Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2002-2003
Thẩm đònh Đầu tư Phát triển
Bài đọc
Phân tích chi phí và lợi ích
cho các quyết đònh đầu tư
Chương 6: Một phương pháp phân tích
tài chánh tổng hợp Glenn P. Jenkins & Arnold C. Harberger 1 Xinh Xinh Chương Sáu
MỘT PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÁNH TỔNG HP
I.
GIỚI THIỆU
(A) Tổng quan
Việc xác đònh không đúng về các biến số tài chính trong bảng phân tích ngân
lưu của một dự án là một trong những nguồn sai số thông thường nhất trong việc soạn
thảo nghiên cứu khả thi. Đặc biệt, điều này xảy ra trong trường hợp tỷ lệ lạm phát
dương được dự kiến sẽ tồn tại trong suốt thời hạn dự án.
Lạm phát ảnh hưởng đến kết quả của một cuộc đầu tư bằng cách thay đổi số
lượng và thời điểm của ngân lưu thông qua tác động của lạm phát lên các yêu cầu và
các điều kiện tài trợ, nhu cầu vốn lưu động, thuế và tỷ giá hối đoái. Lạm phát cũng là
một yếu tố bổ sung vào tính không chắc chắn, làm ảnh hưởng đến kết quả của dự án.
Kết quả là, những số thu lợi tài chính thực (sau khi trừ thuế) trong suốt thời hạn dự án
có thể được thể hiện sai một cách nghiêm trọng, đơn giản là do hậu quả của việc sử
mạnh mẽ hơn. Bước đầu tiên trong qui trình này là phân biệt giữa các đònh nghóa khác
nhau của các loại giá được sử dụng trong qui trình được thẩm đònh như: các giá danh
nghóa, mặt bằng giá chung, và các giá tương đối, giá thực, giá cố đònh và đã điều chỉnh
lạm phát. Đó là những khái niệm về giá cơ bản được sử dụng để đo lường thành quả
thực hiện về tài chính và kinh tế của dự án. Thứ hai, chúng tôi sẽ xem xét bảng thành
tố tài chính khác nhau của một dự án bò ảnh hưởng bởi lạm phát như thế nào: 1) tài trợ
đầu tư, 2) cân đối tiền mặt, 3) các khoản phải trả và phải thu, 4) chi phí tiền lãi danh
nghóa, 5) các khoản giảm trừ tiền lãi, 6) chi phí khấu hao, và 7) kế toán hàng tồn kho.
Chúng tôi cũng sẽ xem xét các yêu cầu về ngoại hối chòu ảnh hưởng gián tiếp của lạm
phát như thế nào. Nếu không được tính toán thích đáng trong khi thẩm đònh, các ảnh
hưởng tài chính này có thể có tác động hết sức quan trọng lên tính lưu chuyển và/hoặc
khả năng trả nợ của dự án. Cuối cùng, dựa trên phân tích này, chúng tôi sẽ mô tả một
phương pháp kết hợp lạm phát vào sự đánh giá dự án theo một cách thức nhất quán để
đảm bảo rằng tác động của lạm phát được hiểu đúng.
II. TÍNH TOÁN ĐẾN NHỮNG THAY ĐỔI GIÁ CẢ
(A) Giới thiệu
Để xây dựng biên dạng ngân lưu của dự án, cần phải dự báo tất cả các giá đầu
vào và đầu ra cho suốt thời hạn của dự án. Các giá này chòu ảnh hưởng của các lực
cung và cầu, các lực này tác dụng lên các giá tương đối, và của các điều kiện kinh tế vó
mô, các điều kiện này xác đònh mặt bằng giá chung. Trong việc xây dựng các dự báo
giá này, chúng ta cần hiểu rõ các khái niệm khác nhau của các giá thường được sử
dụng.
(B) Giá danh nghóa
Các giá danh nghóa của hàng hóa và dòch vụ là các giá mà chúng ta thấy trên
thò trường mỗi ngày. Đôi khi chúng được gọi là các giá đương thời. Dữ liệu lòch sử về
các giá danh nghóa thường dễ có, nhưng dự báo các giá danh nghóa theo một cách nhất
n
(6-1)
P
t
L
= ∑
(P
t
i
W
i
)
i =1
Trong đó :
i = hàng hóa hay dòch vụ riêng lẻ ở trong nhóm hàng hóa và dòch vụ thò trường.
