
báo tài chính hàng đầu của thị trường.
Công ty chứng khoán còn có một chức năng quan trọng là can thiệp trên
thị trường (market maker) góp phần điều tiết giá chứng khoán. Theo quy định
của các nước, các công ty chứng khoán bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ vốn và
chứng khoán nhất định để mua chứng khoán vào khi giá thị trường xuống thấp
và bán ra khi giá thị trường lên cao. Nghiệp vụ này mang tính chất điều tiết
nhằm giúp giá cả của chứng khoán ở mức tương đối ổn định trong một thời
gian nhất định và nhà đầu tư có đủ thời gian để phân tích nhận định.
1.1.3.3. Vai trò cung cấp một cơ chế chuyển ra tiền mặt
Các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thành chứng
khoán vì chứng khoán có giá và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn
định (nghĩa là tính lỏng của chứng khoán càng cao càng tốt, dễ dàng chuyển
chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại). Các công ty chứng khoán đảm
nhận được chức năng chuyển đổi này thông qua nghiệp vụ môi giới chứng
khoán. Chẳng hạn trong hầu hết các thương vụ đầu tư chứng khoán niêm yết
và OTC ngày nay một nhà đầu tư hàng ngày có thể chuyển đổi tiền mặt thành
chứng khoán và ngược lại.

doanh của công ty chứng khoán ở mỗi nước đều có những đặc điểm riêng tuỳ
theo đặc điểm của hệ thống tài chính và sự cân nhắc lợi hại của những người
làm công tác quản lý nhà nước. Tuy nhiên có thể khái quát thành hai mô hình
cơ bản hiện nay là:
1.1.4.1 Mô hình kinh doanh đa năng chứng khoán và tiền tệ
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ
thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này
chia thành hai loại:
- Loại đa năng một phần: Các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty độc lập tách rời.
Hiện nay ở Việt Nam các Ngân hàng thương mại quốc doanh thường theo
mô hình này. Họ thành lập các công ty chứng khoán trách nhiệm hữu hạn một
thành viên 100% vốn của ngân hàng. Điển hình là có Công ty TNHH Chứng
8
khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam, Công ty TNHH chứng khoán Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Công ty TNHH Chứng
khoán Ngân hàng Đầu tư Việt Nam…
- Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng được kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
Ưu điểm của mô hình này là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực
kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có khả
năng chịu đựng các biến động của thị trường chứng khoán. Mặt khác, ngân
hàng sẽ tận dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh doanh chứng
khoán.
Nhược điểm: không phát triển được thị trường cổ phiếu vì các ngân hàng
có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn là bảo lãnh phát hành cổ
phiếu, trái phiếu. Đồng thời, các ngân hàng cũng rất dễ gây lũng đoạn thị
trường và các biến động trên thị trường chứng khoán, nếu có, sẽ ảnh hưởng
mạnh tới hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng do không tách bạch giữa
hai loại hình kinh doanh này.

số vốn mà các hội viên có thể đóng góp.
Hiện nay tại Việt Nam không có công ty chứng khoán nào được thành lập
theo kiểu công ty hợp danh. Trong Luật Doanh nghiệp có quy định rõ công ty
chứng khoán được thành lập dưới hai hình thức là công ty trách nhiệm hữu
hạn hoặc công ty cổ phần.
Công ty chứng khoán loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn:
- Đây là loại hình công ty đòi hỏi trách nhiệm của những thành viên giới hạn
trong số vốn mà họ đã góp. Vì thế điều này gây tâm lý nhẹ nhàng cho các
nhà đầu tư
- Mặt khác về phương diện huy động vốn cũng đơn giản và linh hoạt hơn so
với công ty hợp danh. Đồng thời, vấn đề tuyển đội ngũ quản lý cũng năng
động hơn không bị bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh.
10
Vì những lý do đó rất nhiều công ty chứng khoán hiện nay hoạt động dưới
hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
Tuy nhiên loại hình công ty này cũng có những hạn chế nhất định như số
thành viên góp vốn không thể gia tăng quá lớn (do không thể phát hành cổ
phiếu) do đó sẽ gặp phải khó khăn khi cần tăng vốn lớn khi các thành viên có
tiềm lực tài chính không đủ mạnh.
Ở Việt Nam có rất nhiều các công ty chứng khoán là TNHH một thành
viên với 100% vốn góp từ các ngân hàng thương mại có tiềm lực tài chính
hùng mạnh dồi dào. Ngày nay cũng đang có xu thế chuyển dịch dần cổ phần
hóa chuyển thành các công ty chứng khoán cổ phần.
Công ty chứng khoán loại hình Công ty cổ phần
- Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập, với các chủ sở hữu là các cổ
đông.
- Đại hội đồng cổ đông có quyền bầu hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị sẽ
định ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các chức
danh quản lý khác để điều hành công ty theo các sách lược kinh doanh đã
đề ra.

