Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nớc, thời gian qua nông
nghiệp và nông thôn nớc ta nói chung, Hà Nam nói riêng đã có những chuyển
biến lớn và đã đạt đợc những kết quả đáng kể. Tốc độ tăng trởng bình quân của
nông nghiệp tỉnh Hà Nam đạt 5%/năm. Từ một tỉnh thiếu lơng thực đến nay đã
có đủ lơng thực tiêu dùng và có dự trữ đảm bảo an ninh lơng thực và có sản
phẩm hàng hoá.
Cùng với những thành tựu đạt đợc trong sản xuất nông nghiệp, thị trờng
tiêu thụ nông sản đã bớc đầu mở rộng và phát triển, tác động tích cực trở lại
sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, vấn đề tiêu thụ nông
sản hàng hoá đang là vấn đề bức xúc hiện nay. Một số nông sản làm ra tiêu thụ
chậm, giá cả không ổn định làm thiệt hại đến lợi ích của ngời sản xuất và
không khuyến khích ngời lao động. Vì vậy em chọn đề tài: "Một số giải pháp
nâng cao khả năng tiêu thụ hàng hoá nông sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam
đến năm 2010" và mong muốn góp phần tìm hiểu thị trờng hàng hoá nông sản,
định hớng sản xuất, phát triển thị trờng cho những năm tới và đề xuất một số
giải pháp để nâng cao khả năng tiêu thụ hàng hoá nông sản trên địa bàn tỉnh
Hà Nam.
Đề tài đợc chia làm ba chơng sau:
Chơng I: Sự cần thiết phải nâng cao khả năng tiêu thụ hàng hoá nông
sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
Chơng II: Tình hình sản xuất, tiêu thụ hàng hoá nông sản trên địa bàn
tỉnh Hà Nam giai đoạn 1996 - 2002.
Chơng III: Các giải pháp nâng cao khả năng tiêu thụ hàng hoá nông
sản của tỉnh Hà Nam đến năm 2010.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng I
Sự cần thiết phải nâng cao khả năng tiêu thụ
hàng hoá, dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng, đồng thời thu đợc tiền hàng
hoá.
Nh vậy, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá là tổng thể các biện pháp về mặt tổ
chức, kinh tế và kế hoạch nhằm thực hiện việc nghiên cứu thị trờng, tổ chức
tiếp nhận sản phẩm hàng hoá và xuất bán theo nhu cầu của khách hàng với chi
phí thấp nhất.
Trong cơ chế thị trờng hiện nay, hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm hàng hoá là khâu quyết định đến sự thành công hay
thất bại của mỗi doanh nghiệp. Có tiêu thụ đợc sản phẩm mới tăng đợc vòng
quay của vốn, tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Qua tiêu thụ sản
phẩm thực hiện đợc giá trị sử dụng của sản phẩm. Sau khi tiêu thụ đợc sản
phẩm doanh nghiệp không những thu đợc các khoản chi phi bỏ ra mà còn thu
đợc lợi nhuận.
Các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam nh : gạo, đậu tơng, lạc,
hạt điều, cà phê, chè, thịt, rau quả tơi và rau quả chế biến... đợc sản xuất và tiêu
thụ ở Việt Nam với các mức độ khác nhau đã tác động đến sản xuất và tiêu thụ
trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
2. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng tiêu thụ.
Hà Nam là tỉnh nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, đất đai mầu mỡ đ-
ợc bao bọc bởi hai con sông lớn là sông Hồng và sông Đáy, có nhiều điều kiện
thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp là nền sản
xuất chính của tỉnh, chiếm tới hơn 45,6% trong cơ cấu GDP của tỉnh.
Mấy năm vừa qua nhờ chuyển đổi cơ chế quản lý, áp dụng những thành tựu
khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thay đổi giống và biện pháp thâm canh tăng
vụ, nông nghiệp Hà Nam đã có những tiến bộ rõ rệt. Tổng sản lợng lơng thực
năm 2002 đạt 424.000 tấn, bình quân 450kg/ ngời/năm. Chăn nuôi gia súc gia
cầm, thuỷ sản phát triển, đời sống nhân dân đợc cải thiện.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dịch lao động từ nông thôn ra thành thị vốn đã và đang d thừa lao động, tạo
điều kiện cho ngời dân gắn bó hơn với mảnh đất mà mình sinh sống.