P
t
i
= giá của hàng hóa hay dòch vụ tại một thời điểm.
W
i
= tỷ trọng ấn đònh do giá của một hàng hóa hay dòch vụ nào đó (i);
ở đây ∑ W
i
=1.
Các tỷ trọng sử dụng để tính toán mặt bằng giá được đònh nghóa vào một ngày
nhất đònh. Ngày này được gọi là thời kỳ gốc cho việc tính toán mặt bằng giá. Các tỷ
P
B
L
Trong đó :
P
t
L
= mặt bằng giá trong thời gian (t).
P
B
L
= mặt bằng giá cho thời kỳ gốc (B).
Ví dụ, chỉ số giá hàng tiêu dùng là một số trung bình có tính tỷ trọng của các
giá của một nhóm hàng tiêu dùng chọn lựa trên thò trường. Chỉ số giá đầu tư được tạo
ra như một tập hợp có tính tỷ trọng của hàng hóa và dòch vụ có tính chất đâàu tư. Sự
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2002-2003
Thẩm đònh Đầu tư Phát triển
Bài đọc
Phân tích chi phí và lợi ích
cho các quyết đònh đầu tư
Chương 6: Một phương pháp phân tích
tài chánh tổng hợp
x
va
ø
P
t
y
là các giá của các mặt hàng khác nhau tại một thời điểm.
Các giá tương đối cung cấp các dấu hiệu hết sức quan trọng cho các nhà sản
xuất và người tiêu thụ làm cho họ có thể lấy các quyết đònh hiệu quả trong sản xuất và
tiêu thụ. Nếu giá của cá tăng lên so với giá của thòt gà, thì chúng ta thường thấy các hộ
gia đình mua nhiều thòt gà hơn. Nếu một nhà sản xuất hai loại áo quần nhận thấy rằng
một loại áo quần đang tăng giá so với loại kia, thì bà ta sẽ có khuynh hướng muốn sản
xuất loại quần áo mà giá đang tăng so với giá của loại kia. Vậy thì, các giá tương đối
gởi các tín hiệu đến nhà sản xuất và người tiêu thụ, họ dùng thông tin này để tối đa hóa
sự thỏa mãn của họ với tư cách là những người tiêu thụ, hoặc tối đa hóa lợi nhuận của
họ trong trường hợp họ là nhà sản xuất.
Hiểu biết kinh tế của chúng ta về thò trường hàng hóa hay dòch vụ sẽ cho phép
chúng ta dự đoán giá tương đối của một hàng hóa nào đó sẽ thay đổi như thế nào qua
thời gian. Ví dụ, giá tương đối của máy tính so với hầu hết hàng hóa và dòch vụ khác
trong nền kinh tế đã giảm liên tục kể từ lúc máy tính được phát minh. Trường hợp
khác là, nếu có thặng dư nhiều một mặt hàng nào đó mà chúng ta nghó là sẽ không tiếp
tục sản xuất trong tương lai, thì chúng ta sẽ dự kiến rằng giá tương đối của mặt hàng đó
sẽ tăng theo thời gian. Trong việc chuẩn bò một dự báo giá, chúng ta cần sử dụng các
thông tin có sẵn về cách mà các lực cung và cầu được dự kiến sẽ thay đổi các giá tương
đối của một mặt hàng theo thời gian.
(E) Giá thực
Glenn P. Jenkins & Arnold C. Harberger 5 Xinh Xinh Trong đó
P
t
i
=
giá danh
nghóa của hàng hóa và dòch vụ tại một thời điểm
P
t
I
= chỉ số mặt bằng giá tại thời điểm cho bởi phương trình (6-2)
Việc chia cho chỉ số mặt bằng giá sẽ tách thành phần lạm phát ra (thay đổi
trong mặt bằng giá chung) khỏi giá danh nghóa. Điều này cho phép chúng ta xác đònh
tác động của các lực cung và cầu trên giá của một mặt hàng so với các hàng hóa và
các dòch vụ khác trong nền kinh tế. Để chứng minh
cho qui trình này, chúng tôi cho
thấy trong Bảng 6-1 giá danh nghóa của xăng trước thuế cho những năm 1986-93 trong
cột một. Cột hai là chỉ số giá hàng tiêu thụ ở Hoa kỳ trong những năm đó, và cột 3 là
giá thực của xăng. Cột ba cho chúng ta thấy rằng vào năm 1993, giá xăng đã giảm
một ít so với tất cả các hàng hóa tiêu dùng khác gộp lại, như thế, chúng ta sẽ dự tính
rằng mọi người sẽ có động cơ khuyến khích sử dụng nhiều xăng hơn so với các hàng
hóa và dòch vụ khác họ mua.