quyền tự quyết.
Một số bộ phận trong công ty chứng khoán nhiều khi không quá phụ thuộc
lẫn nhau như bộ phận môi giới - bộ phận tự doanh hay bảo lãnh phát hành.
- Nhân tố con người:
Nói chung, trong công ty chứng khoán, quan hệ với khách hàng có tầm
quan trọng số một. Sản phẩm càng trừu tượng thì con người càng quan trọng.
Khác với các công ty sản xuất, trong công ty chứng khoán,việc thăng tiến
cất nhắc lên vị trí cao hơn không quá quan trọng.
Các chức vụ quản lý hay giám đốc công ty chứng khoán còn có thể nhận
được thù lao ít hơn so với một số nhân viên cấp dưới. Ví dụ các chuyên gia
phân tích kinh tế, phân tích thị trường…
12
- Ảnh hưởng của thị trường tài chính:
Thị trường tài chính nói chung, thị trường chứng khoán nói riêng có ảnh
hưởng lớn tới chuyên môn, sản phẩm dịch vụ và khả năng thu lợi nhuận của
các công ty chứng khoán. Thị trường chứng khoán càng phát triển thì càng có
khả năng tạo thêm các công cụ tài chính và đa dạng hóa dịch vụ, qua đó có
thêm các cơ hội thu lợi nhuận. Với mức độ phát triển khác nhau của thị
trường, cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán cũng khác nhau để đáp ứng
những nhu cầu riêng. Công ty chứng khoán ở một số nước như Mỹ, Nhật bản
có xu hướng rất phức tạp, trong khi cơ cấu tổ chức công ty chứng khoán ở một
số nước mới có thị trường chứng khoán như Đông Âu và Trung Quốc đơn
giản hơn nhiều.
- Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán:
Cơ cấu tổ chức công ty chứng khoán phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ
chứng khoán mà công ty thực hiện cũng như quy mô họat động kinh doanh
chứng khoán của nó. Tuy nhiên, chúng đều có những đặc điểm chung là hệ
thống phòng ban chức năng được chia ra làm hai khối tương ứng với hai khối
công việc mà công ty chứng khoán đảm nhận
Khối I (front office): Do một phó giám đốc trực tiếp phụ trách, thực hiện

Tự
doanh
(kinh
doanh)
Phòng
Bảo
lãnh
phát
hành
Phòng
tư vấn
đầu tư
Phòng
Quản
lý quỹ
đầu tư
Phòng
tư vấn
tài
chính
công
ty
Phòng
thanh
toán
và lưu
giữ
chứng
khoán
Phòng

Kế
toán
Phòng
ký quỹ
(quản
lý tài
sản
vay
mua)
Phòng
hoạch
toán
tín
dụng
Phòng
Kế
hoạch
kinh
doanh
Phòng
phát
triển
sản
phẩm
mới
Phòng
tin học
– công
nghệ
thông

Quỹ xã hội
Doanh
nghiệp
Chính phủ
và chính
quyền địa
phương
Chi nhánh
cty chứng
khoán
Phòng giao
dịch
Văn phòng
đại diện
ctychứng
khoán
Công ty
chứng
khoán
Tổng hợp
lệnh đặt
hàng
Môi giới
sàn giao
dịch
- Nghiệp vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp.
- Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán.
- Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán.
1.2.1. Khái niệm, chức năng và những nét đặc trưng các nghiệp vụ chủ
yếu của công ty chứng khoán:

