MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÁCDOANH NGHIỆP XÂY DỰNG CƠ BẢN - Pdf 76

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÁCDOANH NGHIỆP XÂY DỰNG CƠ BẢN.
I- Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây dựng cơ bản:
Xây dựng cơ bản (XDCB) là một ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt có khả
năng sản xuất Tài sản cố định (TSCĐ) cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân, nó
tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế, quốc phòng cho đất nước.
So với các ngành kỹ thuật khác, XDCB có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc trưng thể
hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành, cụ thể:
- Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc có qui mô lớn, kết cấu
phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất kéo dài, trình độ kỹ mỹ thuật cao. Đặc
điểm này thường làm cho vốn đầu tư XDCB thường bị ứ đọng lâu tại công trình đang xây
dựng, các công trình xây dựng dễ gặp phải rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, công trình xây
dựng xong dễ bị hao mòn vô hình. Do vậy, việc tổ choc quản lý nhất thiết phải có dự toán,
thiết kế thi công.
- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn các điểu kiện sản xuất
như lao động, vật tư, thiết bị ... luôn phải di chuyển theo mặt bằng, vị trí thi công. Mặt
khác, hoạt động XDCB lại tiến hành ngoài trời, chịu ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu nên
dễ gây tình trạng hao hụt, mất mát, lãng phí vật tư, tài sản, làm tăng thiệt hại trong tổng chi
phí sản xuất.
- Sản phẩm xây lắp hoàn thành không nhập kho mà được tiêu thụ ngay
theo giá dự toán, hoặc giá thoả thuận với chủ đầu tư từ trước. Do đó, ính chất hàng hoá của
sản phẩm thể hiện không rõ.
- Quá trình tạo ra sản phẩm xây dựng từ khi khởi công đến khi công trình
hoàn thành bàn giao đưa vaò sử dụng thường dài, phụ thuộc vào qui mô, tính phức tạp của
từng công trình. Quá trình thi công xây dựng này được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi
giai đoạn chia thành nhiều công việc khác nhau.
Đối tượng kế toán sản phẩm xây lắp có thể là các công trình, hạng mục công trình,
đơn đặt hàng, giai đoạn công việc hoàn thành. Về cơ bản, việc kế toán các phần hành kế
toán như: TSCĐ, vật liệu, công cụ, dụng cụ, chi phí nhân công ... Trong doanh nghiệp xây
lắp cũng tương tự như doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, do hoạt động sản
xuất kinh doanh và quản lý của ngành XDCB có đặc điểm riêng nên nội dung của chi phí

- Tính toán chính xác và kịp thời giá thành sản phẩm xây dựng, các sản
phẩm và lao vụ khác của doanh nghiệp.
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hạ chi phí của doanh nghiệp trong từng
công trình, từng loại sản phẩm, lao vụ vạch ra khả năng và các biện pháp hạ giá
thành một cách hợp lý, có hiệu quả.
- Xác định đúng đắn và bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng sản phẩm
xây dựng đã hoàn thành. Định kỳ kiểm kê và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo
nguyên tắc qui định.
- Đánh giá đúng kết quả hoạt động kinh doanh ở từng công trình, hạng
mục công trình (HMCT), từng bộ phận thi công, tổ đội sản xuất. Trong từng thời kỳ nhất
định, phải kịp thời lập báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng,
cung cấp chính xác kịp thời các thông tin hữu dụng về chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp.
2- Vai trò của công tác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các
doanh nghiệp xây dựng
Hạch toán kinh tế, thúc đẩy tiết kiệm thời gian lao động, động viên các nguồn vốn
dự trữ nội bộ của doanh nghiệp đồng thời đảm bảo tích luỹ, tạo điều kiện mở rộng không
ngừng sản xuất trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm thoả mãn yêu cầu ngày
càng tăng và nâng cao phúc lợi của quần chúng lao động. Đối với các doanh nghiệp xây
dựng, việc kế toán sẽ cung cấp số liệu một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ phục vụ cho
việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật tư, nhân công, máy
thi công là bao nhiêu so với dự toán và kế hoạch, từ đó xác định được mức tiết kiệm hay
lãng phí chi phí sản xuất để đưa ra những biện pháp thích hợp. Còn việc tính giá thành sản
phẩm xây dựng thể hiện ở toàn bộ chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý
kinh tế tài chính của đơn vị.
II- Kế toán chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp XDCB:
1- Khái niệm chi phí sản xuất:
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây lắp là một quá
trình biến đổi một cách có ý thức, có mục đích các yếu tố đầu vào thi công xây dựng, tạo
thành các công trình, hạng mục công trình nhất định. Một doanh nghiệp để tiến hành sản

