1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HÔ CHÍ MINH
--------------------- TƯỞNG THIỀU NGA
GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ
VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
VCB ĐỒNG NAI LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành : Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 60.31.12
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS BÙI KIM YẾN
TP. HỒ CHÍ MINH – 2009 3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU
GIỚI THIỆU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG
RỦI RO TÍN DỤNG ...............................................................................................1
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG ................................. 12
1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng......................................................................12
2.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VCB…………………………..20
2.2. GIỚI THIỆU VỀ VCB ĐỒNG NAI .................................................................... 32
2.2.1. Quá trình hoạt động và phát triển của VCB Đồng Nai. .........................32
2.2.3. Tình hình hoạt động tín dụng tại VCB Đồng Nai..................................35
2.2.2. Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại VCB Đồng Nai. ............................41
2.2.2.1. Tổ chức công tác quản trị rủi ro tín dụng 41
2.2.2.2. Hoạt động kiểm tra và giám sát tín dụng: 43
2.2.2.3. Chính sách cho vay có đảm bảo. 45
2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DPRR TÍN
DỤNG TẠi VCB ĐỒNG NAI................................................................................. 45
2.3.1. Các văn bản hướng dẫn của VCB TW về một số nội dung liên quan đến
việc thực hiện QĐ 493 và QĐ 18....................................................................45
2.3.2. Quy trình phân loại nợ và trích lập DPRR tín dụng đang áp dụng tại VCB
Đồng Nai............................................................................................................
2.3.2.1. Cập nhật dữ liệu trên hệ thống: 47
2.3.2.2. Đối chiếu kiểm soát dữ liệu hàng ngày. 48
2.3.2.3. Cập nhật dữ liệu về phân loại nợ. 48
2.3.2.4. Đề xuất phân loại nợ, trích lập DPRR tín dụng. 49
2.3.3. Thực trạng kết quả phân loại nợ, trích lập và sử dụng DPRR tín dụng. .51
2.3.3.1. Phân loại nợ và trích lập DPRR tín dụng. 51
2.3.3.2. Sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng 56 5
2.3.3.3. Tình hình thu hồi các khoản nợ đã được xử lý bằng DPRR…………………46
2.3.5. Đánh giá công tác phân loại nợ và trích lập DPRR tín dụng tại VCB
Đồng Nai........................................................................................................61
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ VÀ
TRÍCH LẬP DPRR TÍN DỤNG TẠI VCB ĐỒNG NAI ……………………... 56
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA VCB TRONG THỜI GIAN TỚI ....... 67
Tôi xin cam đoan luận văn này là của riêng tôi, không sao chép của bất kỳ ai.
Số liệu và nội dung trong luận văn là trung thực, được sử dụng từ những nguồn rõ
ràng và đáng tin cậy.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2009.
Tác giả
Tưởng Thiều Nga 7
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT Ký hiệu Diễn giải DANH MỤC BIỂU ĐỒ.
Biểu đồ 2.1: Thị phần cấp tín dụng của các Ngân hàng tại tỉnh Đồng Nai.
Biều đồ 2.2: Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của chi nhánh.
Bảng 2.2: Tình hình dư nợ tín dụng
Bảng 2.3: Cơ cấu dư nợ tín dụng tại VCB Đồng Nai
Bảng 2.4: Phân loại nợ của chi nhánh VCB Đồng Nai
Bảng 2.5: Dư nợ xấu của một số chi nhánh VCB
Bảng 2.6: So sánh chất lượng tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Bảng 2.7: Tình hình trích lập dự phòng
Bảng 2.8 : Danh sách khách hàng được xử lý bằng DPRR tại chi nhánh.
Bảng 2.9: Tình hình thu hồi nợ sau xử lý bằng DPRR của VCB Đồng Nai
Bảng 2.10: Tình hình thu hồi nợ sau xử lý bằng DPRR của các chi nhánh VCB. 9
GIỚI THIỆU 1. Lý do chọn đề tài.
Tại Việt Nam, thu nhập cơ bản của các NHTM vẫn chủ yếu từ hoạt động tín
dụng với nhiều áp lực và rủi ro. Chính vì thế rủi ro từ hoạt động tín dụng là rủi ro
, của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung chủ yếu vào hoạt động của VCB
Đồng Nai giai đoạn 2006- Q1/2009. Lý do của giới hạn phạm vi nghiên cứu như
trên là do Quyết định 493 ra đời từ tháng 4/2005 và bắt đầu thể hiện rõ nét thông
qua kết quả phân loại nợ từ năm 2006. Đặc biệt kể từ khi Quyết định 493 được sửa
đổi, bổ sung bởi Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN. Đây cũng là giai đoạn VCB TW
triển khai quy trình phân loại nợ theo chuẩn mới.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện
chứng và một số phương pháp nghiên cứu khác như: Phương pháp thống kê và mô
tả, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp…..