tư vấn uỷ quyền (vừa tư vấn vừa quyết định theo sự phân cấp, uỷ quyền thực
hiện của khách hàng).
Nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư vấn:
Hoạt động tư vấn là việc người tư vấn sử dụng kiến thức, để kinh doanh
nhằm đem lại lợi nhuận (hiệu quả) cho khách hàng. Nhà tư vấn đòi hỏi hết sức
thận trọng trong việc đưa ra các lời khuyên đối với khách hàng, vì với lời
khuyên đó khách hàng có thể thu về lợi nhuận lớn hoặc thua lỗ, thậm chí phá
sản, còn người tư vấn thu về cho mình khuản thu phí về dịch vụ tư vấn (bất kể
tư vấn đó thành công hay không). Hoạt động tư vấn đòi hỏi phải tuân thủ một
số nguyên tắc cơ bản sau:
- Không đảm bảo chắc chắn về giá trị CK: giá trị CK không phải là một số
cố định, nó luôn thay đổi theo các yếu tố kinh tế, tâm lý và diễn biến thực tiễn
của thị trường.
- Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình dựa trên cơ sở
phân tích các yếu tố lý thuyết và những diễn biến trong quá khứ, có thể là
không hoàn toàn chính xác và khách hàng là người quyết định cuối cùng trong
việc sử dụng các thông tin từ nhà tư vấn để đầu tư, nhà tư vấn sẽ không chịu
trách nhiệm về những thiệt hại kinh tế do lời khuyên đưa ra.
- Không được dụ dỗ, mời chào khách hàng mua hay bán một loại CK nào
đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ những cơ sở khách quan là quá
trình phân tích, tổng hợp một cách khoa học, logic các vấn đề nghiên cứu.
1.2.1.2. Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán
cho chính mình. Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực hiện
thông qua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC. Tại một số thị
17
trường vận hành theo cơ chế khớp giá hoạt động tự doanh của CTCK được
thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường. Lúc này CTCK đóng vai trò
quan trọng là một nhà tạo lập thị trường nắm giữ một số lượng chứng khoán
nhất định của một số loại chứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với

trên.
- Góp phần bình ổn thị trường, Các CTCK hoạt động tự doanh nhằm mục
đích ổn định giá cả thị trường. Trong trường hợp này, hoạt động tự doanh
được tiến hành bắt buộc theo luật định. Luật các nước đều quy định các
CTCK phải dành một tỷ lệ phần trăm nhất định các giao dịch của mình cho
hoạt động bình ổn thị trường. Theo đó các CTCK có nghĩa vụ mua vào khi giá
chứng khoán bị giảm và bán ra khi giá chứng khoán lên nhằm mục đích giữ
giá chứng khoán ổn định.
- Hoạt động tạo lập thị trường, Khi được phát hành, các chứng khoán mới
chưa có thị trường giao dịch. Để tạo thị trường cho các chứng khoán này các
CTCK thực hiện tự doanh thông qua mua và bán chứng khoán, tạo tính thanh
khoản trên thị trường cấp hai. Trên những thị trường chứng khoán phát triển,
các nhà tạo lập thị trường sử dụng nghiệp vụ mua bán chứng khoán trên thị
trường OTC để tạo thị trường. Theo đó họ liên tục có những báo giá để mua
hoặc bán chứng khoán với các nhà kinh doanh chứng khoán khác. Như vậy họ
sẽ duy trì một thị trường liên tục đối với chứng khoán mà họ kinh doanh.
Các hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh.
Giao dịch gián tiếp: CTCK đặt các lệnh mua và bán chứng khoán trên
SGDCK, lệnh của họ có thể được thực hiện với bất kỳ khách hàng nào không
được xác định trước.
Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch tay đôi giữa hai công ty chứng khoán hay
giữa CTCK với một khách hàng thông qua thương lượng. Đối tượng của các
giao dịch trực tiếp là các loại chứng khoán đăng ký giao dịch ở thị trường
OTC.
1.2.1.3. Nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng, đòi
hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các công ty chứng khoán tư vấn cho đợt
phát hành và thực hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng. Đây
chính là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của các công ty chứng khoán và là
19