Nông nghiệp giữ một vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp Việt
Nam, thể hiện thông qua tỷ trọng GDP nông nghiệp trong tổng GDP và các
nguồn lực quốc gia.
Bảng 1: GDP phân theo ngành kinh tế năm 2000.
Ngành kinh tế GDP theo giá
hiện hành
(Tỷ đồng)
Cơ cấu GDP
(%)
Tăng trởng GDP
(2001 - 2002)
(%)
Tổng số cả nớc
-Nông, lâm, ng nghiệp
- Công nghiệp
- Dịch vụ - Thơng Mại
399.942
101.724
137.750
160.259
100
25,43
34,49
40,07
7,67
4,22
11,47
phía Tây giáp với Hoà Bình - một tỉnh thuộc vùng Tây Bắc.
So với các tỉnh xung quanh, trừ Hoà Bình, Hà Nam đều có những nét t-
ơng đồng với các tỉnh còn lại nh Hà Tây, Hng Yên, Thái Bình về nhiều phơng
diện nh trình độ phát triển kinh tế, điều kiện tự nhiên, đặc trng văn hoá xã
hội... Xuất phát từ những nét tơng đồng đó, khả năng bổ xung lẫn nhau giữa Hà
Nam với các tỉnh xung quanh trong quá trình phát triển của mình sẽ không lớn.
Tuy nhiên, khả năng hợp tác giữa các tỉnh này trong sản xuất để đạt đợc tính
kinh tế theo quy mô sẽ là hớng quan trọng cần quan tâm.
Với khoảng cách gần 60 km, mức độ ảnh hởng tơng tác giữa Hà Nội và
Hà Nam mang tính trực diện, ở mức độ lớn và ảnh hởng đó sẽ ngày càng lớn
hơn cùng với sự phát triển của điều kiện giao thông, thông tin liên lạc và nhu
cầu giao lu của dân c. Với vị trí trên trục giao lu chủ yếu giữa Bắc và Nam của
cả nớc, Hà Nam có khả năng tiếp nhận đợc nhanh hơn so với nhiều tỉnh khác
những ảnh hởng cả theo ý nghĩa tích cực và tiêu cực từ bên ngoài trong quá
trình phát triển mọi mặt kinh tế - xã hội của tỉnh.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2. Đất đai.
Tổng diện tích đất tự nhiên là 84328,5 ha, trong đó đất nông nghiệp
chiếm 47940 ha, đất lâm nghiệp chiếm 550 ha, bình quân một khẩu chỉ có 660
m
2
đất nông lâm nghiệp. Đất đai của tỉnh gồm hai loại: Đất đồi và đất phù sa
cổ, địa hình phức tạp, đất nông nghiệp chủ yếu là thấp, trũng, không bằng
phẳng. Trong đất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm chiếm 93%(chủ yếu
trồng lúa, ngô, khoai, sắn), đất trồng cây lâu năm chiếm 1,4%, còn lại là đất cỏ
dùng vào chăn nuôi và đất vờn liền nhà. Bình quân đất trên đầu ngời thấp đòi
hỏi phải thâm canh, xen canh tăng vụ... để tăng sản lợng cây trồng. Nhìn chung
đất đai của Hà Nam phù hợp với việc gieo trồng cây lúa và một số cây nông
sản khác.
Thành thị
Tỷ trọng
Nông thôn
Tỷ trọng
731,4
50,4
6,89
680,5
93,11
771,6
57,6
7,47
714
92,53
779,4
60,9
7,81
718,5
92,19
786,6
62,3
7,92
724,3
92,08
792,5
62,6
7,90
729,9
92,10
809,3
2000
Tốc độ tăng bình
quân1996-
2000(%)
271.246
312.500
1,60
45.590
43.920
-0,44
28.056
32.360
1,56
Nguồn: Số liệu thống kê tỉnh Hà Nam.
Trong giai đoạn 1996 - 2000, dân số trong độ tuổi lao động của Hà
Nam đã gia tăng nhanh, từ nhịp độ tăng bình quân 1,32%/năm trong giai đoạn
1991 - 1995 lên nhịp độ tăng bình quân 1,71%/năm trong giai đoạn 1996 -
2000. Về cơ cấu lao động theo lĩnh vực kinh tế, trong giai đoạn 1996 -2000, tỷ
trọng lao động trong ngành nông - lâm - thuỷ sản tăng từ 78,65% năm 1996 lên
80,4% năm 2000, tỷ trọng lao động dịch vụ từ 8,13% lên 8,30%, trong khi đoá
tỷ trọng lao động ngành công nghiệp.
