Ứng dụng công nghệ trong kinh doanh du lịch - Pdf 78

A – LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của
nhân loại. Du lịch ngày càng đa dạng, phong phú và đòi hỏi được thoả mãn ở mức
độ cao hơn trước rất nhiều. Đây là một “ngành công nghiệp không khói” đem lại
nguồn lợi nhuận khổng lồ, là “con gà đẻ trứng vàng” cho bất cứ quốc gia nào có
được nền du lịch phát triển. Ngành du lịch đã, đang và sẽ đem lạ những nguồn thu
khổng lồ cho ngân sách quốc gia, nguồn thu này chiếm tỉ trọng không nhỏ trong việc
đóng góp vào GNP cho nước nhà. Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng về du lịch
rất lớn. Nhận định được điều đó và cơ hội có thể phát triển được du lịch ở Việt Nam,
chính phủ Việt Nam coi ngành du lịch là một ngành kinh tế quan trọng cần được
quan tâm hàng đầu. Vào nửa cuối của thập niên 90 cùng với sự thay đổi cơ cấu nền
kinh tế (chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường nhiều thành phần), hàng
loạt chính sách mở cửa được áp dụng thì ngành du lịch Việt Nam cũng thực sự bắt
đầu chuyển mình. Thêm vào đó lại được chính phủ ưu tiên bằng những chính sách
quan trọng như là ban bố những điều khoản nhằm tạo điều kiện cho du lịch phát
triển. Ngoài ra, công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ngành du
lịch nước nhà. Đứng trước sự phát triển đến chóng mặt của các nước tiên tiến trên
thế giới, ngành du lịch Việt Nam phải làm gì để theo kịp thời đại. Với đề tài nghiên
cứu: “ Sự phát triển của công nghệ và ứng dụng trong kinh doanh du lịch.” Nhóm
chúng tôi sẽ cung cấp đến cho các bạn những thông tin tổng hợp nhất về những vấn
đề liên quan đến công nghệ, thực trạng ứng dụng công nghệ trong kinh doanh du lịch
ở Việt Nam hiện nay và xin đề suất ra một số giải pháp nâng cao ứng dụng công
nghệ trong kinh doanh du lịch trong thời gian tới.
1
B – NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Một số vấn đề liên quan đến công nghệ
1.1 – Khái niệm công nghệ
Cũng như một số vấn đề khác liên quan đến hiện thực của đời sống xã hội,
khó có một cách trả lời nào bao hàm đầy đủ và chính xác về thuật ngữ công nghệ.
Phụ thuộc vào quan điểm, mức độ quan tâm người ta có những cách giải đáp khác
nhau. Xuất phát từ một số tài liệu khoa học chúng tôi xin đưa ra một số khái niệm về

Các lĩnh vực công nghệ chính
Các lĩnh vực công nghệ chính

Khoa học ứng dụng
Khảo cổ học · Trí thông minh nhân tạo · Kỹ thuật
gốm · Công nghệ máy tính · Điện tử · Năng
lượng · Dự trữ năng lượng · Vật lý kỹ thuật ·
Khoa học kỹ thuật môi trường · Công nghệ môi
trường · Khoa học Fisheries · Khoa học vật liệu ·
Công nghệ micro · Công nghệ nano · Công nghệ
hạt nhân · Kỹ thuật quang học · Vật lý hạt ·
Động vật học

Thông tin
Công nghệ thông tin · Đồ họa · Công nghệ truyền thông ·
Nhận dạng giọng nói · Công nghệ nghe nhìn · Phân loại
học · Thông tin

Công nghiệp
Xây dựng · Financial engineering · Đánh cá · Công nghệ
công nghiệp · Sản xuất · Chế tạo máy · Khai khoáng ·
Thông tin kinh doanh
3

Quân sự
Đạn dược · Bom · Kỹ thuật đánh trận · Kỹ thuật quân sự ·
Công nghệ và thiết bị quân sự · Kỹ thuật thủy quân

