Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Những năm qua, kinh tế thế giới đã có nhiều chuyển biến, khu vực kinh
tế Châu Á Thái Bình Dương nổi lên như một khu vực năng động và giàu tiềm
năng. Nằm trong khu vực, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc và
đã có sự chuyển biến trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Có
thể nói, trong gần 15 năm trở lại đây, nước ta có nền kinh tế đang phát triển
với tốc độ cao nhất khu vực Đông Nam Á. Trong 7 năm qua, GDP đạt bình
quân 7,8 %/năm. Trong năm 2007 GDP đã đạt 8,48%/năm, cao nhất trong
vòng 10 năm qua. Tình hình chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng nhanh và
bền vững cùng với những thuận lợi khi gia nhập vào tổ chức Thương mai
quốc tế đã thúc đẩy hoạt động đầu tư, xây dựng, kinh doanh, buôn bán… phát
triển, tạo tiền đề cho việc tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống
của các tầng lớp nhân dân. Đời sống người dân ngày càng được cải thiện
mạnh mẽ.
Riêng năm 2007, chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế từng bước được
nâng lên thể hiện trên các chỉ số tăng trưởng cao, duy trì tốc độ ổn định trên
mọi lĩnh vực kinh tế. Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực theo hướng
tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng dịch vụ và giảm tỷ trọng khu vực nông
nghiệp (khu vực nông nghiệp chiếm 20%; công nghiệp và xây dựng chiếm
41,5%, dịch vụ 38,5%).
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 ước đạt 574 nghìn tỷ đồng, tăng
17,1% so với năm 2006; trong đó, khu vực ngoài quốc doanh tăng 20,9%, khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,2% và khu vực doanh nghiệp nhà nước
tăng 10,3%.
Theo số liệu của tổng cục thống kê, thu nhập bình quân đầu người ở Việt
Nam năm 2007 đạt 835 USD. Một sự tăng trưởng vượt bậc và dự kiến sẽ tăng
lên 960 USD vào năm 2008 và đạt khoảng 1.100 USD vào năm 2009. Người
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dân được tiêu dùng những mặt hàng chất lượng dần dần đáp ứng đầy đủ nhu
THƯƠNG MẠI
1.1.1. Những hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức trung gian tài chính
quan trọng nhất của bất kỳ nền kinh tế nào, là định chế điều tiết dòng tiền từ
những nơi chưa có nhu cầu sử dụng tiền đến những nơi có nhu cầu sử dụng, là
tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong mọi nền kinh tế.
Ngân hàng là kênh huy động vốn chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá
nhân, hộ gia đình và các thành phần trong nền kinh tế. Việc hoạt động tốt và
cung cấp các dịch vụ đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế sẽ biến ngân hàng
là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất. .
Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại bao gồm:
1.1.1.1. Hoạt động cho vay
Cho vay là hoạt động quan trọng và hoạt động chủ yếu của ngân hàng
thương mại. Tuy nhiên, việc xác định một định nghĩa rõ ràng về hoạt động
cho vay là rất khó. Để xác định nội dung của thuật ngữ này ta sẽ tùy thuộc
vào góc độ nghiên cứu.
Khi xem xét cho vay như là một phương thức tài trợ cho hoạt động tín
dụng, thì “cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao
cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian
nhất định theo thoả thuận, với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi” (theo điều 3
quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước).
Hoạt động cho vay luôn có hai mặt một mặt mang lại thu nhập chính cho
ngân hàng và mặt khác chứa đựng rủi ro cho ngân hàng. Việc cho vay theo
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đúng quy trình và quy đinh hợp lý sẽ mang lại cho ngân hàng lợi nhuận sau
khi đã trừ đi các chi phí. Ngược lại, sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản
và tính chất an toàn của hệ thống ngân hàng. Do vậy, đòi hỏi các ngân hàng
thương mại phải xây dựng, thực hiện các chính sách tín dụng đúng đắn và
chỉ cần viết giấy chi trả cho khách hàng (còn gọi là séc), khách hàng mang
giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền. Các tiện ích của thanh toán không
dùng tiền mặt ( an toàn, nhanh chóng , chính xác, tiết kiệm chi phí ) đã rút
ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho doanh nhân. Khi ngân
hàng mở chi nhánh, thanh toán qua ngân hàng được mở rộng phạm vi, càng
tạo nhiều tiện ích cho các doanh nhân. Điều này đã khuyến khích các doanh
nhân gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ.