Cơ sở vật chất cho giáo dục phổ thông của tỉnh đợc phát triển khá tốt so
với tình trạng chung của các tỉnh Đồng Bằng Sông Hồng, đặc biệt là đối với
bậc học phổ thông cơ sở và phổ thông trung học. Tuy nhiên, nếu so sánh chỉ số
giữa số lợng học sinh các bậc học từ phổ thông đến đại học với số dân thì các
chỉ số của Hà Nam lại ở mức thấp hơn so với vùng Đồng Bằng Sông Hồng và
với cả nớc.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bảng 4: Số học sinh và tỷ trọng học sinh so với dân số năm 2000.
2.Tỷ lệ xã có đờng ô tô đến xã
3.Tỷ lẹ xã có đờng ô tô đến thôn
4.Tỷ lệ xã có trờng tiểu học
6. Tỷ lệ xã có trạm y tế
7.Số máy điện thoại trên 1000 dân
85,8
92,9
79,8
98,9
89,3
31,4
99,9
99,9
99,6
99,9
100
34,2
100
100
100
100
100
9,2
Nguồn: Số liệu thống kê cả nớc.
Hệ thống thuỷ lợi của tỉnh tuy đã hoàn chỉnh nhng do xây dựng đã lâu
nên xuống cấp nghiêm trọng, cha đảm bảo tới tiêu chủ động. Hệ thống gioa
thông thuỷ bộ trải khắp các xã, huyện nhng cũng cần đợc nâng cấp. Các cơ sở
thông tin, điện đã đợc xây dựng tơng đối đến tất cả các xã. Các dịch vụ nông
nghiệp đã đảm bảo phục vụ đợc nhu cầu của ngời nông dân. Các tiến bộ khoa
học kỹ thuật từng bớc đợc áp dụng phù hợp với điều kiện của tỉnh.
hộ trong nông nghiệp đã mở đầu sự đổi mới trong chính sách nông nghiệp.
Nghị quyết 10/TW đã làm rõ hơn, xá lập quyền tự chủ và quyền lợi của hộ
nông dân trong sản xuất.Luật đất đai năm 1993 đã xác lập quyền của hộ nông
dân trên mảnh ruộng của họ trong thời hạn đợc giao. Luật đất đai sửa đổi năm
1998 xác định thêm những quyền cơ bản của ngời sử dụng đất.
Khi ngời nông dân làm chủ mảnh đất của mình, họ tìm đến các giống
cây con mới và các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng cờng đầu t thâm canh tăng
năng suất. Để đáp ứng yêu cầu này, nghị định 14/CP của chính phủ tháng 3
năm 1993 đã xác định cho hộ nông dân vay vốn và quyết định số 67/1999/QĐ-
TTg của Thủ tớng Chính phủ ngày 30/9/1999 quy định một số chính sách tín
dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, đã tạo điều kiện
cho việc phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cùng với các chính sách về thuế, về tín dụng, về khuyến nông... và gần
đây là chính sách phát triển trang trại, các chính sách thơng mại nông sản cũng
đợc nhà nớc quan tâm đổi mới : xoá bỏ tình trạng cát cứ, ngăn sông cấm chợ,
mở rộng tự do lu thông hàng hoá nông sản trong nớc; mở rộng quyền xuất
khẩu nông sản cho các thành phần kinh tế; tích cực chủ động hội nhập vào th-
ơng mại khu vực và quốc tế; cải tiến hàng rào thuế quan và biện pháp phi thuế
quan.
III. Những thuận lợi và hạn chế trong việc thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế của tỉnh Hà Nam.
1. Những thuận lợi để phát triển kinh tế của tỉnh Hà Nam.
Những thành tựu để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam trong
giai đoạn vừa qua là những cơ sở kinh tế quan trọng trong phát triển thị trờng
của tỉnhvới quy mô ngày càng lớn hơn của cả cung và cầu hàng hoá, qua đó tạo
ra môi trờng thuận lợi để phát triển các hoạt động sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
nông sản.