Dân dụng
Công nghệ giáo dục · Dụng cụ gia đình · Công nghệ dân

và cũng là kẻ trực tiếp sử dụng công cụ. Năng lượng cơ bắp của con người trong giai
đoạn này được khai thác triệt để
- Giai đoạn thứ hai: gắn liền với việc sử dụng rộng rãi công nghệ cơ khí thủ
công như cày, bừa, cuốc, xẻng, búa, rìu… Tiến bộ kỹ thuật nổi bật trong giai đoạn
này là lĩnh vực động lực: phát triển cối xay nước, cối xay gió, sử dụng sức kéo gia
súc, kỹ thuật thủy lợi kỹ thuật sợi, dệt, hàng hải nhờ hệ thống cơ khí thủ công này
mà nông nghiệp đã phát triển mạnh: chăn nuôi, trồng trọt, một số ngành thủ công
như dệt, đồ gốm, đúc đồng, các ngành hàng hải, thương mại …phát triển mạnh, thị
trường bắt đầu hình thành, điển hình là con đường tơ lụa Đông - Tây xuyên qua Tây
Tạng, các nhà thám hiểm tìm ra các châu lục mới. Năng lượng chủ yếu mà công
nghệ trong giai đoạn này khai thác và sử dụng là năng lượng cơ bắp của con người,
sức kéo của gia súc, sức nước, sức gió và đặc biệt là đất đai. Trong sự phát triển của
công nghệ trong giai đoạn này đã có sự tham gia của thành phần kỹ thuật – trang
thiết bị máy móc (giữ vai trò cốt lõi ), thành phần con người và thành phần thông tin
(mới ở trình độ tiêng nói và chữ viết nên còn rất hạn chế ). Thành phần công nghệ
cũng đã có nhưng chưa rõ ràng. Đó là một đặc trưng cơ bản của nền sản xuất nông
nghiệp trong giai đoạn văn minh nông nghiệp.
- Giai đoạn thứ ba và tứ tư: được bắt đầu từ sự ra đời của động cơ máy hơi
nước (cuối thế kỷ XVIII). Đây là giai đoạn thông trị của công nghệ cơ khí máy móc
với các nấc thang phát triển cao dần của trình độ công nghệ như cơ khí hóa, điện khí
hóa, hóa học hóa, tự động hóa ở trình độ thấp. Nguồn năng lượng chính của sự biến
đổi công nghệ trong giai đoạn này chủ yếu là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như
các loại khoáng sản dầu mỏ, than đá, khí thiên nhiên… Phải qua các quá trình khai
thác, chế biến, chế tạo mới sử dụng được. Sự phát triển công nghệ ở giai đoạn này đã
5
có mặt đầy đủ bốn thành phần cơ bản: trang thiết bị kỹ thuật, con người, thông tin và
tổ chức quản lý.
- Giai đoạn thứ năm của sự phát triển công nghệ: được bắt đầu từ những
năm 70 của thế kỷ XX với sự ra đời cuả máy tính điện tử thế hệ mới, máy vi tinh,
máy siêu vi tính, và trên cái nền công nghệ đó đã hình thành nên hệ thống công nghệ