Bảo lãnh
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do
ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín
trong bảo lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo
lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho
khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và trang thiết bị, phát hành chứng
khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác…Đây là hoạt động mà ngân hàng
cam kết dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay
cho khách hàng của ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ
như cam kết. Bảo lãnh thường có ba bên: Bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo
lãnh và bên bảo lãnh. Bảo lãnh của ngân hàng có nghĩa ngân hàng là bên bảo
lãnh; khách hàng của ngân hàng là người được bảo lãnh và người hưởng bảo
lãnh là bên thứ ba.
Quản lý ngân quỹ
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp
và nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với
nhiều khách hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng
trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một
công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào
các chứng khoán sinh lợi, tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền
lấy các khoản vay của những ngân hàng lớn. Khi ngân hàng Trung ương
thành lập, Chính phủ đều tìm cách tham dự, hoặc trực tiếp can thiệp để có
được các khoản tín dụng lớn. Ngày nay, Chính phủ giành quyền cấp phép
hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép
thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện ở mức độ nào đó các
chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các ngân hàng phải mua
trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà
ngân hàng huy động được hoặc phải cho vay với các điều kiện ưu đãi cho các
doanh nghiệp của Chính phủ.
Cung cấp các hoạt động môi giới đầu tư chứng khoán
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho
phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do khiến
các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho
khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà
không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường
hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới
chứng khoán.
Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, đại lý
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều
đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay
gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán.
Do điều kiện khó khăn, ngân hàng cũng không thể thiết lập chi nhánh hoặc
văn phòng ở khắp mọi nơi. Các ngân hàng, thường là ngân hàng lớn đã cung cấp
dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như phát hành hộ, thanh toán hộ
các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.2. Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại
Hoạt động cho vay là hoạt động mang tính truyền thống của ngân hàng
thương mại. Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhu cầu về vốn ngày
cao, khách hàng truyền thống, tình hình tài chính lành mạnh, thường xuyên có
lãi… Tuy nhiên, đây là hình thức cho vay mang nhiều rủi ro đối với các ngân
hàng. Ngân hàng cần thẩm định kỹ khách hàng trước khi quyết định cho vay.
1.1.2.3. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay
Cho vay tiêu dùng
Là loại hình cho vay để tài trợ cho việc tiêu dùng nhằm giúp người tiêu
dùng có thể sử dụng hàng hoá, dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo
điều kiện cho người vay được hưởng mức sống cao hơn. Thông thường quy
mô của những khoản vay này nhỏ, rủi ro cao nên lãi suất của cho vay tiêu
dùng thường cao. Tuy nhiên cho vay tiêu dùng là hình thức đem lại lợi nhuận
cao cho ngân hàng. Đối tượng được vay là các cá nhân và hộ gia đình vay để
phục vụ cho mục đích mua nhà, mua ô tô, du học, du lịch…
Cho vay kinh doanh
Là loại hình cho vay của tổ chức tín dụng đối với các dự án đầu tư,
phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức như: cho
vay công nghiệp, cho vay thương mại, cho vay nông nghiệp. Các khoản vay
này thường được sử dụng vào việc mua sắm máy móc thiết bị, tài trợ cho vốn
lưu động… Lãi suất của chúng thường thấp hơn trong hệ thống lãi suất và đối
tượng khách hàng chủ yếu của loại hình cho vay này là các doanh nghiệp.
1.1.2.4. Căn cứ vào phương thức cho vay
Cho vay từng lần
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các
khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên. Không có điều kiện để được
cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu,
chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng.
