THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH ÁP DỤNG KẾ TOÁN MÁY TRONG TỔ
CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CPSX VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
HIỆN NAY Ở CÁC DNSXDP.
2.1 Đặc điểm hoạt động và tổ chức quản lý sản xuất của các DNSXDP ảnh
hưởng đến công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm.
2.1.1 Đặc điểm về sản phẩm và các yếu tố liên quan đến việc sản xuất sản
phẩm.
2.1.1.1 Đặc điểm về tính chất sản phẩm.
Sản phẩm cuối cùng của các DNSXDP là thuốc và các thiết bị vật tư y tế.
Thuốc chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe cho nhân dân của Đảng và Nhà nước ta. Vì vậy, Nhà nước đã có nhiều biện
pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa sản
phẩm cũng như phân phối thuốc của các DN trong nước làm lành mạnh môi
trường cạnh tranh giữa các DN, đồng thời Nhà nước cũng quy định: Dược phẩm,
vật tư thiết bị y tế là loại hàng hóa nằm trong nhóm “hàng hóa đặc biệt”. Do đó,
ngoài những thuộc tính chung của hàng hóa là giá trị và giá trị sử dụng, sản
phẩm của các DNSXDP còn có những thuộc tính riêng có và những thuộc tính
này có ảnh hưởng rất lớn đến công tác kế toán nói chung và công tác kế toán
CPSX, giá thành sản phẩm của DN nói riêng.
- Chất lượng của thuốc được thể hiện bằng các chỉ tiêu cụ thể và nghiêm ngặt.
Sản phẩm thuốc chữa bệnh chỉ có một loại phẩm cấp là loại 1, Nhà nước không
cho phép lưu hành thuốc thứ phẩm, vì vậy hiệu quả sản xuất của DN phụ thuốc
rất lớn vào vấn đề chất lượng sản phẩm. Chất lượng của thuốc ảnh hưởng trực
tiếp đến tính mạng và sức khỏe của con người, do đó yêu cầu về chất lượng sản
xuất dược phẩm là rất cao, đòi hỏi sự đầu tư thích đáng cơ sở vật chất, công
nghệ và trình độ lao động để có thể phát triển sản phẩm mới, có chất lượng cao -
phù hợp với sản phẩm của các nước trên thế giới, tuy nhiên không thể sản xuất
và tiêu thụ một cách tràn lan.
- Thuốc chữa bệnh có thời gian sử dụng nhất định và thường không dài, đòi hỏi
công tác bốc dỡ, vận chuyển, bảo quản phải cẩn thận, chu đáo, khoa học. Mặt
khác, do có nhiều loại thuốc, mỗi loại lại có chế độ bảo quản riêng nên việc bảo
3. Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm.
Trong 3 phương pháp đó thì việc tính toán phương pháp khấu hao theo số
lượng, khối lượng sản phẩm phức tạp, còn phương pháp khấu hao đường thẳng
thì việc tính toán đơn giản nhưng khả năng thu hồi vốn chậm (phương pháp khấu
hao nhanh (đường thẳng) vừa tính toán đơn giản, vừa thu hồi vốn nhanh nhưng
điều kiện là DN phải hoạt động có hiệu quả cao. Trên thực tế, các DN nói chung
và các DNSXDP nói riêng thường tính khấu hao theo phương pháp đường thẳng.
Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm chủ yếu của các DNSXDP là quy
trình sản xuất khép kín, liên tục, với chu kỳ ngắn.Thông thường cơ cấu sản xuất
được chia theo các phân xưởng, mỗi phân xưởng sản xuất một số sản phẩm có
công nghệ tương tự nhau như: phân xưởng thuốc nén, phân xưởng thuốc ống,
thuốc đông dược…Quy trình sản xuất được chia theo từng lô, từng mẻ theo công
thức phối liệu riêng và được theo dõi trên hồ sơ lô, mẻ đưa vào sản xuất thông
qua các công đoạn sản xuất trong phân xưởng. Có thể khái quát quy trình công
nghệ sản xuất sản phẩm chủ yếu của các DNSXDP ở Sơ đồ 2.1.
2.1.1.3 Sự đa dạng của nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu là một trong các yếu tố đầu vào vô cùng quan trọng của các
DN sản xuất. Các DNSXDP với chức năng chủ yếu là sản xuất và trực tiếp tiêu
thụ sản phẩm do DN sản xuất ra, vì vậy, vấn đề đảm bảo NVL về số lượng, chất
lượng, tính đồng bộ là yếu tố quan trọng để tiến hành sản xuất kinh doanh. Để
sản xuất một loại sản phẩm cần tới hàng chục, thậm chí hàng trăm loại NVL mà
ở các DNSXDP sản xuất rất nhiều loại sản phẩm (sản phẩm thuộc về đông dược,
tân dược, mỹ phẩm…), do đó chủng loại NVL rất phong phú.