tắc (cách mạng công nghệ).
* Ba là, hầu hết các chức năng lao động dần dần được thay thế từ thấp lên cao
(từ lao động chân tay sang lao động trí tuệ) trong quá trình sản xuất dẫn đến sự thay
đổi về căn bản vai trò của con người trong sản xuất, từ chỗ bị lệ thuộc và bị trói chặt
(quan hệ một chiều) vào quá trình sản xuất tiến lên làm chủ và chi phối lại quá trình
sản xuất (quan hệ hai chiều).
* Bốn là, tạo một bước ngoặt trong toàn bộ hệ thống lực lượng sản xuất, nâng
cao đáng kể năng suất và hiệu quả của nền sản xuất xã hội, cũng như tác động một
cách sâu sắc và toàn diện tới các quan hệ kinh tế đối ngoại và mọi lĩnh vực đời sống
xã hội khiến phân công lao động xã hội trong phạm vi quốc gia và quốc tế ngày càng
mở rộng, quan hệ sản xuất ngày càng tiến bộ. Đây là giai đoạn phát triển tiến bộ của
lao động được biến đổi về chất trên cơ sở những tư tưởng mới nhất của KH&CN
cũng như quy luật của các hình thái vận động vật chất khác nhau vừa được phát hiện
Như vậy, trong Thiên niên kỷ thứ ba, từ vị trí đi sau kinh nghiệm ở hai Thiên
niên kỷ đầu, KH&CN đã trở thành động lực phát triển hàng đầu ở nhiều quốc gia
trên thế giới.
Sau khi đưa tư duy con người thâm nhập vào cấp độ thứ tư của vật chất - cấp
dưới mức hạt cơ bản, khoa học đã trở thành lực lượng dẫn đường và là lực lượng sản
xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu hoá. Nền "Khoa học nhỏ" trên quy mô một
nước và lục địa, xuất hiện vào nửa sau Thiên niên kỷ thứ hai, bước sang Thiên niên
kỷ mới, đã trở thành nền "Khoa học lớn", phát triển cực kỳ mạnh mẽ và trên quy mô
toàn cầu, với sự tham gia hợp tác của một đội ngũ đông đảo và hùng hậu của các cán
7
bộ làm công tác nghiên cứu và phát triển, cũng như của các trung tâm nghiên cứu
lớn, phòng thí nghiệm lớn, các nhà khoa học có uy tín của nhiều nước trên thế giới.
Kể từ cuối thế kỷ XX, quá trình toàn cầu hoá KH&CN còn kéo theo sự thay
đổi căn bản về phương thức tổ chức quản lý trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội.
Trên thực tế, cơ cấu tổ chức quản lý nền sản xuất xã hội từ cấu trúc hình tháp đã
chuyển sang cấu trúc hình mạng. Điều đó đã tạo tiền đề chuyển giao nhanh chóng
các kết quả nghiên cứu cơ bản vào phát triển công nghệ và hình thành nên các Hệ

1. Phẫu thuật nội soi
Thập kỷ 80 đánh dấu nhiều thành tựu trong ngành giải phẫu. Phẫu thuật hạn
chế can thiệp của dao hay kéo hay còn gọi là phẫu thuật nội soi ra đòi năm 1987.
Robot phẫu thuật lần đàu tiên cũng được trình làng. Đầu những năm 80 các nhà khoa
học tìm ra tia laser dùng để cắt các mô hữu cơ
2. Phần mềm văn phòng
Phần mềm văn phòng bao gồm chương trình xử lý văn bảng và bảng tính đã
tạo ra những khuôn mẫu cho công việc văn phòng, nâng cao tính hiệu quả và khả
năng xử lý cho người sử dụng. Phần mềm này ra đời trong những năm 1960 và
1970. Visicalc – chương trình bảng tính đầu tiên được sử dụng vào năm 1979.
WordStar cũng xuất hiện năm 1979 và trở thành chương trình xử lý văn bản phổ
biến nhất vào đầu thập kỷ 80
3. Sợi quang học
Những nghiên cứu về sợi quang học đã được biết đến từ những năm
1800 nhưng phải đến thập kỷ 70 thì sợi quang mới đủ chất lượng để sử dụng trong
các ứng dụng truyền thông.Sợi quang nhanh chóng trở thành vật liệu ưu tiên trong
viễn thông và mạng truyền dẫn nhờ khả năng kéo dài ít cần sử dụng mối nối và tốc
độ truyền tín hiệu lên đến trên 100 Gigabyte/giây.
4. Bộ vi xử lý
9
Bộ vi xử lý đầu tiên được ứng dụng vào thập kỷ 70 cho máy tính toán. Đến
cuối thập kỷ 70 bộ vi xử lý dẫn đường cho sự phát triển của máy vi tính cá nhân. Kể
từ đó ,kích cỡ của bộ vi xử lý càng được thu nhỏ trong khi khă năng xử lý càng
tăng,và thành tựu công nghệ đó làm thay đổi thế giới.
5. Máy chụp cộng hưởng từ (MRI)
Năm 1977, nguyên mẫu của máy chụp cộng hưởng từ lần đầu tiên thực hiện
việc quét toàn cơ thể người. Tuy nhiên ,phải đến cuối những năm 1990 công nghệ
MRI mới trở nên phổ biến, xuất hiện rộng rãi trong các bênh viện và phòng khám.
6. Chuỗi AND/ Bản đồ gene người
Cấu trúc AND được watson và Crick phát hiện ra năm 1953, nhưng phải đến