Phân tích chi phí và lợi ích
cho các quyết đònh đầu tư
Chương 6: Một phương pháp phân tích
tài chánh tổng hợp Glenn P. Jenkins & Arnold C. Harberger 6 Xinh Xinh ra khỏi sự phân tích một phần lớn các thông tin kinh tế và tài chính có thể gây ảnh
hưởng đến thành quả thực hiện của dự án.
(G) Thay đổi giá
Hai hình thức thay đổi giá phải được tính đến trong khi thẩm đònh dư án đầu tư
là các thay đổi về giá tương đối và các giá thay đổi về mặt bằng giá, hay lạm phát.
Nhiều tài liệu đã phát hành về thẩm đònh dự án thường khuyến nghò việc loại bỏ lạm
phát khỏi qui trình thẩm đònh. Tốt lắm thì những phương pháp này cũng chỉ tính đến
những thay đổi dự phóng về các giá tương đối của các đầu vào và các đầu ra trong suốt
thời hạn của dự án đầu tư. Tuy nhiên, kinh nghiệm của các dự án gặp các vấn đề khó
khăn về tình trạng thanh hoạt tài chính và khả năng trả nợ đã chứng minh rằng lạm
phát cũng có thể là một yếu tố hết sức quan trọng trong việc thực hiện thành công các
dự án. Thiết kế đúng một dự án để điều chỉnh theo cả thay đổi trong các giá tương đối
lẫn thay đổi trong tỷ lệ lạm phát có thể có tính quyết đònh đối với sự tồn tại chung cuộc
của dự án.
Các yếu tố xác đònh các thay đổi trong tương lai về mặt bằng giá chung hoàn
toàn khác với các yếu tố xác đònh thay đổi về cầu và/hoặc cung trên thò trường của các
mặt hàng đó. Mặt khác, những gia tăng trong mặt bằng giá chung thường được xác
đònh bởi gia tăng của cung tiền tệ của quốc gia so với gia tăng sản lượng hàng hóa và
dòch vụ của quốc gia đó. Qui trình này thường vượt quá trách nhiệm của nhà phân tích
t-n
x
)/(
P
t-n
y
))
Trong đó n = số khoản thời gian giữa thời kỳ gốc và thời gian được đánh giá
.
P
t
x
,
P
t
y
= Các giá của hàng hóa (x và y) vào một thời hạn cụ thể (t).
Các thay đổi trong các giá tương đối thường được đo bằng các thay đổi trong
các giá thực của hàng hóa và dòch vụ. Thay đổi này trong giá thực của một mặt hàng
hay dòch vụ có thể biểu diễn như sau:
(6-6) Thay đổi trong
P
t
iR
=
Phân tích chi phí và lợi ích
cho các quyết đònh đầu tư
Chương 6: Một phương pháp phân tích
tài chánh tổng hợp Glenn P. Jenkins & Arnold C. Harberger 7 Xinh Xinh
Trong đó n = số cáckhoảng thời gian giữa thời kỳ gốc và thời kỳ được đánh giá P
t
i
= giá danh nghóa của hàng (i) vào thời gian cụ thểP
t
L
= mặt bằng giá vào một thời gian cụ thể.