yêu cầu tất yếu cho công tác quản lý và kế toán ở doanh nghiệp. Tuỳ vào yêu cầu của từng
mặt quản lý, góc độ xem xét chi phí.... mà chi phí sản xuất được sắp xếp, phân loại theo
cách thức khác nhau. Thông thường, chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp được phân loại
theo các tiêu thức sau:
2.1- Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố:
Theo cách phân loại này, các yếu tố chi phí có cùng chung nội dung, tổ chức kinh tế
được sắp xếp chung vào một yếu tố, không kể chi phí sản xuất ở đâu hay dùng vào mục
đích gì trong quá trình sản xuất. Đối với các doanh nghiệp xây lắp bao gồm các chi phí sau:
- Chi phí nguyên liệu,vật liệu như: xi măng, sắt thép, tấm lợp, vôi, sỏi, giàn
giáo...
- Chi phí nhiên liệu, động lực sản xuất sử dụng vào quá trình sản xuất thi
công như: xăng, dầu, mỡ...
- Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương của công nhân viên trực
tiếp và gián tiếp sản xuất.
- Các khoản trích: BHXH, BHYT, KPCĐ (theo tỷ lệ 19%)
- Chi phí khấu hao TSCĐ: là khoản hao mòn của các loại tài sản có trong
doanh nghiệp như nhà xưởng làm việc, ô tô, cần cẩu, máy thi công.... và khấu hao các
TSCĐ dùng cho quản lý khác.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: điện, nước, điện thoại, điện báo....
- Chi phí khác bằng tiền: là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh, ngoài các chi phí trên.
Việc phân loại chi phí theo nội dung, tổ chức kinh tế có tác dụng rất lớn trong công
tác kế toán cũng như công tác quản lý chi phí sản xuất, nó cho biết nội dung dinh tế ban
đầu đồng nhất của từng khoản chi phí, là cơ sở để lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch
quĩ tiền lương, tính toán nhu cầu vốn lưu động cho kỳ sau và cung cấp tài liệu để tính toán
thu nhập quốc dân.
2.2- Tính toán chi phí sản xuất theo mối quan hệ với quá trình sản xuất:
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được chia làm 2 loại:
- Chi phí trực tiếp: là những khoản chi phí có liên quan trực tiếp tới quá
trình sản xuất và tạo ra sản phẩm. Nó bao gồm chi phí về nguyên vật liệu xây dựng, tiền

đội, chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ dùng chung cho quản lý đội, chi phí hội họp, tiếp
khách, điện thoại, điện nước và các chi phí chung khác.
- Chi phí quản lý Doanh Nghiệp: là những khoản chi phí gián tiếp phục vụ
cho quản lý doanh nghiệp bao gồm tiền lương và các khoản phụ cấp của nhân viên quản lý
doanh nghiệp, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỉ lệ qui định, khấu hao nhà
cửa, máy móc, thiết bị, văn phòng phẩm, thuế, lệ phí, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi
phí bằng tiền mặt khác.
- Chi phí sử dụng máy thi công: là những khoản chi phí để sử dụng xe,
máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình theo phương thức thi công
hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy.( Hoặc là chi phí trả cho việc thuê ngoài máy
thi công)
Trong đó 4 khoản chi phí (nguyên vật liệu trực tiếp,nhân công trực tiếp,sản xuất
chung, sử dụng máy thi công) được tính vào giá trị sử dụng, còn chi phí quản lý doanh
nghiệp được cộng thêm vào để hình thành giá thành toàn bộ. Như vậy, cách phân loại này
cho ta biết được địa điểm sử dụng chi phí,công dụng của từng khoản chi phí và mức phân
bố của từng loại giúp cho việc xác định chỉ tiêu giá trị nhanh chóng kịp thời. Do đặc điểm
của sản phẩm xây lắp và phương pháp dự toán lập cho từng đối tượng xây dựng,theo các
khoản mục giá trị nên phương pháp phân loại chi phí khoản mục là phương pháp được sử
dụng rất phổ biến trong các doanh nghiệp kinh doanh xây lắp.
3- Đối tượng kế toán chi phí sản xuất:
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí thực tế
phát sinh trong kỳ. Để xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí ở từng doanh nghiệp cần
căn cứ các yếu tố sau:
- Tính chất sản xuất, loại hình sản xuất và đặc điểm qui trình công nghệ
sản xuất sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất.
- Căn cứ vào yêu cầu tính giá trị, yêu cầu quản lý, trình độ kế toán và quản
lý ở doanh nghiệp.
Như vậy, thực chất việc xác định đối tượng kế toán chi phí là việc xác định giới hạn
tập hợp chi phí hay xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí.
Trong ngành XDCB, do sản phẩm mang tính đơn chiếc, thời gian xây dựng lâu dài,