b.Tiêu cực
- Một trong những hậu quả tiêu cực nhất mà cuộc cách mạng khoa học công
nghệ đem lại có thể nói là về cơ bản đã tàn phá môi trường sinh thái. Bằng vũ khí
khoa học, công nghệ, kỹ thuật trong tay con người đã chinh phục thiên nhiên bằng
bất cứ giá nào để mang lại lợi ích nhiều nhất, nhanh nhất cho con người và cho xã
hội, bất chấp những quy luật tồn tại và phát triển của tự nhiên. Và cái gì phải đến
cũng đến, ở khắp nơi từ mặt đất, tầng khí quyển, tầng ozon, từ đồng bằng đến rừng
núi, từ sông ngòi ao hồ đến biển cả… tự nhiên đang “trả thù” con người. Đó là nạn
cạn kiệt các nguồn tài nguyên như đất, nước các loại khoáng sản mà cuộc khunhr
hoảng dầu hỏa vào những năm 70 của thế kỷ XX và vào năm 2000 là một trong
những hiện tượng tiêu cực điển hình. Nạn ô nhiễm môi trường sinh thái lại càng
khủng khiếp hơn mà nguyên nhân gây ra là bởi các chất thải độc hại của nền sản
xuất xã hội, bởi việc lạm dụng các hóa chất trong sản xuất nông nghiệp, bởi năng
lượng hạt nhân, bởi các loại vũ khí chiến tranh (chất độc hoá học, vi trùng…)
- Trong thời đại công nghệ thông tin, an ninh quốc gia trở nên mong manh, dễ
tổn thương hơn bao giờ hết trước sự tấn công của vũ khí thông tin. Vũ khí thông tin
11
được hiểu là những sản phẩm phần mềm của công nghệ thông tin - thực chất là
những virus máy tính mang tính phá hoại và bằng nhiều con đường thâm nhập vào
máy tính đối phương. Với việc nối mạng Internet toàn cầu vũ khí thông tin đã tạo
nên mối đe dọa nguy hiểm, trực tiếp cho nền an ninh quân sự của tất cả các quốc gia.
- Công nhệ thông tin cũng đang can thiệp sâu sắc vào an ninh xã hội của từng
quốc gia và cả quyền tự do cá nhân. Thông qua mạng lưới truyền thông hiện đại, qua
mạng máy tính toàn cầu, các nước có công nghệ thông tin tiên tiến, tiến hành việc
thẩm thấu văn hóa, tuyên truyền chế độ xã hội, lối sống thực dụng, không lành
mạnh… hoặc tuyên truyền những lập trường đối địch gây nhiễu loạn đối với hệ
thống tin tức chính trị, xã hội của quốc gia đối lập, gây nên xung đột dân tộc, sắc
tộc,tôn giáo, kích động những hoạt động chính trị phá hoại của quần chúng, khơi dậy
những mâu thuẫn xã hội, từ đò tạo ra những đe dọa an ninh xã hội của nước đó.
- Cùng với sự phát triển vệ tinh và công nghệ vũ trụ, lãnh thổ, lãnh hải, vùng

