Để dạy học văn nghị luận đạt hiệu quả - Pdf 76

Phòng GD-đt Quỳnh Lu
Trờng THCS Quỳnh long
Sáng kiến kinh nghiệm
Tên đề tài
Để dạy học văn nghị luận
có hiệu quả
Họ và tên: Hồ Đức Bang
Trình độ CM: ĐHSP Văn
Năm vào ngành: 2001
Năm học: 2007-2008
Quỳnh Long, tháng 04 năm 2008
Để dạy học văn nghị luận có hiệu quả
Chơng I: Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
Năm học 2006-2007 vừa qua, với đề tài Dùng hệ thống câu hỏi giúp học sinh lớp 9
làm tốt bài văn nghị luận, chúng tôi đã đợc Phòng GD-ĐT Quỳnh Lu công nhận là đề tài
cấp huyện, đạt bậc 3. Năm nay, trên cơ sở phát huy, áp dụng đề tài vào trong quá trình dạy
học, chúng tôi mạnh dạn phát triển, nâng cao, mở rộng đề tài này và áp dụng vào thực tiễn
giảng dạy trong chơng trình Ngữ văn THCS.
Với đề tài này, chúng tôi đã cụ thể hóa từ lý thuyết đến thực hành viết làm văn nghị
luận. Chú trọng hơn trong việc sử dụng bài văn mẫu trong dạy học làm văn nghị luận
nhằm mục đích Để dạy học văn nghị luận có hiệu quả.
Chúng ta đã biết yêu cầu về mục tiêu chiến lợc đào tạo con ngời hiện nay là rất cao.
Việc đào tạo những ngời lao động có phẩm chất và năng lực mới nhằm đáp ứng nhu cầu
của cả xã hội và của cả chính bản thân ngời lao động trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc là vô cùng quan trọng. Để đạt đợc mục đích đó thì tất cả các môn đợc
giảng dạy trong nhà trờng đều chú ý phát triển t duy, năng lực sáng tạo cho ngời học.
Cùng với các bộ môn trong nhà trờngTHCS, môn Ngữ văn cùng hớng tới nhiệm vụ ấy.
Và tất yếu là môn Ngữ văn có đóng góp theo đặc trơng riêng với các phân môn của mình.
Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là trong việc giảng dạy cũng nh trong học tập của thầy
và trò ở các trờng THCS đều cha thấy hết đợc một cách chính xác nhất về tầm quan trọng

việc rèn luyện kỹ năng làm văn, tạo lập văn bản của các em và nó cũng sẽ tạo điều kiện để
các em sau này có thể trở thành nhà nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học văn học.
Nếu học sinh viết bài văn miêu tả, biểu cảm sao cho hay đã rất khó thì làm bài tập làm
văn về văn nghị luận lại càng bỡ ngỡ, mới mẻ và khó khăn hơn rất nhiều. Bởi lẽ các em
mới làm quen với thể loại này. Mặt khác, những vấn đề yêu cầu cần có để viết tốt bài văn
nghị luận với học sinh THCS là vô cùng hạn chế (phơng pháp, cách thức, làm bài, vốn
sống thực tế nghèo nàn, muốn hiểu biết về văn hoá, phong tục tập quán trong xã hội, vốn
lập luận non nớt, các em ít quan tâm đến tính chặt chẽ lôgic trong bài làm văn nghị luận).
Thêm nữa việc giảng dạy làm văn, nhất là phơng pháp làm văn nghị luận đối với giáo viên
cũng khó hơn so với các bài làm văn khác. Nhiều băn khoăn trăn trở đặt ra: Giáo viên cần
dạy nh thế nào để học sinh làm đợc bài văn nghị luận tốt? Học sinh học đợc cách viết bài
tập làm văn nghị luận đúng và hay. Bao nhiêu câu hỏi đặt ra với thầy trò xung quanh ph-
ơng pháp làm văn nghị luận.
Từ những yêu cầu về phơng pháp giảng dạy và học văn nghị luận sao cho đạt kết quả
tốt nhất cho nên việc giảng dạy và học tập phơng pháp làm văn nghị luận... là vấn đề quan
trọng đối với giáo viên và học sinh THCS.
Đó là lý do khiến chúng tôi chọn đề tài này.