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng
vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay, xác
định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu
Cho vay luân chuyển
Là loại hình cho vay này dựa trên sự luân chuyển của hàng hoá. Khi mua
hàng hóa doanh nghiệp có thể thiếu vốn, khi đó ngân hàng có thể cho vay để
mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Cho vay luân chuyển rất
thuận tiện cho các khách hàng, thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho
nhiều lần vay. Loại hình cho vay này thường được áp dụng đối với các doanh
nghiệp thương nghiệp, doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày,
có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.
Cho vay thấu chi
Là nghiệp vụ cho vay, trong đó ngân hàng cho phép người vay được chi
vượt số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong
khoảng thời gian xác định. Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng
không phù hợp về thời gian và quy mô. Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng
đối với khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
1.1.2.5. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Cho vay tuần hoàn
Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng vay và
trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng bằng cách sử
dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản
vãng lai.
Cho vay trả góp
Là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc
làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Lúc đó việc hoàn trả
không phải là một lần duy nhất như trong trường hợp khoản cho vay trả một
lần. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với khoản vay trung và dài
hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc tài sản lâu bền. Số tiền và thời gian hoàn
trả được tính sao cho phù hợp với khả năng hoàn trả của khách hàng. Trong
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cho vay trả góp đối tượng cho vay thông thường là người có thu nhập ổn định,
thức trả góp có thể được tính bằng một trong những phương pháp sau đây:
Trả đều: Ngân hàng sẽ thỏa thuận với khách hàng và tính toán một cách
phù hợp rồi thống nhất với khách hàng hàng tháng phải trả cho ngân hàng một
khoản cố định đến hết thời gian vay. Như vậy, khách hàng luôn luôn phải trả
một khoản tiền cố định từ đợt trả đầu tiên cho đến lần cuối cùng. Để làm
được, ngân hàng căn cứ vào mức lãi suất, thời gian cho vay và số tiền cho vay
để đưa ra cụ thể số tiền mà mỗi tháng người vay phải nộp.
Trả không đều: Phương thức thanh toán này bao gồm nhiều hình thức
khác nhau. Ví dụ như thanh toán nợ gốc từng kỳ, trả đều, lãi trả hàng tháng;
nhưng lãi suất thanh toán vào đầu mỗi kỳ; gốc và lãi trả hàng tháng. Lãi ở đây
được tính trên số dư nợ thực tế của khoản vay. Thực chất các hình thức trả
khác nhau này chỉ là thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng sao cho phù
hợp với khả năng trả nợ của người vay.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động cho vay trả góp
Đối tượng
Đối tượng cho vay của ngân hàng phải là những cá nhân, tổ chức có đầy
đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Xuất phát từ nhu cầu đi vay
của các chủ thể mà đối tượng của cho vay trả góp tập trung chủ yếu là các cá
nhân, hộ gia đình có thu nhập cao hoặc các hãng kinh doanh có tình hình tài
chính lành mạnh, khả năng trả nợ tốt nhất.
Mục đích
Hoạt động cho vay trả góp của ngân hàng xuất hiện nhằm mục đích đáp
ứng nhu cầu chi tiêu của khách hàng khi mà nhu cầu và thu nhập không xuất
hiện cùng một lúc. Nhu cầu chi tiêu đó có thể là mua nhà để ở, mua ô tô phục
vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc doanh nghiệp phục vụ cho nhu cầu đi lại, công
việc, hay đơn giản hơn là mua sắm các đồ dùng gia đình… Mục đích của
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
những khoản vay này thường rất cụ thể và rõ ràng, do đó nó cũng được ngân
hàng đáp ứng nhanh chóng và dễ dàng hơn các khoản vay khác.
Cũng như nhiều hình thức cấp tín dụng khác, cho vay trả góp cũng cần
có tài sản bảo đảm..Thường tài sản đó chính là tài sản hình thành từ vốn vay
của ngân hàng. Tuy nhiên, tài sản đó cũng có thể là tài sản độc lập thuộc sở
hữu của khách hàng hoặc của bên thứ ba. Tài sản này giúp ngân hàng hạn chế
được rủi ro cho mình trong trường hợp có tình huống xấu xảy ra đối với
khoản vay.