trong những năm gần đây thì trình độ công nghệ nước ta còn ở trình độ thấp và lạc
hậu so với khu vực và thế giới. So với các nước công nghệ tiên tiến nhất hiện nay,
công nghệ của Việt Nam khoảng 50 đến 100 năm. Xét về trang thiết bị kỹ thuật của
nước ta so với mức tiên tiến trung bình lạc hậu từ 2 - 3 thế hệ, hoặc từ 5 - 6 thế hệ
tùy theo từng lĩnh vực chuyên ngành. Hệ số cơ giới hóa trong lĩnh vực sản xuất công
nghiệp của Việt Nam chỉ đạt 50% so với thế giới, tức là còn ở giai đoạn đầu của cơ
giới hóa, tỷ lệ tự động hóa không đáng kể, nhiều khâu lao động trong công nghiệp
vẫn còn thủ công. Còn trong sản xuất nông nghiệp số người tham gia rất lớn với
khoảng 70% lao động cả nước nhưng cho đến nay chủ yếu vẫn là lao động thủ công
và bán cơ giới, vẫn sử dụng những công cụ thô sơ như cày bừa, liềm hái, cuốc,
thuổng… Đặc biệt ở vùng sâu vùng xa. Tuy công nghệ của ta về cơ bản còn lạc hậu
nhưng hệ số đổi mới công nghệ của ta lại quá chậm chạp, trung bình hàng năm chỉ
đạt từ 8 - 10% nghĩa là phải mất hơn một thập niên ta mới thay được một thế hệ
13
trang thiết bị máy móc mới. Trong khi nhiều nước trong khu vực tốc độ đổi mới
công nhệ nhanh gấp đôi. Với tốc độ đổi mới công nghệ như thế này thì khoảng cách
lạc hậu của công nghệ nước ta so với các nước trong khu vực càng ngày càng xa
hơn. Đây là điều báo động rất đáng lo ngại. Không chỉ tốc độ đổi mới công nghệ
chậm mà cả hệ số sử dụng các trang thiết bị máy móc ở nước ta hiện nay cũng còn
rất thấp chỉ mới đạt khoảng 25 - 30%. Mức tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu trên một
đơn vị sản phẩm còn quá lớn (thường gấp 1,5 - 2 lần so với thế giới ) vì vậy giá
thành sản phẩm cao, sức cạnh tranh kém.
Đặc điểm nổi bật của sự phát triển hiện nay ở nước ta là tính phức tạp , đan
xen, chắp vá. Trong một số lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, kinh doanh chúng ta nhập
một số trang thiết bị hiện đại không thua kém gì nhiều nước trong khu vực, như
trong lĩnh vực bưu chính viễn thông chúng ta đã có những bước tiến khá dài. Trong
khi đó chúng ta vẫn còn sử dụng rộng rãi, phổ biến các công cụ thô sơ lạc hậu đặc
biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay đông đảo về số lượng, trẻ trung nhưng còn
nhiều hạn chế về chất lượng và số người được đào tạo trong các ngành nghề sản xuất

bình tương ứng là 14 máy tính, 5 máy in, 2 máy fax cho mỗi doanh nghiệp. Ngạc
nhiên hơn là có doanh nghiệp vẫn chưa có máy fax hay tổng đài điện thoại.
- Việc sử dụng phần mềm: tương tự như phần cứng, khảo sát chỉ ra rằng tình
trạng sử dụng phần mềm ở các doanh nghiệp còn rất sơ khai, chưa đến 25% các đơn
vị sử dụng phần mềm quản lý như quản lý tiền sảnh và quản lý nhà hàng. Các phần
mềm được sử dụng phổ biến nhất là các phần mềm văn phòng của Microsoft -79%,
sau đó là sử dụng các ứng dụng Internet cơ bản như lướt ưeb hay thư điện tử -70%.
Các công cụ quản lý phổ biến như phần mềm kế toán - 60% hay phần mềm quản lý
cước điện thoại -62%.
Theo Hiệp hội Du lịch Việt Nam, mức độ sẵn sàng cho việc ứng dụng và phát
triển công nghệ thông tin của ngành du lịch hiện đứng thứ tám trong 26 bộ, ngành
15
trên cả nước. Điều này cho thấy nhận thức của các doanh nghiệp du lịch trong việc
ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động kinh doanh là tương đối cao. Theo
thống kê, đến nay 100 % doanh nghiệp đều đã trang bị máy tính, nối mạng Internet
và ứng dụng những phần mềm chuyên dụng như quản trị văn phòng, tài chính…
Tuy nhiên, đi sâu vào thực tế ứng dụng thì vẫn còn nhiều bất cập và chưa thật
sự chuyên nghiệp để có thể tận dụng được ưu thế của công nghệ thông tin. Theo điều
tra của VCCI, hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành du lịch vẫn còn
ở mức sơ khai. Cả nước hiện có gần 6.000 khách sạn và cơ sở lưu trú lớn nhỏ, nhưng
chỉ có khoảng 300 đơn vị sử dụng dịch vụ đặt phòng qua mạng. Đa số doanh nghiệp
đều có trang web nhưng chưa tận dụng được các chức năng thương mại của nó để
giao dịch với khách hàng, nhận đặt phòng, thanh toán qua mạng..., thậm chí nhiều
doanh nghiệp chưa biết cách quảng bá trang web của mình như thế nào cho có hiệu
quả.
Trong khi các “đại gia” khách sạn, khu nghỉ dưỡng (resort) liên doanh hoặc
các hãng lữ hành lớn thực sự bắt tay vào triển khai công nghệ thông tin một cách
đồng bộ với hệ thống hiện đại, đạt chuẩn quốc tế và đội ngũ nhân viên chuyên
nghiệp, thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư thiếu tính chuyên nghiệp, chủ yếu
đầu tư cho phần cứng. Phần mềm mới chỉ ở mức soạn thảo văn bản, gửi và nhận e-

