MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ
XÂY DỰNG BƯU ĐIỆN
I. Thực trạng về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm công nghiệp tại công ty cp đầu tư và xây dựng bưu điện
1. Sự cần thiết của công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản
phẩm công nghiệp tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng bưu điện
Trong mỗi doanh nghiệp, việc tính và xác định các loại giá phí, giá
thành có vai trò rất quan trọng. Thông qua việc tính toán giá thành, các nhà
quản trị có thể xác định được giá trị của sản phẩm chế tạo, hay giá trị mà
Công ty cung cấp cho khách hàng. Giá thành cũng là căn cứ để lập mức giá
bán sao cho phù hợp với yêu cầu của thị trường mà vẫn đảm bảo đem lại lợi
nhuận cho nhà sản xuất.
Kế toán chi phí và tính giá thành có vai trò tiên quyết đối với chất
lượng của công tác quản trị chi phí và giá thành tại doanh nghiệp. Đối với
một đơn vị kinh doanh trong nhiều lĩnh vực như Công ty, kế toán chi phí và
tính giá thành sản phẩm công nghiệp càng có vai trò quan trọng do SPCN
mang tính đơn chiếc, khối lượng sản xuất lớn, doanh thu tiêu thụ và chi phí
sản xuất lại chiếm phần lớn trong cơ cấu doanh thu và chi phí của Công ty.
Trong khi đó, việc hạch toán chi phí và tính giá thành của SPCN tại Công ty
còn gặp phải nhiều khó khăn do chi phí sản xuất phát sinh đa dạng với quy
mô lớn, bộ máy kế toán chưa được tổ chức đầy đủ và phù hợp, công tác kế
toán còn tồn tại nhiều điểm chưa phù hợp so với chế độ...
Như vậy, làm sao để làm tốt công tác kế toán tập hợp chi phí và tính
giá thành nhất thiết phải trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản
trị doanh nghiệp.
1
SV: Đặng Thị Ngọc Quỳnh MSSV: 05A08265N
2. Đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
công nghiệp tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng bưu điện
- Hệ thống sổ sách kế toán:
+ Hình thức Chứng từ ghi sổ đang được áp dụng tại Công ty là khá phù
hợp với mật độ và số lượng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hàng ngày. Hình
thức kế toán này còn cho phép tập hợp, lưu trữ tài liệu kế toán theo từng
Chứng từ ghi sổ, giúp cho việc kiểm tra, đối chiếu dễ dàng hơn.
Việc lựa chọn đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm ống
nhựa PVC, phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cũng phù hợp với đặc
điểm riêng có của đơn vị, thuận lợi cho công tác kế toán chi phí và tính giá
thành tại Công ty.
2.2 Những mặt tồn tại trong kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm
công nghiệp
2.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý
Là một Công ty có nhu cầu lớn về thanh tra, kiểm soát hoạt động tài
chính - kế toán ở khối văn phòng và các đơn vị trực thuộc, tuy nhiên Công ty
chưa có bộ phận kiểm toán nội bộ hoặc bộ phận kiểm tra kế toán riêng.
2.2.3. Tổ chức công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm công
nghiệp
a) Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
• Tài khoản kế toán:
Toàn bộ giá trị nguyên vật liệu xuất cho nhà máy từ kho Công ty hoặc
nhập xuất thẳng đều được hạch toán vào Tài khoản 6211 - Chi phí NVL trực
tiếp cho SPCN mà không phân chia thành nguyên liệu chính và vật liệu phụ.
• Hạch toán chi phí mua NVL, CCDC:
Các chi phí thu mua vật tư do phòng Cung ứng TTTM báo về gồm: chi
phí giao dịch, chi phí vận chuyển, bốc xếp... Khi phát sinh nghiệp vụ mua
hàng, Kế toán Công ty đưa toàn bộ các khoản chi phí này vào chi phí sản xuất
chung cho SPCN. Cách hạch toán này có thể sẽ dẫn đến sai lệch tổng chi phí
NVL trực tiếp và tổng chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ, mặt khác có
3
SV: Đặng Thị Ngọc Quỳnh MSSV: 05A08265N
Hiện nay kế toán Công ty chọn kỳ tính giá thành SPCN là theo quý.