Một điều đặc biệt là 100% nguyên liệu đầu vào của các hàng tân dược đều
phải nhập khẩu nên phải phụ thuộc rất lớn vào các đối tác nhập hàng, do đó các
DN dễ bị ép tăng giá, làm cho giá thành sản phẩm tăng theo. Mặt khác, do nhập
khẩu hàng nên DN phải sử dụng ngoại tệ, vì vậy chịu ảnh hưởng trực tiếp của tỷ
giá hối đoái, có năm do tỷ giá ngoại tệ tăng, làm cho giá thành sản phẩm tăng
cao, các DN phải giảm giá trị hàng sản xuất.
NVL sản xuất hàng đông dược của các DN đa phần không đạt tiêu chuẩn chất
về viêc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao. Đa số các công ty này có các
xí nghiệp, phân xưởng sản xuất trực thuộc và có mạng lưới phân phối rộng khắp
(các chi nhánh, cửa hàng, hiệu thuốc…) thực hiện chức năng tiêu thụ sản phẩm.
Đứng đầu công ty là Hội đồng quản trị và giám đốc công ty, ở xí nghiệp, phân
xưởng là giám đốc xí nghiệp, quản đốc phân xưởng, còn ở các tổ, đội là các tổ
trưởng hoặc đội trưởng.
Trong công ty hoặc xí nghiệp có các phòng ban chức năng giúp việc cho ban
giám đốc trong việc quản lý và điều hành SXKD.
Tổ chức theo kiểu công ty độc lập hiện nay là phổ biến ở nhiều DNSXDP kể
cả DN Trung ương cũng như DN địa phương. Ví dụ: Xí nghiệp Dược Phẩm TW
I, II thuộc Bộ Y Tế; Công ty Cổ phần dược Hà Nội thuộc Sở Y Tế Hà Nội, Công
ty Cổ phần dược TRAPHACO thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải….
Mô hình tổ chức sản xuất và quản lý sản xuất kinh doanh của các DN dược
phẩm kiểu công ty độc lập có thể khái quát ở Sơ đồ 2.2.
2.1.4 Đặc điểm về nguồn vốn.
Trước khi Cổ phần hóa, hầu hết các DNSXDP là các Doanh Nghiệp Nhà nước
nhưng sau khi Cổ phần hóa, các DN này đa số đã trở thành các Công ty Cổ
Phần. Nguồn vốn SXKD của các công ty sản xuất dược phẩm được hình thành
từ 4 nguồn: vốn tự có của DN, vốn vay, vốn huy động từ các cổ đông và vốn
thuê tài chính. Việc huy động nguồn vốn nào là tùy thuộc vào DN nhưng các
DN cần lựa chọn nguồn vốn sao cho có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Do
đặc thù của ngành dược nên để thực hiện đa dạng hóa sản phẩm, đặc biệt là đa
dạng hóa sản phẩm trên cơ sở đầu tư mới, các DN cần phải huy động một lượng
vốn rất lớn. Đây là một thử thách không nhỏ đối với các DN khi tiến hành sản
xuất sản phẩm mới với dây chuyền công nghệ giá trị cao và phải nhập ngoại.
2.2 Thực trạng tổ chức công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm
trong điều kiện áp dụng kế toán máy ở các DNSXDP hiện nay.
2.2.1 Khái quát tình hình thực tế về tổ chức công tác kế toán CPSX và tính
giá thành sản phẩm ở các DNSXDP hiện nay.
Trước năm 1995, các DN nói chung, các DNSXDP nói riêng chưa quan tâm
trong SXKD.
Thứ hai: Việc xác định đối tượng kế toán CPSX và đối tượng tính giá thành
sản phẩm ở các DN là tương đối phù hợp với điều kiện thực tế về tổ chức sản
xuất và yêu cầu quản trị của DN. Trên cơ sở đó, các DN đã tổ chức hệ thống sổ
kế toán để tập hợp CPSX, tính giá thành sản phẩm phù hợp với từng đối tượng
đã xác định, phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm của DN. Hầu hết các DN
đã tổ chức xây dựng hệ thống tài khoản kế toán một cách hợp lý để phục vụ cho
công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm của DN.