tin cậy, giúp người sử dụng đưa ra quyết định lựa chọn địa điểm du lịch,”. Vậy, đã
đến lúc các nhà quản trị doanh nghiệp nên có một chiến lược công nghệ thông tin để
quảng bá tên tuổi của mình ra thế giới.”
Trong khi đó, ông Nguyễn Phú Đức, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam, cho
rằng để việc ứng dụng công nghệ thông tin đạt hiệu quả, ngoài việc kết nối với
khách hàng, các doanh nghiệp phải có sự liên kết với nhau và với cả các cơ quan
quản lý. “Nếu chưa có khả năng tự quảng bá, các doanh nghiệp nên tận dụng trang
web của Tổng cục Du lịch, Hiệp hội Du lịch Việt Nam (hiện dịch vụ này được sử
dụng miễn phí). Như thế vừa tiết kiệm chi phí vừa có hiệu quả,”.
17
2.2 - Hiệu quả thu hút khách du lịch qua mạng internet
Trong thời đại thông tin điện tử, muốn đến một điểm du lịch nào đó, cách tiếp
cận nhanh nhất, sinh động nhất của khách du lịch là thông qua mạng internet.
Nắm bắt được điều này, nhiều điểm du lịch, công ty du lịch đã chú trọng đầu
tư vào việc quảng bá hình ảnh của mình qua mạng internet dưới nhiều hình thức và
thể loại phong phú.
Thị trường khách du lịch nước ngoài đang đến VN ngày càng nhiều và họ tiếp
cận với thông tin du lịch bằng cách nào? Thống kê của Tổ chức du lịch thế giới cho
thấy: khoảng 78% du khách Mỹ (79 triệu người) sử dụng Internet để tìm kiếm thông
tin về các điểm đến, tour du lịch...; trong số đó 82% số người tìm kiếm thông tin về
du lịch qua mạng đã quyết định đặt tour qua mạng. Tại Pháp có tới hơn 50% số
khách du lịch lựa chọn và đặt tour quang mạng Internet....
Còn với châu Á, tổ chức du lịch thế giới cũng đưa ra dự báo: Trung Quốc sẽ
trở thành thị trường du lịch lớn nhất thế giới với hơn 10% số lượt khách du lịch được
hỗ trợ từ Internet. Trong khi đó, thị trường du khách Trung Quốc vào VN luôn đứng
đầu trong vài ba năm trở lại đây; đáng chú ý là lượng khách chi trả cao đang tăng.
Nhiều người có thói quen khi muốn cùng gia đình hay một nhóm bạn đi du
lịch, xác định địa điểm thường lên mạng tìm kiếm thông tin, so sánh giá cả các tour
du lịch rồi mới quyết định đặt chỗ, đặt phòng.
Theo đánh giá của Vụ Thương mại điện tử (Bộ Công Thương), các doanh