Lợi nhuận thu được
Với tính chất của vay trả góp các khoản cho vay trả góp chủ yếu là các
khoản cho vay trung và dài hạn. Bên cạnh đó, do tiềm ẩn tính rủi ro cao nên
mức lãi suất mà khách hàng phải chịu là không nhỏ, đây chính là biện pháp
ngân hàng áp dụng nhằm hạn chế rủi ro. Trong trường hợp khách hàng không
thanh toán gốc và lãi khi đến kỳ thanh toán sẽ phải chịu một mức lãi phạt rất
lớn (150%) so với mức lãi suất trong hợp đồng. Hoạt động này tỏ ra rất hiệu
quả nên mức lợi nhuận mà ngân hàng thu về là rất lớn.
Với những đặc điểm trên, cho vay trả góp đã tỏ ra là hoạt động rất có ưu
thế trong các loại hình cho vay của ngân hàng. Do phù hợp với nền kinh tế,
hiện nay cho vay trả góp đang chiếm tỷ lệ lớn trong doanh số cho vay của
ngân hàng, đặc biệt là trong cho vay tiêu dùng. Tuy lợi nhuận mà các món
cho vay trả góp mang về cho ngân hàng là rất lớn, song nó cũng có chi phí
khá cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do vậy, đòi hỏi cán bộ tín dụng cần quản lý
chặt chẽ và linh hoạt trong suốt quá trình cho vay để tránh những rủi ro đáng tiếc
có thể xảy ra cho ngân hàng.
1.2.3. Vai trò của hoạt động cho vay trả góp
Đối với ngân hàng
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính. Trước khi trở thành
người cho vay, bản thân ngân hàng phải đi vay tiền của các cá nhân và tổ
chức trong xã hội. Song song với nỗ lực huy động vốn đó, các ngân hàng
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thương mại còn cố gắng tối đa trong việc cấp tín dụng cho các cá nhân trong
Tổng thu nhập
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ứng. Chúng ta có thể thấy được rất rõ lợi ích của người tiêu dùng trong
phương thức cho vay mua nhà trả góp. Để có thể có đủ tiền mua một ngôi
nhà, một cá nhân có thể sẽ phải lao động và làm việc chăm chỉ trong một thời
gian dài, thậm chí có thể đến khi về già mới có thể tiết kiệm đủ. Đến lúc đó
thì độ thoả dụng đối với sản phẩm đã giảm đi rất nhiều. Do vậy, ngân hàng
với hoạt động cho vay trả góp sẽ giúp khách hàng kết hợp được cả nhu cầu
hiện tại và khả năng thanh toán trong tương lai.
Với hoạt động cho vay trả góp của ngân hàng, các cá nhân có thể thoả
mãn nhu cầu tiêu dùng của mình trong khi các doanh nghiệp có thêm sự lựa
chọn nguồn tài trợ để phát triển hoạt động kinh doanh. Hơn nữa, việc mở rộng
hoạt động cho vay trả góp của ngân hàng còn làm cho lượng tiêu thụ sản
phẩm và dịch vụ tăng lên, doanh thu của các ngành, các doanh nghiệp theo đó
cũng tăng lên. Từ đó thúc đẩy việc mở rộng sản xuất, tạo ra sự cạnh tranh
khiến các hãng, các danh nghiệp luôn phải tìm cách nâng cao chất lượng và
đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ. Và cuối cùng, người hưởng lợi không ai
khác lại chính là khách hàng.
Mặc dù cho vay trả góp giúp khách hàng có thể được hưởng những tiện
ích trước khi tích luỹ đủ tiền, đặc biệt trong những trường hợp cá nhân có các
chi tiêu cấp bách như nhu cầu chi tiêu cho giáo dục, y tế. Tuy nhiên, nếu lạm
dụng có thể sẽ làm người đi vay chi tiêu vượt mức cho phép, làm giảm khả
năng tiết kiệm hoặc chi tiêu trong tương lai, gây ảnh hưởng tới cuộc sống của
họ sau này.