với tổ chức phát hành.
20
- Bán rộng rãi ra công chúng.
Đến đúng ngày theo hợp đồng, công ty bảo lãnh phát hành phải giao tiền
bán Chứng khoán cho tổ chức phát hành. Số tiền phải thanh toán là giá trị
chứng khoán phát hành trừ đi chi phí bảo lãnh.
1.2.1.4. Nghiệp vụ Tư vấn tài chính Doanh nghiệp
Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình tài chính doanh nghiệp để đề xuất
các giải pháp tối ưu làm lành mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính
của doanh nghiệp.
Tiện ích:
Lành mạnh hóa tình hình tài chính doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Tư vấn cổ phần hóa:
Tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện quá trình cổ phần hóa.
Tiện ích:
Đảm bảo cho quá trình cổ phần hóa của doanh nghiệp triển khai thực
hiện đồng bộ, hiệu quả khách quan, minh bạch, phù hợp với quy định, chỉ
đạo của các bộ, ban ngành.
Tiết kiệm thời gian thực hiện.
Chi phí cổ phần hóa hợp lý.
Tư vấn phát hành:
Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng phương án phát hành, thực hiện các thủ
tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu theo quy định của pháp luật.
Tiện ích:
Huy động vốn cho hoạt động đầu tư phát triển của doanh nghiệp
Lựa chọn phương án phát hành tối ưu nhất.
Tư vấn niêm yết:
21
Hỗ trợ doanh nghiệp các thực hiện các thủ tục để niêm yết cổ phiếu tại

Đánh giá cơ hội đầu tư của doanh nghiệp.
Có quyết định đúng đắn nhất với dự án của mình.
Cơ hội tìm kiếm được nguồn vốn đầu tư với chi phí thấp.
Tư vấn khác:
Các dịch vụ tư vấn khác liên quan đến phạm vi hoạt động của công ty.
1.2.1.5. Nghiệp vụ Lưu ký chứng khoán
Lưu ký CK là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng thông
qua các tài khoản lưu ký CK. Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch CK,
bởi vì giao dịch CK trên thị trường tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ,
khách hàng phải mở tài khoản lưu ký CK tại các công ty chứng khoán hoặc ký
gửi các chứng khoán. Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách
hàng, công ty chứng khoán sẽ nhận được các khoản phí lưu ký chứng khoán,
phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán.
Quản lý thu nhập của khách hàng
Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng
khoán sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm
dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của
khách hàng.
Hoạt động tín dụng
Đối với các thị trường chứng khoán phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi giới
chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, công ty chứng khoán còn
triển khai hoạt động cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao dịch
bán khống hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiện nghiệp vụ
mua ký quỹ.
23
Cho vay ký quỹ là hình thức cấp tín dụng của công ty chứng khoán cho
khách hàng của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó
làm vật thế chấp cho khoản vay đó. Khách hàng chỉ cần ký quỹ một phần, số
còn lại sẽ do công ty chứng khoán ứng trước tiền thanh toán. Đến kỳ hạn thỏa
thuận, khách hàng phải hoàn trả đủ số vốn gốc vay cùng với lãi cho công ty

công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán phát triển rất nhiều các sản phẩm dịch vụ. Các
sản phẩm dịch vụ này đều được phát triển từ các nghiệp vụ cơ bản của công ty
chứng khoán đó là:
- Nghiệp vụ môi giới chứng khoán.
- Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
- Nghiệp vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp.
- Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán.
1.3.2.1. Chỉ tiêu phát triển số lượng dịch vụ trong các nghiệp vụ kinh doanh
1.3.2.1.1. Chỉ tiêu phát triển số lượng dịch vụ trong Nghiệp vụ môi giới
1/ Giao dịch tại sàn: Công ty chứng khoán làm trung gian giúp khách
hàng mua – bán các loại chứng khoán đang niêm yết ở trung tâm giao dịch
Đây là dịch vụ cơ bản của nghiệp vụ môi giới chứng khoán.
2/ Giao dịch từ xa: Có 3 loại hình giao dịch từ xa chính đó là:
+ Giao dịch và tra cứu dịch vụ qua Internet
+ Giao dịch và tra cứu dịch vụ qua điện thoại.
+ Giao dịch và tra cứu thông tin qua tin nhắn SMS…
3/ Đại lý đấu giá cấp 2: Công ty chứng khoán làm đại lý đấu giá cấp 2
cho trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở Giao dịch Chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh.
4/ Tổ chức đấu giá: Công ty chứng khoán tổ chức đấu giá cho Doanh
nghiệp cổ phần hóa, bán bớt phần vốn nhà nước hoặc đấu giá phát hành ra bên
ngoài…
25

Trích đoạn CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC NGHIỆP VỤ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN THÁI BÌNH DƯƠNG Cơ Sở vật chất kỹ thuật tại Công ty Chứng khoán Thái Bình Dương Nghiệp vụ môi giớ BIỂU ĐỒ CƠ CẤU TÀI SẢN ĐẦU TƯ THEO NGÀNH Lãi/Lỗ các khoản thanh hoán (LN) 1,65,779,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status