Mặc dù vậy, chưa có công ty nào lập trang tiếng Anh một cách chuyên nghiệp
nên khách quốc tế rất khó tiếp cận các sản phẩm du lịch VN và đó cũng là lý do hầu
hết các công ty du lịch VN đang chỉ là đại lý nhận khách cho các hãng du lịch nước
ngoài. Lãnh đạo các công ty du lịch đều khẳng định: kinh doanh du lịch qua Internet
sẽ ngày càng phát triển ở VN.
19
Một thực tế là những người dùng Internet ngày càng nhiều và chủ yếu tại các
thành phố lớn và phần đông là những nhân viên văn phòng, đây là những vị khách
tiềm năng có khả năng chi trả cao và rất hay tìm kiếm thông tin từ mạng.
2.3 - Những lợi ích đáng kể mà công nghệ thông tin mang lai cho ngành du lịch
Ngành du lịch, việc ứng dụng công nghệ thông tin có thể đem lại những tác
động tích cực như :
∗ Tự động hóa một số quá trình kinh doanh chung có ảnh hưởng tới toàn bộ hệ
thống như kế toán, lập kế hoạch quản lý hành chính
∗ Cho phép doanh nghiệp có thể tác động tương tác trong nội bộ, với khách
hàng và nhà cung ứng bên ngoài nhanh hơn rẻ hơn chính xác hơn.
∗ Đem đến cơ hội tái cơ cấu lại một số quy trình quản lý trong doanh nghiệp
và do vậy, cải thiện được tính hiệu quả tổ chức.
∗ Vượt ra ngoài công cụ thư điện tử, CNTT còn tự động hóa các giao dịch các
thành phần tham gia bằng cách cung cấp các giao dịch trực tuyến mở rộng tối đa thị
trường và phát triển dịch vụ của doanh nghiệp.
Mặc dù có thể đem lại những lợi ích như vậy, việc ứng dụng công nghệ thông
tin trong ngành du lịch mới ở mức các cơ bản , chủ yếu là tự phát, đầu tư nhỏ lẻ,
không đồng bộ nên không phát huy được hiệu quả
* Kinh doanh lưu trú
Cuối tháng Bảy vừa qua, khách sạn năm sao Saigon Sheraton đã chính thức
đưa vào sử dụng dịch vụ tiện ích Link@Sheraton với sự hợp tác của Microsoft. Với
hệ thống máy tính được tích hợp công nghệ Microsoft Wi - Fi đa chức năng với thiết
bị Ethernet và Webcam, Link@Sheraton cho phép khách hàng truy cập thông tin, tán
gẫu (chat) hay làm việc với dải băng thông rộng lên đến 6Mb.

“Chúng tôi đang trong quá trình hoàn thành hệ thống đặt phòng trực tuyến,
cho phép khách hàng xác nhận việc đặt phòng trên trang web
www.victorihotels.asia,” Alex Hysbergue, Giám đốc công nghệ thông tin của
Victoria Hotels & Resorts, cho biết.
* Kinh doanh lữ hành
Giống như khách sạn, các công ty lữ hành cũng đang cạnh tranh nhau thông
qua việc phát triển hệ thống bán tour trực tiếp qua mạng và các dịch vụ tiện ích khác.
Theo thông tin từ Công ty Du lịch Vietravel, trong năm 2007, công ty đã đầu
tư khoảng 4 tỷ đồng cho các dự án công nghệ thông tin dài hạn. Một trong số đó là
tiếp tục nâng cấp trang web www.travel.com..vn, mạng bán tour trực tuyến, để tạo
nên một diện mạo mới: trực quan, năng động và thân thiện hơn. Tại trang web này
du khách có thể tham khảo thông tin về tour, tuyến, chương trình khuyến mại, điểm
du lịch, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hóa trong và ngoài nước..
Ông Trần Đoàn Thế Duy, Giám đốc Trung tâm E-tour của Vietravel, cho biết:
“Không cần phải đến trụ sở hay chi nhánh công ty, du khách vẫn có thể đặt, mua
tour và tham khảo thông tin trực tuyến tại trang web này một cách nhanh chóng”.
Thế nên khi mới hoạt động được 30 ngày, www.travel.com.vn đã thu hút được
10..000 phiếu đặt tour trực tuyến và gần 500 lượt khách đi tour. Và chỉ sau gần sáu
tháng, trang web này đã có hơn 400.000 lượt truy cập. Hiện tại, trung bình mỗi ngày
www.travel.com.vn có trên dưới 10.000 lượt truy cập.
Hiện nay, Vietravel cũng đang chuẩn bị hệ thống cơ sở dữ liệu để xây dựng hệ
thống E-office – được xem như là một văn phòng trực tuyến, nhân viên chỉ cần đăng
nhập và khai thác dữ liệu cần thiết từ bất kỳ nơi nào để phục vụ cho công việc.
Một doanh nghiệp lữ hành khác cũng đang rất thành công với việc kinh doanh
thông qua hệ thống mạng trực tuyến là Công ty Dịch vụ lữ hành Saigontourist. Công
ty đã chính thức đưa vào hoạt động trang web www.dulichkhuyenmai.com từ quý 1
năm ngoái. Trang web này tập hợp những thông tin khuyến mại mới nhất về các tour
du lịch trong và ngoài nước, việc thuê xe, việc mua vé máy bay...
22
Du khách cũng có thể tham khảo các nội dung tư vấn về du lịch hoặc gửi câu