Về lý thuyết, sự phát triển của cung có tác động kích thích đến sự hình
kỹ năng, kiến thức cho ngời lao động và nuôi dỡng, thu hút nhân tài vào mục
tiêu phát triển chung của tỉnh.
2. Những hạn chế đối với việc phát triển kinh tế của tỉnh Hà Nam.
Khi trình độ phát triển về khoa học công nghệ, kỹ năng quản lý thấp là
trở ngại ban đầu kìm hãm sự phát triển của thị trờng và các hoạt động thơng
mại trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Tài nguyên thiên nhiên là những yếu tố đầu vào
quan trọng của sản xuất, nhất là khi trình độ phát triển kinh tế còn thấp. Sự sẵn
có về tài nguyên hay chi phí thấp của các yếu tố đầu vào cho sản xuất có thể sẽ
tạo nên sức cạnh tranh cho sản phẩm. Tính đa dạng về tài nguyên thiên nhiên
của Hà Nam cũng rất hạn chế bởi độ phì của đất thấp, độ trũng của mặt bằng
sản xuất không đồng đều gây khó khăn cho việc mở rộng quy mô sản xuất.
Bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế đã đạt đợc, Hà Nam còn
đang đứng trớc rất nhiều khó khăn, trở ngại trong quá trình phát triển nền kinh
tế - xã hội. Nền kinh tế địa phơng vẫn đang ở điểm xuất phát thấp so với các
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng và so với mức bình quân chung của cả
nớc. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh sẽ gặp không ít khó khăn,
bởi vì Hà Nam không có nhiều nguồn tài nguyên cho phép chuuyển dịch nhanh
chóng cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế. Chỉ tiêu huy động ngân sách từ GDP,
khả năng tích luỹ đầu t từ GDP của tỉnh trong nhiều năm qua luôn ở tình trạng
thấp so với các tỉnh trong vùng và cả nớc.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng II
Tình hình sản xuất tiêu thụ hàng hoá nông
sản của tỉnh Hà Nam giai đoạn 1996-2002.
I. tổng quan tình hình kinh tế của tỉnh Hà Nam giai đoạn
1996 - 2002.
quân 20,52%/năm, của dịch vụ là 5,9%/năm và của nông nghiệp là 4,1%/năm.
Do vậy, tỷ trọng trong GDP của lĩnh vực nông nghiệp đã giảm tới trên 11% và
của công nghiệp, xây dựng tăng trên 12% trong giai đoạn 1996-2000, trong khi
đó của cả nớc tơng ứng chỉ là gần 3% và 8%. Tuy nhiên, nền kinh tế Hà Nam
chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp.
Bảng 5: Cơ cấu GDP của Hà Nam và cả nớc.
(giá hiện hành )
Đơn vị:%
1996 1997 1998 1999 2000 2001
1.Hà Nam
-Nông nghiệp
-Công nghiệp -XD
-Dịch vụ
100
52,64
16,26
31,1
100
49,58
18,83
31,59
100
48,29
19,11
32,6
100
48,00
20,05
31,95
100
40,1
100
24,3
36,6
39,1
Nguồn: Số liệu thống kê cả nớc và Hà Nam.
Trong cơ cấu GDP của tỉnh, tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 52,64%
năm1996 xuống còn 43,65% năm 2000 và 41% năm 2002. Tuy giảm tỷ trọng
trong cơ cấu GDP nhng giá trị tuyệt đối của sản xuất nông nghiệp ngày một
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tăng, cơ sở vật chất hạ tầng của nông thôn đợc cải thiện đáng kể, bộ mặt nông
thôn ngày càng dổi mới thể hiện:
- Sản xuất nông nghiệp liên tục đợc mùa và năm sau cao hơn năm trớc.
Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp tăng bình quân 6,1%/năm, sản xuất lơng thực
đạt cao cả về tổng sản lợng và năng suất. Năm 2001 năng suất lúa đã vợt
10tấn/ha/năm. Từ tỉnh thiếu lơng thực đến nay đã có lơng thực dự trữ và xuất
khẩu.
-Bớc đầu đã tạo đợc nhiều mô hình trồng cây nông nghiệp ngắn ngày,
cây lơng thực có giá trị kinh tế cao, mô hình chăn nuôi gia đình,mô hình vờn
cây ăn quả đặc sản gắn với phủ xanh đất trống, đồi trọc theo chơng trình 327
làm tiền đề cho việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong ngành nông
nghiệp.