II . Lịch sử vấn đề.
Đã có nhiều công trình, nhiều sách tham khảo nghiên cứu vấn đề này. Tuy nhiên mỗi
công trình dới những góc độ khác nhau nghiên cứu vấn đề lại khác nhau. Với đề tài: Để dạy
học văn nghị luận có hiệu quả, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu phần văn nghị luận. Trên
phơng diện lí thuyết, vấn đề này đã có nhiều công trình nghiên cứu. Sau đây là một số công
trình tiêu biểu:
1. TS. Đỗ Ngọc Thống "Vẻ đẹp của văn nghị luận" Văn học và Tuổi trẻ, số 5
(107)/2005.
2. Tài liệu BDTX cho Giáo viên THCS chu kì III (2004-2007), môn Ngữ văn, quyển 1, 2
3. GS.TS. Lê Quang Hng "Vận dụng phơng pháp so sánh trong làm văn nghị luận"
Văn học và Tuổi trẻ, VH&TT, số 3 (135)/2007.
4. TS. Đỗ Ngọc Thống - "Vai trò của lập luận trong bài văn nghị luận" - Văn học và
Tuổi trẻ, số 1 (103)/2005.

nghiệp, thi chất lợng thi định kỳ, các bài nghiên cứu phê bình văn học, bình giảng văn
học trên sách báo sau đó tôi giới thiệu vận dụng cho học sinh một cách phù hợp với
từng tiết học cụ thể ở từng chơng trình phù hợp. Trên cơ sở đó tôi hớng dẫn các em khi
mình cần lĩnh hội kiến thức của một bài tập làm văn mẫu đó là: cách bố cục, cách dùng
từ, đặt câu, liên kết ý, liên kết đoạn và đặc biệt là cách sử dụng ngôn ngữ ở từng thể
loại cụ thể.
Ví dụ: ở văn nghị luận lời văn phải rõ ràng, chặt chẽ và có sức thuyết phục.
Qua đó tôi rèn luyện cho học sinh phơng pháp, kỹ năng làm bài văn nghị luận để
các em từ chỗ viết đúng đi đến viết hay.
IV. Giới hạn của đề tài
Bài viết của chúng tôi chỉ nghiên cứu: Để dạy học tập làm văn nghị luận có hiệu
quả qua thể loại văn nghị luận.
ở thể loại nghị luận, tôi tập trung vào việc sử dụng một số bài văn mẫu trong việc
dạy tập làm văn ở trờng THCS: Nhân dân ta thuờng nói: Có chí thì nên . Hãy chứng
minh tính đúng đắn của câu tục ngữ đó.
Trên đây là nội dung mà đề tài nghiên cứu của chúng tôi thực hiện .
V. Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng phơng pháp chủ yếu sau:
Hồ Đức Bang GV THCS Quỳnh Long Quỳnh Lu Nghệ An
4
Để dạy học văn nghị luận có hiệu quả
1. Đọc các tài liệu, tham khảo ý kiến của các thầy cô giáo bộ môn.
2. Thống kê những đoạn văn, bài văn hay, các cách mở bài, kết bài hay.
3. Dùng phiếu thăm dò tình hình bạn đọc sách đọc văn nghị luận.
4. Dùng phơng pháp khảo sát: Kiểm tra học sinh về việc tiếp nhận phơng pháp làm
văn nghị luận.
5. Dùng phơng pháp phân tích, so sánh,đối chiếu các đoạn văn và học sinh rút ra
những phơng pháp làm văn nghị luận để viết đợc những bài văn hay, có sức thuyết
phục đối với ngời đọc.