Khi thực hiện việc thẩm đònh, giá thực của hàng hóa có thể cao hay thấp khác
thường so với mức giá thực có khả năng xảy ra trong các tình huống bình thường. Đối
với những mặt hàng mà sự thay đổi công nghệ nhanh chóng xảy ra, như máy tính, thì
chúng ta sẽ dự kiến rằng giá thực của các mặt hàng đó sẽ giảm. Đối với những hàng
hóa như đồng, mà một trong những cách sử dụng chính của nó đã bò giảm đột ngột do
việc đưa vào sử dụng sợi quang và sự truyền sóng cực ngắn, chúng ta dự kiến rằng giá
L
)
*100
Hay nếu chúng ta đo lạm phát theo chỉ số giá cả:
(6-8) g
P
e
=
((P
t
I
-
P
t-n
I
)/
P
t-n
I
)
*100Lạm phát khó dự báo hơn rất nhiều so với thay đổi trong giá tương đối, bởi vì
lạm phát chủ yếu được xác đònh bởi mức cung tiền tệ trong nền kinh tế so với khả năng
sẵn có của hàng hóa và dòch vụ để mua. Kế đến, cung tiền tệ thường được xác đònh
t
R
, P
t +1
R
, .... P
t+n
R
) kế đó được điều
chỉnh bởi những thay đổi giả thiết của mặt bằng giá chung qua các thời kỳ trong tương
lai. Nói cách khác, chúng ta đang tạo ra một tập hợp giá danh nghóa được xây dựng từ
các thành phần căn bản của giá thực và mặt bằng giá của chúng. Các giá trò được điều
chỉnh lạm phát này được tạo ra theo một kiểu nhất quán. Một sai lầm quen thuộc của
các nhà thẩm đònh dự án là giả thiết rằng nhiều giá của các nhập lượng và xuất lượng
(đầu vào và đầu ra) của dự án tăng lên so với tỷ lệ lạm phát. Điều này rất khó có khả
năng xảy ra. Bản thân mặt bằng giá là một trung bình có tính tỷ trọng của các giá
hàng hóa và dòch vụ riêng lẽ. Như thế, trong việc dự báo giá thực của hàng hóa và
dòch vụ, chúng ta sẽ dự kiến rằng nhiều giá thực giảm xuống cũng gần bằng với số giá
thực gia tăng.
Để dự báo sự biến động giá thực của hàng hóa hay dòch vụ, chúng ta cần xem
xét các mặt hàng (hay dòch vụ) đó theo sự thay đổi được dự đoán trong mức cầu đối với
mặt hàng theo thời gian, các nguồn cung cấp sẵn có, và các lực sẽ tác động lên chi phí
sản xuất của nó. Phân tích này rất khác với sự phân tích đối với dự báo mặt bằng giá
chung. Dự báo này không mang nhiều tính chất một sự tiên đoán, mà là một tập hợp
các giả thiết nhất quán. Trong việc thẩm đònh dự án, chúng ta cần sử dụng nhiều tập
hợïp các trò giá được điều chỉnh lạm phát sử dụng các giả thiết khác nhau liên quan đến
các tỷ lệ lạm phát trong tương lai. Chính các trò giá được điều chỉnh lạm phát được
chúng ta sử dụng trong việc ước tính các ngân lưu danh nghóa của một dự án.
III. CÁC TÁC DỤNG CỦA LẠM PHÁT
biệt giữa hai loại gia tăng chi phí. Trước hết, có những khoản chi phí vượt quá gây
nên bởi các ước tính sai số lượng vật liệu cần thiết hay các thay đổi trong giá thực của
các vật liệu đó. Thứ hai, có sự leo thang chi phí có thể quy cho lạm phát mặt bằng giá
chung. Sự “leo thang” chi phí do lạm phát giá cả thuần túy phải được dự tính và đưa
vào việc thẩm đònh dự án. Nếu dự án đòi hỏi một khoản vay hay khoản tài trợ bằng
vốn tự có cho các kinh phí trong tươnglai, thì phải nhận ra rằng số lượng tài trợ cần
thiết sẽ chòu ảnh hưởng của tổng số lạm phát giá cả xảy ra trong suốt thời gian xây
dựng. Những gia tăng chi phí có thể quy cho lạm phát không phải là các khoản vượt
trội của các chi phí thực, vì thế cho nên phần vay mượn bổ sung đơn thuần phản ánh
mặt bằng giá tăng lên phải được dự trù. Tuy thế, nếu điều kiện này không được dự
kiến thích đáng vào giai đoạn thẩm đònh, dự án có thể trải qua khủng hoảng về tính
thanh hoạt hay mất khả năng thanh toán nợ do tài trợ không đầy đủ.
Bắt đầu từ Bảng 6-2 và tiếp tục cho phần còn lại của chương này, chúng ta sẽ
sử dụng ví dụ của dự án XYZ để chứng minh các ảnh hưởng của lạm phát đối với các
thành phần tài chính khác nhau. Tất cả trò giá được tính bằng đơn vò ngàn đô la Mỹ.