- Chăn nuôi đợc duy trì và phát triển. Tốc độ phát triển đàn gia súc, gia
cầm hàng năm tăng từ 2,7%-6,3%, sản lợng thuỷ sản có tốc độ tăng hàng năm
từ 6,6%-15,4%.
-Gắn xây dựng mô hình vờn cây ăn quả, đặc sản, mô hình trồng cây
công nghiệp, cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao, mô hình chăn nuôi gia đình
với chơng trình xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích hộ gia đình, cá nhân sản
xuất kinh doanh giỏi đã góp phần làm giảm tỷ lệ đói nghèo trong khu vực nônh
97,21
1,17
1,62
100
96,29
1,63
2,08
100
96,67
1,43
1,9
100
96,4
1,33
2,27
100
96,64
1,34
2,02
Nguồn: Số liệu thống kê Hà Nam.
Trong sản xuất nông nghiệp, giá trị sản lợng trồng trọt vẫn chiếm tỷ
trọng lớn nhất, theo số liệu năm 2002, trồng trọt chiếm 76,54%, chăn nuôi
chiếm 22,56% và dịch vụ chỉ chiếm 0,9% trong tổng giá trị sản lợng nông
nghiệp của tỉnh. Đồng thời tốc độ tăng trởng bình quân trong giai đoạn 1996 -
2002 của giá trị trồng trọt cũng đật đợc cao nhất với 3,7%/năm, tiếp đến là
3,23% /năm và dịch vụ là 3,28%. Nh vậy, trong nông nghiệp vẫn có xu hớng
thiên về sản xuất các sản phẩm trồng trọt.
Bảng 7: Hệ số giữa giá trị sản lợng nông nghiệp tăng
thêm và tổng giá trị sản lợng nông nghiệp của tỉnh Hà Nam.
19
35,23
Nguồn số liệu thống kê Hà Nam .
Cùng với xu hớng nâng cao khả năng tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp
ở nớc ta trong những năm qua, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp của Hà
Nam đã đợc nâng lên.
Trong nhóm hàng nông sản, các mặt hàng xuất khẩu chính của Hà Nam
bao gồm: gạo, lạc nhân, đay tơ, long nhãn...Tuy nhiên, khối lợng xuất khẩu các
mặt hàng thờng không ổn định qua các năm và chiếm tỷ lệ nhỏ so với sản lợng
sản xuất trừ mặt hàng lạc nhân xuất khẩu.
II. Thực trạng sản xuất, tiêu thụ hàng hoá nông sản của
tỉnh Hà Nam giai đoạn 1996-2002.
1. Sản xuất, chế biến và tiêu thụ gạo.
Lúa gạo đợc trồng tại khắp các huyện, thị trong tỉnh với diện tích, năng
suất và sản lợng năm sau cao hơn năm trớc.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bảng 8: Diện tích, năng suất, sản lợng lúa của Hà Nam
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lợng
(tấn)
1997 70.973 40,53 287.665
1998 73.366 46,62 343.336
1999 74.332 48,89 363.431
2000 75.036 51,10 383.453
2001
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lơng thực 1000 tấn 327,5 345,0 358,7 365
Thịt các loại 1000 tấn 16,3 15,5 12,8 10,5
Trứng các loại Triệu quả 74,8 77,6 82,5 87,6
Rau xanh 1000 tấn 762 765 768 770
Quả tơi 1000 tấn 7,5 9,8 12,5 13,8
Lạc 1000 tấn 1,2 1,3 1,5 1,8
Nguồn : Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nam.
Việc tiêu thụ gạo của Hà Nam chủ yếu đợc thực hiện trong nội địa. Một
phần gạo của Hà Nam đợc bán cho các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, một
phần bán cho Hà Nội. Việc tiêu thụ gạo trong nội địa chủ yếu thông qua các t
thơng, công ty lơng thực Hà Nam tiêu thụ một phần. Trong năm 1998 công ty
lơng thực Hà Nam cũng đã xuất khẩu đợc hơn 1000 tấn gạo của Hà Nam thông
qua tổng công ty lơng thực miền Bắc .
Các hạn chế trong việc xuất khẩu , chế biến, tiêu thụ gạo của Hà Nam:
-Hà Nam có nhiều loại thóc gạo, có rất ít giống đạt chất lợng cao. Giống
còn chạy theo năng suất và phù hợp với đồng đất trũng.