6. Dùng phơng pháp phân loại văn nghị luận để viết đợc bài văn đúng, hay, có sức

16 Luyện nói: Bài văn giải thích một vấn đề 01 112 II
Lớp 8
1 Ôn tập về luận điểm 01 99 II
2 Viết đoạn văn trình bày luận điểm 01 100 II
3 Luyện tập xây dựng và trình bày luận điểm 01 102 II
Hồ Đức Bang GV THCS Quỳnh Long Quỳnh Lu Nghệ An
5
Để dạy học văn nghị luận có hiệu quả
4 Tìm hiểu yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận 01 108 II
5 Luyện tập đa yếu tố biểu cảm vào văn nghị luận 01 112 II
6
Tìm hiểu các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị
luận
01 116 II
7
Luyện tập đa các yếu tố tự sự và miêu tả trong bài
văn nghị luận
01 120 II
8
Viết bài Tập làm văn số 7
02
123-
124
II
Lớp 9
1 Phép phân tích và tổng hợp 01 94 II
2 Luyện tập phép phân tích và tổng hợp 01 95 II
3 Nghị luận về một sự việc, hiện tợng trong đời sống 01 99 II
4
Cách làm bài văn nghị luận về một sự việc, hiện t-

02
134-
135
II
15 Luyện nói: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ 01 140 II
Nh vậy, văn nghị luận trong chơng trình THCS rất nặng đối với học sinh,(đặc biệt là
học sinh lớp 7 khi bắt đầu tiếp xúc với dạng bài làm văn này) cả về đơn vị kiến thức cả về
dung lơng thời gian. Nắm đợc hệ thống chơng trình phần văn nghị luận, giáo viên sẽ có kế
hoạch, mục tiêu, phơng pháp dạy học thích hợp thì mới đem lại hiệu quả cao trong dạy -
học.
II. Khái quát về văn nghị luận
1. Khái niệm văn nghị luận
Văn nghị luận là loại văn viết ra để phát biểu ý kiến, bày tỏ nhận thức, đánh giá
thái độ đối với cuộc sống bằng những luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng. Nếu tác phẩm văn học
nghệ thuật phát biểu ý kiến, bày tỏ thái độ đối với cuộc sống bằng những hình tợng nghệ
thuật cụ thể, gợi cảm, thì văn nghị luận diễn đạt bằng những mệnh đề, phán đoán những
khái niệm có lôgíc thuyết phục. Ví dụ, Ca dao có bài :
Công cha nh núi Thái Sơn
Hồ Đức Bang GV THCS Quỳnh Long Quỳnh Lu Nghệ An
6
Để dạy học văn nghị luận có hiệu quả
Nghĩa mẹ nh nớc trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Bài ca dao đa ra những hình ảnh: núi Thái Sơn, nớc trong nguồn chảy ra để nói về
công cha, nghĩa mẹ, nhng không hề nêu luận điểm nào, khái niệm nào. ý kiến, t tởng của
bài thơ tiềm ẩn trong tác phẩm. Nếu phải viết một bài nghị luận về công ơn của cha mẹ và
trách nhiệm, nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ, thì phải có luận điểm. Chẳng hạn, ta có
luận điểm về bài ca dao đó nh sau:
Bài ca dao có ý nghĩa sâu sắc. Bằng cách so sánh công cha với dãy núi Thái Sơn

7
Để dạy học văn nghị luận có hiệu quả
Văn nghị luận có thể đợc xem là phơng tiện giúp con ngời nhận thức thế giới, nhận
thức bằng t duy lí tính, bằng trừu tợng hóa, khái quát hóa. Nhận thức con ngời ngày càng
phát triển phong phú thì văn nghị luận cũng phát triển phong phú và đa dạng.
Chúng ta thấy văn nghị luận trong những văn bản triết học xa xa nh Luận ngữ,
Mạnh Tử (Trung Quốc), trong những luận văn triết học của Hêraclít. Aixitốt (Hi Lạp),
chúng ta còn thấy văn nghị luận dới dạng những tác phẩm Văn học nh Hịch tớng sĩ, Cáo
bình Ngô... Và chúng ta còn thấy văn nghị luận trong xã luận, bình luận trên bào chí,
trong các công trình nghiên cứu, phê bình văn học.
Nh vậy, trong khả năng tồn tại của nó, văn nghị luận vừa có thể xem là một loại
văn, vừa có thể xem là một thể văn.
Với t cách là một loại văn, văn nghị luận thờng đợc phân biệt với sang tác nghệ
thuật.