Dự án sẽ được xây dựng trong suốt hai thời kỳ đầu, hoạt động trong bốn thời kỳ, và rồi
sẽ được thanh lý trong thời kỳ cuối cùng. Tổng chi phí xây dựng sẽ được chuyển vốn
(tư bản hóa) vào cuối thời kỳ thứ hai để xác đònh tổng số phải khấu hao. Các khoản
vay được vay để tài trợ cho 50% đầu tư vào tài sản cố đònh. Tài trợ vốn vay sẽ chòu lãi
suất danh nghóa là 5 phần trăm cho mỗi thời kỳ nếu không có lạm phát, và tiền lãi sẽ
bắt đầu tích lũy trong suốt thời kỳ xây dựng. Tiền vốn của khoản vay sẽ được hoàn trả
vào cuối năm hoạt động cuối cùng của dự án, thời kỳ 5. Phần còn lại của yêu cầu tài
trợ được trang trải bằng vốn cổ phần của các chủ sở hữu.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2002-2003
Thẩm đònh Đầu tư Phát triển
Bài đọc
Phân tích chi phí và lợi ích
cho các quyết đònh đầu tư
Chương 6: Một phương pháp phân tích
5. Ảnh hưởng trên yêu cầu tài trợ [4-2] 0 125 0 0 0 0 0 Sự hiện diện của lạm phát làm gia tăng tổng số tiền tài trợ đầu tư danh nghóa
cần có lên thêm 125, cho dù không có gia tăng nào trong nhu cầu và chi phí vật liệu.
Với tỷ lệ lạm phát là 25 phần trăm, tổng chi phí danh nghóa của dự án tăng từ 1.000 lên
1.125, hay 12,5%. Chi phí đầu tư gia tăng có ba ảnh hưởng. Thứ nhất, nó gia tăng
tổng số tiền vốn danh nghóa của khoản vay (50% của chi phí đầu tư danh nghóa) phải
được hoàn trả bởi dự án. Cuối cùng, nó dẫn đến chi phí khấu hao danh nghóa lớn hơn,
chi phí này sẽ được khấu trừ từ thuế trong tương lai. Các ảnh hưởng này có cả các tác
động bất lợi lẫn thuận lợi lên ngân lưu, điều này sẽ được thảo luận trong các phần sau
của chương này.
(i) Tồn quỹ tiền mặt mong muốn
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2002-2003
Thẩm đònh Đầu tư Phát triển
Bài đọc
Phân tích chi phí và lợi ích
cho các quyết đònh đầu tư
Chương 6: Một phương pháp phân tích
tài chánh tổng hợp Glenn P. Jenkins & Arnold C. Harberger 11 Xinh Xinh Các khoản tồn quỹ tiền mặt được giữ bởi dự án để tạo dễ dàng co các giao dòch.
Một doanh nghiệp kinh doanh sẽ cần giữ một số lượng tiền mặt tại quỹ cân xứng với trò
5. nh hưởng trên ngân lưu thực [4/1] 0 0 (200) 0 0 0 200
6. Hiện giá của chi phí nắm giữ tiền mặt @ 7% = (41) Tuy nhiên, nếu tỷ lệ lạm phát tăng lên đến 25% mỗi thời kỳ, các khoản tồn quỹ
tiền mặt phải được tăng để theo kòp với trò giá danh nghóa gia tăng của doanh số bán.
Chúng tôi giả thiết, cho mục đích của ví dụ này, rằng số đơn vò bán vẫn giữ không đổi
nhưng trò giá danh nghóa của chúng tăng lên 25% mỗi năm do lạm phát. Kết quả là, số
dự trữ mong muốn của tồn quỹ tiền mặt sẽ tăng lên, đòi hỏi một khoản đầu tư tiền mặt
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2002-2003
Thẩm đònh Đầu tư Phát triển
Bài đọc
Phân tích chi phí và lợi ích
cho các quyết đònh đầu tư
Chương 6: Một phương pháp phân tích
tài chánh tổng hợp Glenn P. Jenkins & Arnold C. Harberger 12 Xinh Xinh bổ sung vào dự án trong mỗi thời kỳ, nếu muốn duy trì mức hoạt động mong muốn.
(Xem Bảng 6-4, dòng 4). Sau khi điều chỉnh lạm phát cho các chi phí này và chiết
khấu chúng, chúng ta nhận thấy rằng hiện giá của chi phí tiền mặt cần để hoạt động
kinh doanh đã tăng lên đáng kể.