5. Điểm mới của luận văn.
Trước xu thế hội nhập và quốc tế hóa lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, các
NHTM tại Việt Nam đang nỗ lực học hỏi kinh nghiệm và ứng dụng các mô hình
quản trị rủi ro tín dụng các các ngân hàng nước ngoài để nâng cao khả năng chống
đỡ và phòng ngừa rủi ro tín dụng.
Luận văn trình bày sự cần thiết phải quản trị nghiệp vụ phân loại nợ và trích
lập dự phòng rủi ro tín dụng tại VCB Đồng Nai. Qua quá trình nghiên cứu, tác giả
đóng góp những điểm mới trong đề tài này như sau:
- Đánh giá được những ưu điểm và hạn chế trong công tác phân loại nợ, trích
lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng tại VCB Đồng Nai, tập trung chủ
yếu vào quá trình thực hiện phân loại nợ theo QĐ 493, phân tích được nguyên nhân
phát sinh các khoản nợ xấu cũng như tình hình xử lý và thu hồi nợ xấu tại chi nhánh
trong thời gian qua.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống XHTD nội bộ, một trong
những yêu cầu tiên quyết để có thể thực hiện phân loại nợ theo điều 7 QĐ 493, đồng 11
thời nêu lên một số giải pháp đối với VCB TW nhằm hoàn thiện chương trình hỗ trợ
1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là một trong những chức
năng cơ bản của ngân hàng. Đối với hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam thì hoạt
động tín dụng chiếm hơn ½ tổng tài sản có và thu nhập từ tín dụng chiếm từ ½ đến
2/3 tổng thu nhập của ngân hàng. Tuy vậy, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng lại tập
trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính
khó khăn thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng hiểu một cách chung nhất là loại rủi ro phát sinh trong quá
trình cho vay của ngân hàng, thể hiện qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc
trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Nói một cách khác là người vay đã không
thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo
nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn.
Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả hay rủi ro sai hẹn.
Tuy nhiên cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, là khả năng xảy ra, do
đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù
chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất; một ngân hàng mặc
dù có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng cao nếu tập trung đầu tư
vào một nhóm khách hàng hay một loại ngành nghề. Cách hiểu này giúp cho các
ngân hàng chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo bù đắp tổn thất
khi xảy ra rủi ro.
Về mặt định lượng: rủi ro tín dụng được phản ánh bởi chính số tiền nợ quá
hạn, nợ đọng của mỗi ngân hàng.
Về mặt định tính: rủi ro tín dụng có quan hệ ngược chiều với chất lượng tín
dụng. Theo đó chất lượng tín dụng càng cao thì mức độ rủi ro càng thấp và ngược 13
lại, chất lượng tín dụng thấp, nợ quá hạn cao thì rủi ro tín dụng là rất lớn và có tác
động ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Điều đó giải thích phần nào lý do tại sao các cán bộ thanh tra khi xuống làm
+ Rủi ro tập trung : là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá
nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong
cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc
cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
1.1.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng.
- Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu: Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền
với hoạt động tín dụng. Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động ngân hàng. Các
ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro-lợi
ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro
chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là
hợp lý và kiểm soát được và nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và
năng lực tín dụng của ngân hàng.
- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Rủi ro tín dụng xảy ra sau khi ngân
hàng giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng. Do tình
trạng thông tin bất cân xứng nên thông thường ngân hàng ở vào thế bị động, ngân
hàng thường biết thông tin sau hoặc biết thông tin không chính xác về những khó
khăn thất bại của khách hàng và do đó thường có những ứng phó chậm trễ.
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng, phức tạp: Đặc điểm này thể hiện ở sự
đa dạng, phức tạp của nguyên nhân gây ra rủi ro ro tín dụng cũng như diễn biến sự
việc, hậu quả khi rủi ro xảy ra.
1.1.4. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Nhận diện được những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng giúp ngân hàng
chủ động hơn trong công tác phòng ngừa rủi ro.
1.1.4.1. Nguyên nhân khách quan:
- Rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng: 15
Trong hoạt động kinh doanh những tai hoạ và rủi ro do thiên tai nhiều khi
quá lớn mà con người đành bó tay. Ví dụ: đầu tư trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi
- Rủi ro từ phía khách hàng: Nguyên nhân từ phía người đi vay là một trong
những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Thông thường loại
rủi ro này bao gồm:
Rủi ro trong kinh doanh của người đi vay: Rủi ro kinh doanh của doanh
nghiệp được thể hiện ở mức độ biến động ít hay nhiều theo chiều hướng xấu của kết
quả kinh doanh. Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra nếu việc xây
dựng và triển khai các phương án, dự án đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp không khoa học, việc dự toán chi phí và xác định mức sản lượng không phù
hợp. Các thiệt hại doanh nghiệp phải gánh chịu do sự biến động của thị trường cung
cấp, thị trường tiêu thụ...