Văn nghệ thuật nh thơ, truyện... dùng t duy hình tợng, lấy hình tợng nghệ thuật làm
phơng thức phản ánh và biểu hiện. Còn văn nghị luận thì dùng t duy lôgíc, lấy hệ thống lí
luận và dẫn chứng để thuyết minh, lí giải các vấn đề. Cũng cần nói thêm văn sáng tác nghệ
thuật không gạt bỏ tính lôgíc nhng lôgíc ở đây giúp cho hình tợng liên kết với nhau theo
kết cấu chặt chẽ phản ánh sự thống nhất giữa lôgíc và cuộc sống ngoài xã hội. Còn văn
nghị luận cũng không gạt bỏ ngôn ngữ hình tợng gợi cảm. Văn học nớc ta cũng nh văn học
thế giới đã để lại nhiều bài văn vốn là nghị luận thuần thúy nhng lại đợc mọi ngời xem nh
những tác phẩm bất hủ. Ví dụ: Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là tiếng dõng dạc, hùng
hồn. Nhng phân tích lí giải mà vẫn thấm đến cháy lòng ngời. Dõng dạc mà nghe thiết tha
nóng bỏng hơn nghìn lời tâm sự nh cái dõng dạc của Cáo bình Ngô, cái hùng hốn của
Hịch tớng sĩ... còn mãi lu truyền không phải vì tác giả là những vị anh hùng dân tộc, văn võ
song toàn mà vì tài hùng biện của họ đã để lại những áng văn vẫn tiếp tục lay động tâm
tình bao thế hệ loài ngời. Văn nghị luận là biểu hiện của t duy lí tính nhng nếu trong đó có
sự nồng nhiệt thiết tha mãnh liệt của tình cảm chứa đựng trong các hình ảnh ngôn ngữ và
nhịp điệu của ngôn ngữ thì vẫn có yếu tố trữ tình. Tình hỗ trợ cho lí thêm mạnh bài làm
cho bài văn vừa thấu lí vừa đạt tình, chinh phục mạnh mẽ ngời đọc, ngời nghe.

trong bài Đức tính giản dị của Bác Hồ đợc tác giả hình thành từ ba luận cứ: Bác giản dị
trong bữa ăn, trong đồ dùng, trong lối sống và một luận cứ bổ sung: Bác sống giản dị nhng
không phải là khắc khổ theo lối thầy tu mà văn minh thực sự. Trong bài Tinh thần yêu nớc
của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu luận điểm: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu n-
ớc. Luận điểm này đợc đảm bảo bằng luận cứ rút từ thực tiễn lịch sử từ các thời đại Bà Tr-
ng, Bà Triệu, Trần Hng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung,... đợc đảm bảo bởi luận cứ lấy từ
cuộc kháng chiến chống Pháp ở mọi miền, mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp.
Lập luận là việc xây dựng ý kiến, (luận điểm) đúng đắn, sâu sắc, mới mẻ trớc những
vấn đề phức tạp. Nó bao gồm việc đề xuất luận điểm, xác lập luận cứ (lí lẽ, dẫn chứng) và
những cách thức tổ chức làm cho luận điểm và luận cứ trở thành một hệ thống giàu sức
thuyết phục. Ví dụ, Cố thủ tớng Phạm Văn Đồng trong bài Đức tính giản dị của Bác Hồ đã
nêu lên luận điểm: Bác là nhà cách mạng có sự thống nhất giữa đời hoạt động chính trị lay
trời chuyền đất với đời sống vô cùng giản dị và khiêm tốn. Để chứng minh cho luận điểm
này, tác giả đã nêu các luận cứ và trình bày theo thứ tự: Bác giản dị trong bữa cơm, đồ
dùng, cái nhà, lối sống. Mỗi luận cứ đều có các dẫn chứng cụ thể có thể kiểm chứng đợc dễ
dàng.
Tóm lại, văn nghị luận không làm nhiệm vụ mô tả đời sống xã hội (hay nội tâm con
ngời) mà nhằm nhận biết và phân tích đời sống bằng t duy lôgíc thông qua hệ thống luận
điểm, luận cứ và lí lẽ. Tuy nhiên, không nên hiểu rằng văn nghị luận chỉ toàn khô khan,
trừu tợng, từ chối mọi cảm xúc và hình ảnh. Hình ảnh và cảm xúc là vấn đề rất cần cho
văn nghị luận, nhng phải chú ý rằng cảm xúc và hình ảnh ở đây là nằm trong hệ thống t
duy lôgic, tuân thủ trật tự của t duy lôgíc, chứ không phải là sự xây dựng hoàn chỉnh bức
tranh đời sống xã hội.