-Giá thành sản xuất gạo của tỉnh cao hơn giá thành của một số tỉnh lân
cận do điều kiện đất đai, trình độ thâm canh. Việc tiêu thụ bị động do sản lợng
lúa gạo ít. Thêm vào đó, nông dân trong tỉnh còn nặng về tâm lý tích trữ lúa
gạo đề phòng lúc thất bát. Vì vậy rất khó cho việc thu mua và tiêu thụ lúa gạo.
-Trong tỉnh cha có quy hoạch vùng sản xuất lúa gạo, còn do hộ nông
dân mạnh ai ngời nấy làm. Cha có hệ thống thu mua thóc gạo từ tỉnh xuống
đến xã. Tình trạng phân tán trong sản xuất và lu thông là những trở ngại chính
cho việc tiêu thụ lúa gạo của tỉnh.
-Công nghệ và thiết bị cha đáp ứng đợc yêu cầu của chế biến gạo, phơng
tiện vận chuyển còn thô sơ. Mấy năm nay do đợc mùa liên tiếp nên mới có l-
ơng thực để trở thành hàng hoá. Cần phải có những chính sách để khuyến
vùng huyện, xã. Việc sản xuất trồng trọt đay trong mấy năm qua đã đem lại
hiệu quả kinh tế hơn trồng lúa. Việc trồng đay chủ yếu để tận dụng đất đai ở
các bãi ven sông Hồng và tận dụng lực lợng lao động dôi d ở nông thôn.
-Quan hệ cung cầu về mặt hàng đay hoàn toàn theo cơ chế thị trờng.
Giữa các nhà máy chế biến đay và các hộ nông dân cha có sự ràng buộc, cha
có sự phối hợp chặt chẽ để đảm bảo tiêu thụ sản phẩm đay cho ngời nông dân.
Vì vậy diện tích trồng đay cá xu hớng hẹp
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3.Sản xuất, chế biến và tiêu thụ lạc.
Diện tích và sản lợng lạc của Hà Nam trong giai đoạn này đều tăng,
năm sau tăng so với năm trớc. Lạc đợc trồng nhiều ở 2 huyện Kim Bảng và
Duy Tiên. Diện tích và sản lợng lạc của 2 huyện Kim Bảng và Duy Tiên chiếm
gần 3/4 diện tích và sản lợng lạc của cả tỉnh. So với các tỉnh lân cận thì Hà
Nam là tỉnh có diện tích trồng lạc và sản lợng lạc thấp nhất.
Bảng 11: Diện tích, sản lợng lạc của Hà Nam qua các năm.
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (ha) Sản lợng(tấn)
1999 692 920
2000 754 1327
2001 949 2084
2002 1042 2062
Nguồn : Cục thống kê Hà Nam
Trớc đây tại Hà Nam có xí nghiệp ép dầu hoạt động có hiệu quả trong
cơ chế bao cấp, nhng những năm gần đây sản phẩm ép dầu, dầu lạc không đảm
bảo chất lợng, khó cạnh tranh trên thị trờng, hiệu quả không có nên xí nghiệp
đã chuyển hớng kinh doanh.
Với sản lợng trên 2000 tấn lạc vỏ một năm, tiêu dùngtrong dân chiếm
khoảng 40%còn lại là lạc hàng hoá. Số lợng lạc hàng hoá một phần đợc bán
Xô tan rã, khoai tây của tỉnh ta chủ yếu tiêu dùng trong nội địa.
* Cây da chuột:
Hà Nam có điều kiện để phát triển việc sản xuất da chuột. Trong những
năm gần đây da chuột đợc trồng nhiều ở Lý Nhân, Duy Tiên và Kim Bảng.
Năm 2000, diện tích trồng da chuột của tỉnh đã lên trên 200 ha, năng suất
trung bình khoảng 20 tấn/ha.
Giống da chuột gồm nhiều loại: Da bao tử, da ta, da Nhật....Da chuột là
loại cây vụ đông có giá trị tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu.
Hiện nay tỉnh Hà Nam cha có cơ sở chế biến da chuột. Ngoài nhu cầu
thay thế rau xanh hàng ngày, da bao tử và da chuột ta đợc bán cho các nhà máy
25