tính giá riêng cho công trình, hạng mục công trình đó băng phương pháp tính giá thành
thích hợp.
5- Trình tự kế toán chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây dựng cơ bản bao gồm nhiều loại chi phí có
tổ chức và nội dung khác nhau, phương pháp kế toán và tập hợp chi phí sản xuất vào giá
thành cũng khác nhau. Do đó, để có thể tính giá thành một cách chính xác, kịp thời, tập
hợp chi phí sản xuất phải được tiến hành theo một trình tự hợp lý. Trình tự kế toán chi phí
sản xuất là bước công việc cần tiến hành nhằm tập hợp chi phí sản xuất để phục vụ cho
việc tính giá thành công trình được kịp thời. Trong ngành xây dựng cơ bản cá thể khái
quát việc tập hợp chi phí sản xuất theo các bước sau:
- Bước I: tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp đến từng công trình,
hạng mục công trình.
- Bước II: tính toán và phân bổ lao vụ của các ngành sản xuất kinh doanh có liên
quan trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình.
- Bước III: tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các công trình liên quan.
- Bước IV: xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ.
6- Phương pháp kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp kinh doanh
xây dựng cơ bản
Theo quyết định số 1141 TC/CĐKT ngày 1-11-1995 của Bộ tài chính, doanh nghiệp
căn cứ váo điều kiện cụ thể của mình có thể lựa chọn một trong hai phương pháp kế toán
sau:
-Phương pháp kê khai thường xuyên: áp dụng ở những doanh nghiệp có qui mô sản
xuất lớn tiến hành nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau.
- Phương pháp kiểm kê định kỳ: sử dụng ở những doanh nghiệp có qui mô sản xuất
kinh doanh nhỏ, chỉ có một loại hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong các doanh nghiệp xây lắp hiện nay chỉ áp dụng phương pháp kế toán kê khai
thường xuyên.
a- Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỉ trọng lớn nhất trong chi phí sản xuất sản
phẩm xây lắp. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị thực tế của nguyên vật liệu

=
T
 Phương pháp kế toán cụ thể:
- Khi xuất dùng nguyên vật liệu chính sử dụng trực tiếp cho công trình, hạng mục
công trình, kế toán căn cứ vào những chứng từ như ( phiếu xuất kho, hoá đơn mua hàng)
để ghi:
Nợ tài khoản 621 (Chi phí đối tượng)
Có tài khoản 152 : giá thực tế vật liệu xuất dùng.
Có tài khoản 331,111,112: vật liệu mua ngoài.
Có tài khoản 154 : vật liệu tự sản xuất.
Có tài khoản 331,336,338: Vật liệu vay mượn.
Có tài khoản 441 : vật liệu nhận cấp phát, liên doanh.
-Trường hợp vật liệu sử dụng không hết, phế liệu thu hồi ( bán hoặc nhập lại kho),
kế toán ghi:
Nợ tài khoản 152:
Có tài khoản 621:
- Cuối kỳ kết chuyển giá trị nguyên vật liệu trực tiếp theo từng công trình, hạng mục
công trình:
Nợ tài khoản 154 ( chi tiết đối tượng )
Có tài khoản 621 ( chi tiết đối tượng )
b- Kế toán chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp là toàn bộ tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp lương,
lương phụ có tổ chức ổn định thực tế trả công nhân trực tiếp xây lắp. Chi phí nhân công
này bao gồm tiền lương trả theo thời gian, trả theo sản phẩm, trả làm thêm giờ. Ch phí
nhân công trực tiếp này không bao gồm tiền lương của công nhân xây lắp, vận chuyển vật
liệu ngoài phạm vi thi công, tiền lương công nhân điều khiển và phục vụ máy thi công.
Chi phí nhân công trực tiếp được tính vào giá thành công trình chủ yếu theo phương
pháp trực tiếp. Trường hợp chi phí nhân công trực tiếp liên quan đến nhiều đối tượng hay
nhiều công trình thì có thể phân bổ theo tiêu thức: định mức lương của mỗi công trình hoặc
hệ số tỷ lệ với khối lượng xây lắp hoàn thành. Ngoài ra, tiền lương nghỉ phép cho lao động

Có TK 335 (Tiền lương trích trước)
- Cuối kỳ kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào tài khoản tính giá
thành theo từng đối tượng tập hợp chi phí
Nợ TK 154 (chi tiết đối tượng )
Có TK 622 (chi tiết đối tượng)
c- Kế toán chi phí sử dụng máy thi công:
Đây là khoản chi phí đặc trưng cho hoạt động kinh doanh xây dựng cơ bản. Trong
quá trình sản xuất sản phẩm (thi công), máy thi công trợ lực rất nhiều cho người lao động
và chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành sản phẩm xây lắp. Máy thi công bao gồm máy
móc thiết bị được sử dụng trong quá trình thi công công trình. Chi phí máy thi công gồm:
chi phí vật tư, lao động, nhiên liệu, động lực, chi phí sửa chữa bảo dưỡng máy và chi phí
thuê máy. Sử dụng máy thi công ở doanh nghiệp xây dựng cơ bản để xây lắp công trình,
kế toán sử dụng TK 623 - chi phí sử dụng máy thi công để theo dõi. Không hạch toán vào
TK 623 khoản trích về BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên lương phải trả công nhân sử dụng
máy thi công. Kết cấu của TK 623 như sau:
Tổng số tiền lương chính kế hoạch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status