- Kết cấu của bài văn nghị luận phải tuân theo trình tự của sự nhận thức và triển
khai một vấn đề trong dòng t duy lôgic chứ không phải dựa theo mạch cảm xúc (nh trong
Hồ Đức Bang GV THCS Quỳnh Long Quỳnh Lu Nghệ An
9
Để dạy học văn nghị luận có hiệu quả
loại trữ tình) hay cốt truyện là nhân vật (nh trong loại tự sự) hoặc theo diễn biến của xung
đột (nh trong loại kịch).

và thuyết phục ngời đọc, trong bài văn nghị luận, ta nên dùng các biện pháp tu từ nghị
luận; đó là cách dùng từ đặt câu có hình ảnh, có ngữ điệu và gợi cảm.
Đây là một đoạn văn trong bài Cây tre Việt Nam của Thép Mới. Đoạn văn đã đợc
tác giả sử dụng hình thức điệp từ, điệp mô hình cấu trúc ngữ pháp và sử dụng nhạc điệu
trong câu văn:
Ví dụ: Cây tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù. Tre xung phong vàp xe tăng
đại bác. Tre giữ làng, giữ nớc, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ
con ngời. Tre, anh hùng lao động ! Tre, anh hùng chiến đấu.
Hồ Đức Bang GV THCS Quỳnh Long Quỳnh Lu Nghệ An
10
Để dạy học văn nghị luận có hiệu quả
Trong văn nghị luận, ngời viết thờng sử dụng phơng pháp so sánh rất tài tình. Văn
chính luận của Bác Hồ là một minh chứng mẫu mực. Mặt khác, trong văn nghị luận, ta th-
ờng gặp các tác giả sử dụng lời dẫn trực tiếp chuyển thành lời dẫn gián tiếp, làm cho câu
văn biến đổi, tạo nên giá trị tu từ.
Ví dụ: Nguyễn Trãi, ngời anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị:
chính trị cứu nớc, cứu dân, nội trị, ngoại giao Mở nền thái bình muôn thuở, rửa nỗi thẹn
nghìn thu. (Bình Ngô đại cáo); võ là quân sự: chiến lợc và chiến thuật, Yếu đánh mạnh...
thắng hung tàn bằng đại nghĩa (Bình Ngô đại cáo); văn và võ đều là vũ khí, mạnh nh vũ
bão, sắc nh gơm dao: Viết th thảo hịch tài giỏi hơn mọi thời. (Lê Quý Đôn), Văn chơng
mu lợc, gắn liền với sự nghiệp kinh bang tế thế (Phan Huy Chú ). Thật là một con ngời vĩ
đại nhiều mặt trong lịch sử nớc ta.
Tóm lại, ngôn ngữ dùng trong văn nghị luận cần rõ ràng, chính xác trong cách
dùng từ đặt câu. Nó phải là ngôn ngữ vừa trừu tợng trí tuệ, khái quát, vừa cụ thể trong sáng
gợi cảm để kích thích, thuyết phục ngời đọc, ngời nghe. Song ngôn ngữ trong văn nghị
luận cần đợc hấp dẫn, lôi cuốn bằng những từ ngữ có tính hình tợng và sức biểu cảm bằng
sự biến đổi linh hoạt của cách diễn đạt của trật tự cú pháp chứ không chấp nhận sự khô
khan và đơn điệu, nhất là khi đối tợng nghị luận là các tác phẩm văn học nghệ thuật.
IIi. Các thao tác nghị luận
1. Khái quát về thao tác nghị luận

thành đầu, mình, đuôi...); phải đáp ứng tốt nhất cho mục đích nghiên cứu (ví dụ, cùng tìm
hiểu về con ngời, trờng sinh học ngời ta chia thành đầu, mình và tứ chi; còn trong văn học,
ngời ta lại chú ý đến ngoại hình và nội tâm... ở ngoại hình lại tập trung vào dáng điệu, cử
chỉ, ăn mặc...) Sau khi nghiên cứu các lớp từ, dựa vào phạm vi xã hội đợc dùng, ngời ta
chia thành: từ toàn dân, từ địa phơng, thuật ngữ, từ nghề nghiệp, biệt ngữ). Và cuối cùng
việc phân chia không đợc cách quãng, toàn thể phải chia thành các bộ phận lớn, các bộ
phận lớn phải tiếp tục chia thành các bộ phận nhỏ và các bộ phận nhỏ lại đợc tiếp tục chia
thành các bộ phận nhỏ hơn ...