Thứ ba: Trong hầu hết các DN, việc tổ chức hạch toán ban đầu và xử lý các
nghiệp vụ kinh tế nội sinh đã đáp ứng được yêu cầu quản trị DN.
Thứ tư: Về cơ bản, các phương pháp kế toán để tập hợp CPSX kinh doanh và
tính giá thành sản phẩm trong các DN đã được vận dụng là phù hợp với đặc
điểm cụ thể của DN.
Các ưu điểm đạt được trên đây thể hiện sự cố gắng, tích cực của các DN trong
việc từng bước hoàn thiện tổ chức công tác kế toán nói chung và công tác kế
toán CPSX, giá thành sản phẩm nói riêng. Tuy nhiên, trong số những DN áp
dụng phần mềm kế toán thì công tác kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản
phẩm còn nhiều bất cập. Điều này gây khó khăn nhiều đến việc cung cấp, xử lý
thông tin trong nội bộ kế toán đơn vị, cũng như khó khăn không ít trong việc tổ
chức phân công công việc trong phòng kế toán, hiệu quả công việc không cao.
Cụ thể, còn bộc lộ một số vấn đề sau:
Một là: Xác định ranh giới giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị ở các DN
là chưa rõ ràng. Điều này thể hiện qua việc tổ chức công tác kế toán ở các DN
chủ yếu là bị động, thường là dựa vào các nội dung của kế toán tài chính được
quy định trong các văn bản pháp quy của Nhà nước và cơ quan chủ quản cấp
trên. Điều đó làm cho các DN thiếu chủ động trong việc tổ chức công tác kế toán
quản trị để phục vụ cho yêu cầu quản trị DN.
Hai là: Việc phân loại CPSX ở các DN hiện nay thường là phân loại theo
khoản mục để phục vụ cho công tác tính giá thành và việc phân loại chi phí theo
các yếu tố sản xuất để phục vụ cho việc lập báo cáo CPSX theo yếu tố. Các DN
trong hệ thống các DNSXDP.
- Việc tổ chức luân chuyển chứng từ qua nhiều khâu vừa mất thời gian, vừa dễ
ách tắc và gây ra hiện tượng ghi sổ kế toán trùng lắp thông tin. Khi áp dụng kế
toán máy, phải tổ chức lại quá trình luân chuyển chứng từ nhằm mục đích khử
thông tin trùng lắp về một nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Việc khử trùng hiện nay
ở các DN còn rất khác nhau và nói chung còn lúng túng, có DN thì khử trùng
bằng phương pháp thủ công, nghĩa là dùng con người để loại bỏ các chứng từ
trùng nhau, chỉ giữ lấy một loại chứng từ để vào máy hoặc quy định với một loại
chứng từ nào đó thì chỉ do một bộ phận kế toán duy nhất nhập vào máy, còn các
bộ phận khác thì không nhập. Bên cạnh đó, có những DN đã có kỹ thuật khử
trùng tự động bằng chương trình viết vào máy, tuy nhiên còn rất hạn chế, mà chủ
yếu là ở khâu tổ chức mã hóa thông tin trước khi nhập chứng từ.
- Việc xác lập các nội dung trên chứng từ chưa phản ánh hết các yếu tố liên quan
đến các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh. Mặt khác, việc lập chứng từ còn có hiện
tượng ghi sót thông tin hoặc mã hóa thông tin trên chứng từ tùy tiện. Điều này là
tối kỵ với việc xử lý chứng từ bằng kế toán máy bởi vì bản thân máy tính chỉ
nhận dạng đối tượng qua các từ mã.
2.2.2.2 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất do Bộ Tài Chính ban hành mới chỉ đáp
ứng yêu cầu quản lý tài chính vĩ mô để kiểm tra việc ghi chép trên các tài khoản
tổng hợp. Để đáp ứng yêu cầu quản trị DN, các DN phải tự xây dựng hệ thống
tài khoản kế toán quản trị trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán tài chính để quản
lý từng loại vật tư, tài sản, từng loại chi phí, từng đối tượng tập hợp chi phí…
Qua khảo sát thực tế về việc vận dụng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất
để xây dựng hệ thống tài khoản kế toán quản trị của một số DNSXDP ta có một
số nhận xét sau:
- Đã có nhiều DN áp dụng kế toán máy nhưng mức độ áp dụng chưa đồng đều.
Chủ yếu các DN áp dụng cho công tác kế toán tài chính, còn kế toán quản trị
mới dừng ở mức độ sơ sài, điều này được thể hiện rất rõ trong việc xây dựng hệ
thống tài khoản kế toán áp dụng trong DN: Hệ thống tài khoản kế toán tài chính