Đối với nền kinh tế
Như đã nói ở trên, cho vay trả góp thúc đẩy tiêu dùng, kích thích doanh
nghiệp tăng gia sản xuất thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Đối với các ngành kinh tế, việc mở rộng hoạt động cho vay trả góp của
ngân hàng đồng nghĩa với việc kích cầu, tăng sức mua tạo nên sự sôi động
cho thị trường và tạo ra sự thịnh vượng chung cho nền kinh tế. Ngoài ra, việc
Dư nợ
CVTG
năm nay
Dư nợ
CVTG
năm trước
Doanh số thu nợ
CVTG năm nay
Doanh số
CVTG năm
nay
= + -
Tỷ trọng thu nhập từ
CVTG
=
Thu nhập từ CVTG
Tổng thu nhập
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chỉ tiêu cơ bản và quan trọng nhất làm căn cứ cho việc đánh giá hoạt động
cho vay trả góp. Chỉ tiêu này càng cao thể hiện hoạt động cho vay trả góp của
ngân hàng càng mở rộng.
Tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay trả góp
Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng tín dụng, độ rủi ro trong cho vay trả
góp của ngân hàng. Một ngân hàng thường không tránh khỏi việc gặp phải rủi
ro nợ quá hạn, có thể do tình hình tài chính không lành mạnh của khách hàng
vay dẫn đến việc trả nợ không đầy đủ hoặc không đúng hạn, hay do khách
hàng cố tình không thanh toán khi đến hạn. Do đó, hoạt động cho vay của
ngân hàng được coi là mở rộng và hiệu quả khi có tỷ lệ nợ quá hạn nằm trong
giới hạn cho phép và phải thấp hơn kỳ trước.
Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay trả góp trong tổng thu
trong ngành cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động cho vay trả góp của
ngân hàng. Các ngân hàng lớn có tiềm lực vốn mạnh, thị trường lớn, và mối
quan hệ lâu đời với khách hàng. Trong một môi trường cạnh tranh mạnh mẽ
và khốc liệt như hiện nay, trong quá trình phát triển của mình mỗi ngân hàng
đều phải xác định được chỗ đứng của mình trong ngành để có những chiến
lược phát triển đúng đắn.
• Môi trường kinh tế
Nhân tố có tác động rất lớn đến hoạt động cho vay nói chung và hoạt
động cho vay trả góp nói riêng là môi trường kinh tế. Cho vay trả góp phụ
thuộc rất lớn vào mức thu nhập thường xuyên của người dân và sự phát triển
của các doanh nghiệp. Nếu nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định, đời sống
dân cư tăng lên, thu nhập của người dân được cải thiện, dẫn đến nhu cầu tiêu
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dùng và hưởng thụ của người dân tăng lên bởi họ có thể yên tâm vào mức thu
nhập trong tương lai. Hoạt động cho vay trả góp của ngân hàng thương mại
nhờ đó sẽ có cơ hội phát triển mạnh. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy
thoái, mất ổn định, người dân sẽ hạn chế nhu cầu chi tiêu mà chỉ duy trì một
mức sống bình thường, các doanh nghiệp không thể tăng cường hay mở rộng
quy mô hoạt động. Do vậy, môi trường kinh tế có ảnh hưởng không nhỏ tới
hoạt động cho vay trả góp của ngân hàng.
• Môi trường văn hoá xã hội
Phong tục tập quán, bản sắc dân tộc đều ảnh hưởng nhất đinh từ hoạt
động cho vay. Trình độ văn hoá cũng như phong tục tập quán, bản sắc
dân tộc cũng đều có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động cho vay trả
góp. Mỗi xã hội đều có những nét đặc thù về văn hoá riêng biệt, nó
cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nhu cầu tiêu dùng và hưởng thụ của
dân cư. Điều đó ảnh hưởng hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp tới những nhu
cầu tiêu dùng và hưởng thụ hiện đại hơn của các cá nhân hay doanh
nghiệp. Từ đó cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng.