Kết quả của sự phân tích mới chỉ cho phép hiểu về các đối tợng riêng lẻ mà cha
hiểu biết hoàn chỉnh về đối tợng. Muốn nhìn nhận đối tuợng trong sự thống nhất hữu cơ thì
phải tổng hợp.
Tổng hợp trong văn nghị luận là đem ý kiến nhỏ, vấn đề nhỏ, vấn đề riêng quy lại
thành một ý kiến lớn, vấn đề lớn mang tính chung nhất. Đó không phải là sự gộp lại đơn
giản, mà theo nguyên tác: chỉ tổng hợp những cái chung, cái đồng thời nhất trong từng bộ
phận và tổng hợp theo cấp bậc.
Phân tích và tổng hợp có mối quan hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau. Phân
tích mà không có tổng hợp thì phân tích sẽ lan man, tản mạn, xa đề. Tổng hợp mà không
có phân tích tích thì sẽ không mở đợc vấn đề, sẽ không có sức thuyết phục, bài nghị luận
sẽ không sâu sắc.
Ví dụ 1: Trong hoàn cảnh "trăm dâu đổ đầu tằm", ta càng thấy chị Dậu thật là
một phụ nữ đảm đang, tháo vát. Một mình chị phải giải quyết khó khăn đột xuất của gia
đình, phải đơng đầu với những thế lực tàn bạo: quan lại, cờng hào, địa chủ và tay sai của
chúng. Chị có khóc lóc, có kêu trời, nhng chị không nhắm mắt khoanh tay, mà tích cực tìm
cách cứu đợc chồng ra khỏi cơn hoạn nạn. Hình ảnh chị Dậu hiện lên vững chãi nh một
chỗ dựa chắc chắn cho cả gia đình.
(Theo Nguyễn Đăng Mạnh)
Đoạn văn trên có bốn câu:
Đoạn văn trên gồm bốn câu:
+ Câu đầu (tổng): Hoàn cảnh của chị Dậu và ca ngợi phẩm chất của chị Dậu.
+ Hai câu giữa (phân): Chứng minh những khó khăn mà chị Dậu phải đối mặt, phải

thực hiện đợc trung thành những lời tự khuyên đó. Thơ suy nghĩ của Bác cũng chính là
thơ hành động .
(Hoàng Trung Thông)
Đoạn văn phân tích trên đợc trình bày theo kết cấu quy nạp. Gồm bốn câu: ba câu
đầu triển khai phân tích ý nghĩa t tởng rèn luyện của bài thơ Nghe tiếng giã gạo rồi từ đó
khái quát vấn đề trong câu cuối - câu chủ đề, diễn đạt ý chính của đoạn: nhận định chung
về thơ Bác.
Ví dụ 2: Nhân vật công nhân trớc kia rất hiếm thấy trong văn học ta, nay đã đợc
miêu tả rõ nét dần dần. Khá nhiều cây bút, nhất là những nhà văn trẻ, viết về đời sống
những lớp thợ già, thợ trẻ, cán bộ chiến sĩ chuyển ngành, thanh niên ở thành phố và nông
thôn đi vào các nông trờng, nhà máy, những cán bộ kĩ thuật trẻ tuổi hoạt động ở mọi ngành
xây dựng. Văn học ở miền Bắc đã gắn chặt hơn với đời sống lao động và chiến đấu của
công nông binh.
(Dẫn theo Đình Cao - Lê A "Làm văn (Tập 1) NXBGD 1989)
Đoạn văn trên có 3 câu: câu (1) và câu (2) nêu lên những hiện tợng đợc miêu tả
trong sáng tác văn học nhân vật công nhân để đi đến nhận xét khái quát là: văn học miền
Bắc đã gắn chặt đời sống lao động và chiến đấu của công nông binh (câu 3) là câu chủ đề.
