Quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư chứng khoán tại Công ty Tài chính Dầu khí - Pdf 78

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Chiến lược phát triển ngành Dầu khí đến năm 2015 và định hướng đến
năm 2025 xác định phải nhanh chóng xây dựng PetroVietnam trở thành một
Tập đoàn Công nghiệp- Thương mại- Tài chính Dầu khí quan trọng, hoàn
chỉnh hoạt động trong và ngoài nước.
Với nhiệm vụ xây dựng PVFC trở thành trung tâm tài chính của Tập đoàn
Dầu khí Quốc gia Việt nam, hoạt động đầu tư, trong đó có hoạt động đầu tư
chứng khoán đang ngày càng phát triển trở thành một trong những nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu của Công ty Tài chính Dầu khí. Với việc nguồn vốn đầu
tư, bao gồm nguồn vốn tự có và nguồn vốn uỷ thác đầu tư đang ngày càng
tăng nhanh, danh mục đầu tư của PVFC cũng ngày càng đa dạng, cả về khối
lượng đầu tư, hình thức đầu tư và lĩnh vực đầu tư.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập của nền kinh tế hiện nay, nền kinh tế
Việt nam nói chung và môi trường đầu tư nói riêng đang có rất nhiều cơ hội
và thách thức. Đặc biệt, đối với thị trường chứng khoán còn non trẻ của Việt
nam, hoạt động đầu tư chứng khoán còn gặp phải nhiều thách thức to lớn hơn.
Do đó, để xây dựng và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán hiệu quả, đạt
được các mục tiêu chiến lược là bảo tồn và phát triển nguồn vốn, nâng cao vị
thế của Công ty Tài chính Dầu khí và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt nam
trong lĩnh vực đầu tư tài chính, thì bên cạnh việc đa dạng hoá danh mục đầu
tư, vai trò quản trị danh mục đầu tư là vô cùng quan trọng.
Chính vì vậy, đề tài “Quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư chứng khoán
tại Công ty Tài chính Dầu khí” sẽ tập trung nghiên cứu, xây dựng và hệ
thống phương pháp quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư tại PVFC, góp phần
tăng hiệu quả hoạt động đầu tư chứng khoán của PVFC.
2. Mục đích nghiên cứu
1
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về đầu tư chứng khoán, quản lý rủi ro
đầu tư chứng khoán.
- Phân tích thực trạng hoạt động đầu tư chứng khoán, các biện pháp quản

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO
TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
CHỨNG KHOÁN
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1.1. Chứng khoán và đầu tư chứng khoán.
1.1.1. Chứng khoán
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chứng khoán, tuy nhiên, theo nghĩa
chung nhất, có thể hiểu Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá và có thể mua
bán trên thị trường, gọi là thị trường chứng khoán, khi đó chứng khoán là
hàng hóa trên thị trường đó. Dùng Security, nghĩa gốc là an toàn, để gọi tên
chứng khoán xuất phát từ việc coi nắm giữ chứng khoán là việc sở hữu an
toàn và thuận tiện một tài sản nào đó. Chứng khoán chính là tài sản tài chính
vỉ nó mang lại thu nhập và khi cần người sở hữu nó có thể bán nó để thu tiền
về. Chứng khoán có rất nhiều loại: cổ phiếu, trái phiếu và một số loại khác
như quyền mua cổ phiếu mới, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn,
chứng chỉ quỹ đầu tư. Nói chung, người ta phân chia chứng khoán thành 4
nhóm chính là cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán có thể chuyển đổi và các
chứng khoán phái sinh.
* Cổ phiếu: là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ
hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở
hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần.
Theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông, có hai
loại cổ phiếu cơ bản: cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi.
- Cổ phiếu phổ thông: là loại cổ phiếu có thu nhập phụ̀ thuộc vào hoạt
động kinh doanh của công ty. Người sở hữu cổ phiếu phổ thông được tham
gia họp Đại hội đồng cổ đông và được bỏ phiếu quyết định những vấn đề

trình đầu tư được gọi là vốn đầu tư và có thể được biểu hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau như: vốn bằng tiền (nội tệ, ngoại tệ), kim khí quý, đá quý, đất
đai, bất động sản, tài nguyên, giá trị thương hiệu, phát minh sáng chế…
Lợi ích của đầu tư cũng được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau tuỳ theo
mục đích của hoạt động đầu tư như: lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh
quốc phòng, bảo vệ môi trường…Trong hoạt động kinh tế mục đích chủ yếu
và trước hết của hoạt động đầu tư là để thu lợi nhuận.
Hoạt động đầu tư có thể do một tổ chức hoặc một cá nhân thực hiện dưới
nhiều hình thức. Song nếu căn cứ vào mối liên hệ trực tiếp giữa chủ đầu tư và
đối tượng đầu tư người ta thường chia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia
quản lý điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, được thực hiện dưới các
hình thức như góp vốn kinh doanh hoặc thực hiện các hợp đồng hợp tác kinh
doanh.
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư không trực tiếp tham
gia điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, được thực hiện
dưới các hình thức như đầu tư chứng khoán hoặc cho vay đầu tư đối với các
tổ chức kinh tế.
Như vậy đầu tư chứng khoán là một trong những hình thức đầu tư gián
tiếp của các nhà đầu tư vào các doanh nghiệp, ở đó chủ đầu tư bỏ vốn để mua
7
các chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) của doanh nghiệp đang lưu hành trên
thị trường chứng khoán nhằm đạt được những lợi ích nhất định.
Đầu tư chứng khoán là một hình thức đầu tư khá phổ biến ở các nước có
nền kinh tế thị trường và thị trường chứng khoan phát triển. Mục đích của đầu
tư chứng khoán trước hết là nhằm thu được lợi nhuận từ số tiền đã bỏ ra đầu
tư. Phần lợi nhuận này được hình thành từ lợi tức chứng khoán mà chủ doanh
nghiệp trả cho người đầu tư theo quy định và phần chênh lệch giá chứng
khoán khi họ chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán trên thị trường. Tiếp