sài nên khó thu hút được du khách nước ngoài..
Các doanh nghiệp và nhà quản lý khách sạn cũng cho rằng việc ứng dụng
công nghệ thông tin ở các khách sạn, khu nghỉ dưỡng vẫn chưa xứng tầm. Tim
Russell cho biết việc ứng dụng công nghệ thông tin ở các khách sạn Việt Nam rất
“nghèo” so với thế giới.
“Ở các khách sạn cao cấp trên thế giới, bình quân 30% lượng đặt phòng đến từ
mạng trực tuyến; trong khi ở Việt Nam con số này thậm chí chưa đạt 5%,” ông nói.
Việt Nam “ngôn ngữ công nghệ thông tin” là rất lạc hậu, hầu hết các giải
pháp công nghệ đang phổ biến trên thế giới đều không được khai thác hết công năng,
thì khả năng hoàn vốn đầu tư là rất thấp; hơn nữa, sự lạc hậu này còn đồng nghĩa với
nguy cơ về an ninh mạng.
Một mối lo khác của việc ứng dụng công nghệ thông tin của DN Việt Nam là
tỷ lệ vi phạm bản quyền. Theo IDG, tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm tại Việt
Nam đã giảm từ 92% năm 2003 xuống còn 88% vào năm 2006. Chính phủ Việt Nam
cũng đã thể hiện sự quyết tâm thực hiện các cam kết quốc tế khi gia nhập WTO
thông qua việc ban hành Luật sở hữu trí tuệ từ tháng 7.2006 và Luật CNTT có hiệu
lực từ tháng 1.2007, ký kết nhiều thỏa thuận về việc trang bị phần mềm bản quyền
cho các cơ quan quản lý nhà nước. Nhiều đơn vị, tổ chức Việt Nam đã bắt đầu trang
bị phần mềm bản quyền để phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, không
phải hầu hết các doanh nghiệp đều hiểu rõ phương thức hợp thức hóa bản quyền
phần mềm.
24
Chương 3: Giải pháp nâng cao ứng dụng công nghệ trong kinh
doanh du lịch
3.1 - Ứng dụng những thành tựu công nghệ vào trong kinh doanh du lịch
- Trước tiên để tăng khả năng ứng dụng công nghệ trong kinh doanh du lịch
thì phải ứng dụng công nghệ vào lĩnh vực kinh doanh du lịch đã rồi mới từng bước
tăng khả năng ứng dụng. Khoa học công nghệ phát triển đã cho ra đời nhiều trang
thiết bị, máy móc, công nghệ hiện đại. Các công nghệ hiện đại được ứng dụng rộng
rãi trong các ngành nghề kinh doanh và mang lại hiệu quả rất cao.. Ngành du lịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status