Rủi ro tài chính: Rủi ro tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở các doanh
nghiệp không thể đối phó với các nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay cho chủ nợ.
Rủi ro tài chính diễn ra cùng với mức độ sử dụng nợ, nó gắn liền với cơ cấu tài
chính doanh nghiệp. Rủi ro này thể hiện ở việc doanh nghiệp sử dụng không hợp lý
nguồn vốn vay, dùng nguồn vốn vay trung dài hạn phục vụ cho các nhu cầu đầu tư
vốn lưu động dẫn đến mất cân đối tài chính, mất khả năng chi trả. Đây là loại rủi ro
thường gặp ở một số doanh nghiệp trong thời gian vừa qua.
Nhìn chung đối với các nguyên nhân này ngân hàng có thể xác định được
thông qua quá trình tìm hiểu, nắm vững “tình hình sức khỏe của khách hàng” cả
trước, trong và sau khi cho vay, tìm hiểu mục đích sử dụng tiền vay và hiệu quả của
phương án sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác thuộc về khách hàng vay như khách
hàng sử dụng vốn sai mục đích, hoặc khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng như lập
hồ sơ giả, làm giả giấy tờ tài sản thế chấp để vay tiền ngân hàng....Nội bộ khách
hàng không đoàn kết nhất trí, tồn tại mâu thuẫn trong công tác quản lý cũng khiến
cho hoạt động bị ngừng trệ, sản xuất bị đình đốn, không có tiền trả nợ ngân hàng.
1.1.4.1. Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng
- Do sự yếu kém trong công tác điều hành quản trị.
18
cho vay. Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách
chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm
quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung. Tuy
nhiên, trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này. Điều này do
một phần yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng,
một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh của các khách hàng quá
lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu.
- Rủi ro do nhân viên ngân hàng thái hoá về đạo đức, biến chất, tư lợi:
Một số trường hợp cán bộ tín dụng hoặc lãnh đạo ngân hàng cấu kết với
khách hàng, xảy ra những tiêu cực trong cho vay thì thì nguy cơ xảy ra rủi ro đối
với món vay đó là rất cao. Không phải do trình độ năng lực yếu kém, không đủ sức
thẩm định độ tin cậy của dự án hay phương án xin vay mà do tư lợi, đạo đức phẩm
chất của một số cán bộ ngân hàng có chiều hướng thái hoá biến chất. Mặc dù luật
pháp, quy chế nghiệp vụ và những ràng buộc khác có chặt chẽ đến đâu họ vẫn tìm
cách vi phạm và rủi ro xảy ra.
Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ
NHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm
giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút
tiền ngân hàng. Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố quan trọng để giải quyết
vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng. Cán bộ tín dụng kém về năng lực có thể bồi dưỡng
thêm, nhưng cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô
cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng
1.1.5. Thiệt hại từ rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động của các chủ thể tham gia
quan hệ tín dụng. Khi khách hàng vay gặp rủi ro, họ phải đối mặt với việc mất khả
năng chi trả và thậm chí là phá sản. Với ngân hàng, khi xảy ra thất thoát vốn từ rủi
ro tín dụng, ngân hàng sẽ phải trích lập dự phòng cho những rủi ro đó, làm gia tăng
chi phí và có thể dẫn đến thua lỗ. Ngân hàng sẽ khó thu hồi được vốn tín dụng đã
Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu càng cao thì chất lượng tín dụng của ngân hàng
càng thấp và ngược lại. Tuy nhiên, xem xét tỷ lệ nợ quá hạn của một ngân hàng còn
cần phải xem xét đến quy mô hoạt động tín dụng của ngân hàng đó 20
Tổng dư nợ cho vay
Hệ số dư nợ tín dụng = ---------------------------- x 100%
Tổng tài sản có
Hệ số này cho ta thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có.
Khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng
thời rủi ro tín dụng sẽ rất cao.
Thông thường, tổng dư nợ cho vay của ngân hàng được chia thành 03 nhóm :
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt : là những khoản cho
vay có mức độ rủi ro thấp nhưng có thể mang lại thu nhập không cao cho ngân
hàng.
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình : là những
khoản cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập mang lại cho
ngân hàng là vừa phải. Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ
cho vay của ngân hàng.
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng xấu: là những khoản cho
vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho ngân hàng. Thông
thường, đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của
ngân hàng.