Hồ Đức Bang GV THCS Quỳnh Long Quỳnh Lu Nghệ An
13
Để dạy học văn nghị luận có hiệu quả
b) Diễn dịch là thao tác t duy đi từ cái chung đến cái riêng, từ cái toàn thể đến cái
bộ phận, từ cái khái quát đến cái đơn nhất, từ chân lí đã có tìm ra chân lí mới...
Ví dụ 1: Nghệ thuật trong Nhật kí trong tù rất phong phú. Có lời phát biểu trực tiếp,
đọc hiểu ngay. Có bài lại dùng lối ngụ ngôn thâm thúy. Có bài tự sự. Có bài trữ tình hay
vừa tự sự vừa trữ tình. Lại có bài châm biếm. Nghệ thuật châm biếm cũng nhiều vẻ. Khi là
tiếng cời mỉa mai. Khi là tiếng cời phẫn nộ. Cũng có khi đằng sau tiếng cời ấy là nớc mắt.
Đoạn văn trên có 10 câu. Câu đầu là câu chủ đề, là câu mở đoạn, câu mang ý nghĩa
chính của đoạn. Chín câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủ đề.
Ví dụ 2: Đồng tiền cơ hồ đã trở thành một thứ thế lực vạn năng. Tài hoa, nhan sắc,
tình nghĩa, nhân phẩm, công lí đều không còn nghĩa gì trớc thế lực của đồng tiền. Tài tình,

Bốn là, học sinh phải kính trọng thầy,cùng gánh vác trách nhiệm với thầy trong việc
xây dựng nhà trờng xã hội chủ nghĩa, thầy trò phải đoàn kết thân ái với nhau, giúp đỡ nhau
Hồ Đức Bang GV THCS Quỳnh Long Quỳnh Lu Nghệ An
14
Để dạy học văn nghị luận có hiệu quả
cùng tiến bộ; ngời giỏi giúp đỡ khuyên bảo ngời kém, lên lớp nghe giảng, học nhóm hoặc
tự học đều là những phơng pháp học tốt cần áp dụng.
(Trờng Chinh)
Trên thực tế, việc giải thích thờng đợc kết hợp với việc đa các sự kiện, nêu dẫn
chứng và dùng lí lẽ để tăng sức thuyết phục. Đó chính là chứng minh.
3.2. Chứng minh là làm sáng tỏ vấn đề bằng các dẫn chứng và lí lẽ đã đợc khẳng
định trong thực tiễn. Khi chứng minh, ta có thể dùng dẫn chứng (con số, sự việc, sự
kiện, ...) dùng lí lẽ hoặc kết hợp cả dẫn chứng và lí lẽ.
Ví dụ: Cuộc sống đẹp
Thế nào là một cuộc sống đẹp nhất của ngời Việt Nam ta. Theo tôi, một cuộc sống
đẹp phải đợc xây dựng trên những cơ sở sau đây:
Một là tình thơng đối với Tổ quốc, đối với đồng bào, đối với nhân dân lao động.
Một xã hội đẹp là một xã hội trong đó mọi ngời thơng yêu lẫn nhau, mọi ngời sống trong
đoàn kết, thân ái, trong hợp tác, tơng trợ.
Hai là đấu tranh chống các thế lực tiêu cực phản động, chống cờng quyền, áp bức
và quét sạch mọi t tởng, lề thói của xã hội cũ còn rơi rớt lại, nhất là thói lời biếng, ăn bám.
Ba là lao động. Mọi ngời đều phải lao động; lao động vì tập thể, vì xã hội, lao động
có kỉ luật, có kĩ thuật và có năng suất cao.
Bốn là mọi ngời vơn tới đỉnh cao về nhân phẩm và trí tụê, phải rèn luyện các đức
tính: tận tụy, trung thành, hi sinh, xả thân, thật thà, dũng cảm, khiêm tốn. Phải nâng cao
trình độ học vấn, ra sức phát huy năng lực sáng tạo, cống hiến nhiều nhất cho xã hội.
Trong các điểm trên, tình thơng là cơ sở quan trọng nhất tạo nên cái đẹp của xã hội
chủ nghĩa. Tình thơng là hạnh phúc của con ngời, là tình cảm cao đẹp thuộc bản chất của
ngời lao động.
(Lê Duẩn: Con đờng tu dỡng rèn luyện của thanh niên)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status