4
SV: Đặng Thị Ngọc Quỳnh MSSV: 05A08265N
Tuy nhiên kỳ tính giá thành như vậy là chưa hợp lý vì:
+ Phương pháp kế toán hàng tồn kho mà Công ty đăng ký là phương
pháp kê khai thường xuyên, nhưng do kỳ tính giá thành là hàng quý nên cuối
quý mới có sự kiểm kê vật tư tồn kho tại nhà máy. Điều này dễ dẫn đến hao hụt,
thất thoát vật tư ngoài kế hoạch, gây ra lãng phí và tăng giá thành sản phẩm.
+ Các kế toán viên thường dồn chứng từ lại cuối tháng hoặc cuối quý
mới nhập vào máy khiến cho công việc bị ứ đọng, gây chậm trễ trong thông
tin kế toán.
+ Có thể xảy ra các nghiệp vụ bán SPCN trong quý ngoài kế hoạch khi
sản phẩm đem bán chưa được tính giá thành. Điều này gây ảnh hưởng tới các
quyết định về giá vốn sản phẩm và doanh lợi được hưởng.
II. Một số ý kiến của em nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác kế
toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm công nghiệp tại công ty
Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng Bưu Điện.
1. Tổ chức bộ máy kế toán
Kế toán Công ty cần xây dựng bộ phận kế toán quản trị. Bộ phận này
có thể do phó phòng kiêm kế toán tổng hợp và nhân viên kế toán chi phí - giá
thành phụ trách, tuy nhiên những nhân viên này cũng cần nâng cao thêm kiến
thức chuyên ngành về kế toán quản trị.
Do kế toán chi phí và tính giá thành gần như là khâu “chốt” trong
chuỗi mắt xích công việc của kế toán, cho nên phòng TC - KT cần có thêm
một nhân viên chia sẻ trách nhiệm phần hành này, tức là sẽ có một nhân viên
chuyên kế toán chi phí và tính giá thành hàng xây lắp và hỗ trợ kế toán tổng
hợp quyết toán các công trình xây lắp; một nhân viên đảm nhiệm kế toán chi
phí và tính giá thành hàng công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Có như vậy
thì Công ty mới tránh được tình trạng quyết toán chậm hàng năm như hiện
nay, đồng thời cung cấp thông tin kịp thời cho kế toán quản trị nhất là khi
sản phẩm, Bảng tính và phân bổ tiền lương, sau đó được lưu trữ cũng với
Chứng từ ghi sổ hạch toán lương.
• Hạch toán lương khoán theo sản phẩm:
6
SV: Đặng Thị Ngọc Quỳnh MSSV: 05A08265N
Kế toán cần loại bỏ giá trị phế liệu ngoài định mức ra khỏi tổng giá trị
thành phẩm khi tính lương khoán cho nhà máy hàng tháng. Trong Bảng tổng
hợp sản phẩm nên chi tiết phế liệu thành phế liệu trong định mức và phế liệu
ngoài định mức. Tổng lương trả cho nhà máy chỉ nên tính trên sản lượng
thành phẩm và số lượng phế liệu trong định mức. Hạch toán như vậy sẽ làm
giảm chi phí nhân công không đáng có, hạ giá thành sản phẩm và khuyến
khích tiết kiệm vật tư.
Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm công nghiệp
• Kỳ tính giá thành sản phẩm công nghiệp:
Kế toán Công ty nên chọn kỳ tính giá thành SPCN theo tháng. Việc
tổng hợp chi phí và tính giá thành hàng tháng là hoàn toàn có thể, bởi vì:
- Chứng từ gốc - căn cứ ghi sổ chi phí sản xuất tại nhà máy được
chuyển về phòng TC - KT ngay sau khi nghiệp vụ phát sinh hoặc cuối tháng.
- Các khoản chi phí sản xuất quan trọng như chi phí NVL, chi phí
lương, khấu hao TSCĐ... đều được tập hợp, tính và phân bổ hàng tháng.
- Quá trình tính toán, kết chuyển số liệu và tập hợp chứng từ để lên các
Bảng kê chứng từ được hỗ trợ rất nhiều bởi kế toán máy. Các Chứng từ ghi sổ
hiện nay thường được lập vào cuối tháng.