1.1.7. Biện pháp xử lý rủi ro tín dụng.
1.1.7.1. Nguyên tắc của Basel về quản trị rủi ro tín dụng.
Hội đồng giám sát hoạt động ngân hàng Basel là một Uỷ ban bao gồm các
chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng nhằm bảo đảm những nguyên tắc giám sát
về yêu cầu vốn của các ngân hàng quốc tế nhằm chống đỡ rủi ro trong hoạt động
theo dõi và kiểm soát nợ xấu trong mọi hoạt động, đối với từng khoản cấp tín dụng
cụ thể và nâng lên tầm soát rủi ro của cả danh mục đầu tư.
- Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh: Các ngân hàng cần xác định rõ ràng
các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (xác định thị trường mục tiêu, đối tượng khách 22
hàng tiềm năng, điều kiện cấp tín dụng...) nhằm xây dựng các hạn mức tín dụng phù
hợp cho từng loại khách hàng trên cơ sở các thông tin định lượng, định tính, kết quả
xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng. Ngân hàng phải có quy trình rõ ràng
trong đề xuất tín dụng, phê duyệt và sửa đổi tín dụng, có sự phân tách nhiệm vụ
rạch ròi giữa các bộ phận có liên quan đến công tác tín dụng. Việc cấp tín dụng cần
tuân thủ nguyên tắc cẩn trọng trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên.
- Duy trì quá trình quản lý và theo dõi tín dụng phù hợp: Tuỳ theo quy mô
của từng ngân hàng để xây dựng hệ thống quản lý phù hợp, kịp thời nắm bắt các
thông tin từ phía khách hàng như tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh
doanh, mức độ thực hiện các cam kết... để sớm phát hiện các dấu hiệu bất thường,
kiểm soát tốt các khoản vay có vấn đề. Ngân hàng cũng cần có các biện pháp quản
lý và khắc phục các khoản nợ xấu. Vì thế, chính sách quản lý rủi ro tín dụng của
ngân hàng phải chỉ rõ cách thức quản lý các khoản tín dụng có vấn đề.
Uỷ ban Basel cũng khuyến khích các ngân hàng xây dựng và hoàn thiện hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ, tạo tiền đề cho việc phân loại, đánh giá khách hàng
dựa trên nhiều tiêu chí; phân biệt các mức độ rủi ro tín dụng ứng với từng đối tượng
khách hàng để có biện pháp quản lý phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
1.1.7.2. Dấu hiệu nhận dạng rủi ro tín dụng
Hầu hết các ngân hàng trên thế giới hiện nay không ít thì nhiều đều có các
khoản tín dụng có vấn đề. Trong khi nội dung các khoản vay này thường khác nhau
trong các tình huống khác nhau, nhưng một số đặc điểm chung của các khoản tín
dụng nhiều rủi ro có thể nêu:
1. Sự chậm trễ bất thường và không có lý do trong việc cung cấp các báo cáo
xác và khớp đúng của số liệu liên quan đến hoạt động tín dụng.
- Lưu giữ và quản lý hồ sơ tín dụng đầy đủ, an toàn. 24
- Quản lý rủi ro tác nghiệp trong hoạt động tín dụng, đảm bảo các khoản cấp
tín dụng tuân thủ các quy định trong quy trình tín dụng. đảm bảo tính chính xác,
tính đầy đủ và hợp lệ của bộ hồ sơ tín dụng.
- Thực hiện công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định.
- Lập các loại báo cáo có liên quan đến hoạt động tín dụng.
1.2.2. Sự cần thiết phải phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất
có thể xảy ra do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng rủi
ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của TCTD.
Điều 82 Luật TCTD qui định: TCTD phải dự phòng rủi ro trong hoạt động
ngân hàng và được hạch toán vào chi phí hoạt động. Việc phân loại tài sản “có”,
mức trích, phương pháp lập khoản dự phòng và sử dụng khoản dự phòng để xử lý
các rủi ro trong hoạt động ngân hàng do Thống đốc NHNN qui định.
Vậy khi thành lập và đi vào hoạt động TCTD phải tuân thủ các nguyên tắc
do Luật đưa ra, nghĩa là trong hoạt động cần phải có các khoản dự phòng để xử lý
rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Và rủi ro tín dụng là dạng rủi ro chủ yếu, xuất
hiện thường xuyên trong hoạt động của TCTD. Do vậy, việc trích lập dự phòng để
xử lý rủi ro tín dụng là điều cần thiết nhằm đảm bảo hoạt động của các TCTD được
an toàn, hiệu quả.
Mặt khác, ngành ngân hàng Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu với các
thông lệ quốc tế. Đối với các nước phát triển, họ cho rằng bản chất của tín dụng
luôn có rủi ro, do vậy ngay khi phát sinh cho vay hay cam kết cho vay là lập tức tiến
hành trích lập ngay dự phòng, khoản này có thể được lập khi các khoản nợ có dấu
hiệu suy giảm hay chưa suy giảm. Việc trích lập đã được các nước áp dụng từ lâu,
là một trong các chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động ngân hàng.