Bảng 6-4
Tồn quỹ tiền mặt với lạm phát 25%
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2002-2003
Thẩm đònh Đầu tư Phát triển
Bài đọc
Phân tích chi phí và lợi ích
cho các quyết đònh đầu tư
Chương 6: Một phương pháp phân tích
tài chánh tổng hợp Glenn P. Jenkins & Arnold C. Harberger 13 Xinh Xinh Bảng 6-5 chứng minh sự tương tác giữa lạm phát và các khoản phải thu, và ảnh
hưởng của sự tương tác này đối với các khoản thu tiền mặt. Khi tỷ lệ lạm phát tăng, trò
giá doanh số bán tăng do giá của hàng hóa cao hơn, ngay cả khi số đơn vò được bán
không đổi. Điều này thường dẫn đến gia tăng số lượng các khoản phải thu. Trong
trường hợp này, giả thiết rằng khoản phải thu bằng 20% doanh số bán.
Bất kể sự thật là trò giá danh nghóa của doanh số bán tăng mỗi thời kỳ khi có
lạm phát 25 phần trăm, Bảng 6-5 chứng tỏ rằng hiện giá của các khoản thu thật cho dự
án này giảm 233 do tỷ lệ lạm phát cao hơn. Điều đó là vì lạm phát làm cho trò giá thực
của tín dụng thương mại còn chưa trả giảm xuống. Khi tình trạng này xảy ra, các
doanh nghiệp bán hàng hóa và dòch vụ (trong trường hợp này là dự án) sẽ cố gắng
giảm độ dài của các thời hạn họ cho tín dụng thương mại, trong khi các doanh nghiệp
mua hàng sẽ có thêm động cơ trì hoãn thanh toán. Nếu các bên bán không thành công
trong việc giảm thời hạn họ cho tín dụng thương mại, họ sẽ phải tăng giá của hàng hóa
họ bán lên cao hơn mức có thể cho là hợp lý theo tỷ lệ lạm phát. Vì thế cho nên, điều
quan trọng là phải bao gồm trong việc đánh giá dự án sự tương tác của lạm phát và các
khoản phải thu để xác đònh số thu thực của doanh nghiệp bò ảnh hưởng như thế nào
cho các quyết đònh đầu tư
Chương 6: Một phương pháp phân tích
tài chánh tổng hợp Glenn P. Jenkins & Arnold C. Harberger 14 Xinh Xinh
(iv) Các khoản phải trả
Các khoản phải trả là số tiền mà doanh nghiệp nợ các doanh nghiệp khác về
các hàng hóa và dòch vụ đã mua và giao hàng rồi. Khi có lạm phát, bên mua với các
khoản phải trả được hưởng lợi từ số dư chưa trả bởi vì trò giá thực của khoản nợ giảm
xuống trong suốt thời gian trước khi trả. Điều này đơn thuần là mặt ngược lại của ảnh
hưởng của lạm phát trên các khoản phải thu bởi vì khoản phải thu của doanh nghiệp
này là khoản phải trả của doanh nghiệp khác.
Bảng 6-6 cho thấy lạm phát ảnh hưởng như thế nào đến tình hình tài chính của
một số dự án khi các khoản phải trả bằng 25% số tiền mua hàng hằng năm. Một lần
nữa, chúng ra thấy rằng lạm phát gia tăng trò giá danh nghóa của tiền mua hàng, dẫn
đến các khoản phải trả cũng lớn hơn.
Tỷ lệ lạm phát gia tăng làm cho hiện giá của khoản chi thực giảm thuần 155.
Như dòng 6 cho thấy, lạm phát làm tăng trò giá danh nghóa của tiền mua hàng, và tạo
nên khoản gia tăng tương ứng trong các khoản phải trả danh nghóa trong dòng 7. Khi
chuyển đổi sang khoản chi thực, bên mua (trong trường hợp này là dự án) hưởng lợi
nhờ ảnh hưởng của lạm phát lên các khoản phải trả và sẽ có mức chi toàn bộ thấp hơn,
như Bảng 6-6, dòng 11 cho thấy. Điều này tạo động cơ khuyến khích bên mua kéo dài
thời hạn của các khoản phải trả để hưởng lợi từ trò giá thực giảm của chúng. Như thế,
khi có lạm phát, các hoản phải trả càng lâu đến hạn trả, thì bên mua càng được hưởng
lợi nhiều hơn.