Khi thực hiện việc tính giá thành sản phẩm ống nhựa PVC theo tháng, thì
các kế toán viên phần hành cũng cần phải nhập chứng từ vào máy ngay khi có
thể, không để công việc bị dồn cục, gây ảnh hưởng tới phần hành khác, nhờ vậy
công tác lập báo cáo tài chính hàng quý sẽ trở nên đơn giản hơn.
• Bảng tính giá thành sản phẩm công nghiệp:
Khi đánh giá SPDD cuối kỳ, kế toán cần phải tách riêng từng loại chi
phí nằm trong SPDD cuối kỳ. Căn cứ vào các định mức tiêu hao chi phí, kế
tiếp
2
Chi phí NC trực
tiếp
3 Chi phí SXC
Tổng cộng
Việc tính giá thành đơn vị sản phẩm theo mét ống vẫn được tiến hành
theo các công thức đang sử dụng nhưng kế toán cần phải xác định lại tổng giá
trị cần phân bổ của từng loại chi phí.
- Đối với chi phí NVL trực tiếp:
Chi phí NVLTT
cần phân bổ
=
CP NVLTT
dở dang đầu kỳ
CP NVLTT
phát sinh trong kỳ
+
-
8
SV: Đặng Thị Ngọc Quỳnh MSSV: 05A08265N
CP NVLTT
dở dang cuối kỳ
- Đối với chi phí sản xuất chung, tổng CPSXC cần phân bổ được xác
định tương tự như đối với chi phí NVL trực tiếp.
- Đối với chi phí nhân công trực tiếp, tổng CPSXC cần phân bổ sẽ được chia
cho các loại sản phẩm dựa trên mức lương khoán theo từng loại sản phẩm.
9
SV: Đặng Thị Ngọc Quỳnh MSSV: 05A08265N
KẾT LUẬN
Trị giá NL, VL không dùng
hết, trị giá phế liệu thu hồi
Chi phí NL, VL trực tiếp
vượt trên mức bình thường
Thuế GTGT
Được khấu trừ
tiếp để tính giá thành SP
TK 152 (611)
TK 632
TK 133
SV: Đặng Thị Ngọc Quỳnh MSSV: 05A08265N
TK 111,112,331…
TK 154 (631)
Phụ Lục 01: Sơ đồ kế toán hạch toán chi phí Nguyên Vật Liệu trực tiếp
TK 622 ( chi tiết…)
TK 154 ( 631)
TK 334, 338
Lương, các khoản trích theo
Lương phải trả của CNSX
Cuối kì kết chuyển CPNC
trực tiếp để tính giá thành SP
TK 335
Trích trước tiền lương nghỉ
phép của CNSX
CP nhân công trên
mức bình thường
TK 632
Phụ Lục 02: Sơ đồ kế toán hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
SV: Đặng Thị Ngọc Quỳnh MSSV: 05A08265N
chi phí đi vay phải trả
( nếu được hòa vốn)
TK 333
TK 632,157
TK 155
TK 138, 152
Cuối kỳ kết chuyển CPNVLTT
Kết chuyển giá thành thực tế
Cuối kỳ kết chuyển CPNCTT
Giá thành SP bán, gửi bán
Cuối kỳ kết chuyển CP sản
Trị giá phế liệu thu hồi, SP
hàng không sửa chữa được
không qua kho
Của sản phẩm nhập kho
để tính giá thành
để tính giá thành
xuất chung để tính giá thành
Trị giá NVL, hàng hóa gia
công xong nhập lại kho
TK 152
Phụ Lục 04: Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí theo phương pháp
Kê khai thường xuyên
TK 631” Giá thành sản xuất”
TK 154
TK 621
TK 622
TK 154
TK 611
TK 138
Chi phí NTP n-1
Chi Phí khác gđ n
+
=>
Giá thành thành phẩm
Phụ Lục 06:Sơ đồ phương pháp phân bước có tính giá thành NTP
SV: Đặng Thị Ngọc Quỳnh MSSV: 05A08265N
Gđ1
Tổng CPSX gđ1 theo các KM
=>
CPSX gđ1 trong TP
Gđ2
Gđn
Tổng CPSX gđ2
CPSX gđ2 trong TP
=>
Tổng giá thành TP
Tổng CPSX gđn
CPSX gđn trong TP
=>
Phụ Lục 07: Sơ đồ phương pháp phân bước không tính NTP
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 So sánh Năm 2007/2006
SV: Đặng Thị Ngọc Quỳnh MSSV: 05A08265N