Chiến lược phát triển là yếu tố không thể thiếu của mỗi ngân hàng, khi
không có định hướng rõ rang trong việc phát triển hoạt động cho vay,không
có các chính sách phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý cho hoạt động này thì
chắc chắn ngân hàng đó không thể hoạt động có hiệu quả như mong muốn.
Chẳng hạn một ngân hàng với định hướng phát triển các dịch vụ ngân hàng
bán buôn, thì sẽ tập trung chủ yếu vào các đối tượng khách hàng là các doanh
nghiệp lớn, các tổng công ty, các tập đoàn và các dự án từ phía chính phủ. Từ
đó, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cũng tập trung thoả mãn nhu cầu của
các đối tượng này. Khi đó, hoạt động ngân hàng sẽ đem lại hiệu quả cao hơn.
Hoặc những ngân hàng có chiến lược bán lẻ thì khách hàng chính của họ là
những doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng từ đó đưa ra được những chiến lược
thích hợp đáp ứng yêu cầu của họ.
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Chính sách của ngân hàng
Chính sách ngân hàng luôn xuyên suốt quá trình hoạt động của ngân
hàng. Không chỉ hoạt động cho vay trả góp mà tất cả các hoạt động khác của
ngân hàng đều chịu sự chi phối trực tiếp từ những văn bản pháp quy, quy
trình, quy chế… của chính ngân hàng đó. Mỗi ngân hàng đều có một chính
sách tín dụng riêng bao gồm mức cho vay, lãi suất, thời hạn, tài sản đảm
bảo… Một chính sách tín dụng hợp lý của ngân hàng với các phương thức trả
nợ gốc và lãi linh hoạt, mức lãi suất hợp lý, thời hạn cho vay thích hợp, đáp
ứng đa dạng nhu cầu của khách hàng thì chắc chắn sẽ thu hút được nhiều
khách hàng đến vay. Từ đó, ngân hàng sẽ dễ thành công hơn trong mọi hoạt
động của mình. Tuy nhiên, nếu chính sách tín dụng của ngân hàng không hợp
lý, cứng nhắc, không chú ý đến nhu cầu của khách hàng sẽ hạn chế cho vay,
giảm tính cạnh tranh trong hoạt động của ngân hàng.
• Chất lượng hoạt động của nhân viên tín dụng
Thái độ phục vụ khách hàng, trình độ nghiệp vụ và khả năng thẩm định
ban đầu đối với khách hàng là yếu tố phản ánh chất lượng của nhân viên tín
(VPBANK)
2.1. KHÁI QUÁT VỀ VPBANK
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của VPBank
Lịch sử hình thành
Ngân hàng Thương mại Cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh
Việt Nam được thành lập theo Giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm 1993 với
thời gian hoạt động 99 năm. Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày 04 tháng 9
năm 1993 theo Giấy phép thành lập số 1535/QĐ-UB ngày 04 tháng 09 năm
1993.
Các chức năng hoạt động chủ yếu của VPBank bao gồm: Huy động vốn
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, từ các tổ chức kinh tế và dân cư; Cho vay vốn
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các tổ chức kinh tế và dân cư từ khả
năng nguồn vốn của ngân hàng; Kinh doanh ngoại hối; chiết khấu thương
phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá khác; Cung cấp các dịch vụ giao dịch
giữa các khách hàng và các dịch vụ ngân hàng khác theo quy định của NHNN
Việt Nam.
Vốn điều lệ ban đầu khi mới thành lập là 20 tỷ VND. Sau đó, do nhu cầu
phát triển, theo thời gian VPBank đã nhiều lần tăng vốn điều lệ. Đến tháng
8/2006, vốn điều lệ của VPBank đạt 500 tỷ đồng. Tháng 9/2006, VPBank
nhận được chấp thuận của NHNN cho phép bán 10% vốn cổ phần cho cổ
đông chiến lược nước ngoài là Ngân hàng OCBC - một Ngân hàng lớn nhất
Ngô Thanh Tùng Lớp: TCDN 46A