Theo thời hạn thanh toán, các chứng khoán của doanh nghiệp có thể chia
thành chứng khoán ngắn hạn và chứng khoán dài hạn. Các chứng khoán ngắn
hạn là các chứng khoán có thời hạn từ dưới 01 năm (3 tháng, 6 tháng, 9
tháng…); ngược lại, các chứng khoán có thời gian đáo hạn thanh toán từ 01
năm trở lên được gọi là các chứng khoán dài hạn. Các chứng khoán có thời
gian đáo hạn càng dài thì mức độ rủi ro có thể gặp càng lớn và tính thanh
khoản càng thấp.
1.1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ĐTCK
Các nhân tố cơ bản để xem xét quyết định đầu tư bao gồm:
- Khả năng sinh lời từ khoản đầu tư chứng khoán trong tương lai. Mục
đích trước hết của đầu tư chứng khoán là nhằm thu được lợi nhuận trong
tương lai, vì vậy khả năng sinh lợi của khoản đầu tư chứng khoán là nhân tố
cần được xem xét hàng đầu. Tuy nhiên khả năng sinh lời của chứng khoán lại
chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác như: lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh;
9
chính sách kinh tế của nhà nước; khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên
thị trường; chính sách chi trả lợi tức cổ phần của doanh nghiệp… Vì thế để tối
đa hoá lợi nhuận, nhà đầu tư cần phải phân tích, đánh giá kỹ các nhân tố có
thể ảnh hưởng đến khả năng sinh lời nêu trên để lựa chọn quyết định đầu tư
cho phù hợp.
- Mức độ rủi ro có thể gặp của loại chứng khoán được đầu tư; để có thể
thu được lợi nhuận tối đa trong đầu tư chứng khoán nhà đầu tư còn phải biết
cách tối thiểu hoá các rủi ro có thể gặp. Việc đánh giá mức độ rủi ro trong đầu
tư chứng khoán không chỉ đối với từng loại chứng khoán riêng rẽ mà còn đối
với toàn bộ danh mục đầu tư chứng khoán nhằm hạn chế và phân tán rủi ro.
Thông thường, mức độ rủi ro có sự khác biệt nhất định giữa các chứng khoán
vốn và chứng khoán nợ, giữa chứng khoán có thời hạn thanh toán khác nhau,
giữa chứng khoán có khả năng chuyển đổi hoặc không chuyển đổi, giữa
chứng khoán của các doanh nghiệp hoặc ngành kinh doanh khác nhau.. .Việc
đánh giá mức độ rủi ro đầu tư chứng khoán cũng đòi hỏi năng lực, kỹ năng

vậy nó phản ánh sự đánh đổi rõ ràng giữa rủi ro và lợi nhuận. Vì vậy trong
kinh tế thường có câu: rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn và ngược lại.
Khi nhà đầu tư mua một tài sản với hy vọng nó sẽ đem lại lợi nhuận trong
suốt thời gian họ nắm giữ tài sản đó. Thu nhập thực tế sẽ có thể khác biệt so
với thu nhập mong đợi, và đó là nguồn gốc của rủi ro.
Khi một nhà đầu tư đầu tư vào tín phiếu kho bạc, họ nhận được đúng trái
tức theo mong đợi của họ, có nghĩa là họ đầu tư vào tài sản không có rủi ro.
Ngược lại, khi đầu tư vào cổ phiếu của một công ty, họ kỳ vọng thu được
lợi nhuận là 15%, thực tế thu nhập của họ có thể cao hơn hoặc thấp hơn.
Cần phải ghi nhớ rằng thu nhập mong đợi và độ lệch mà chúng ta xác định
trong thực tế được tính toán dựa vào thu nhập quá khứ hơn là thu nhập tương
11
lai. Giả định rằng khi sử dụng những biến động trong quá khứ để tính toán có
nghĩa là chúng là những chỉ số tốt nhất của phân phối thu nhập tương lai. Khi
những giả định này bị vi phạm, đặc biệt trong trường hợp đặc tính của tài sản
thay đổi lớn qua thời gian ( các công cụ vốn như cổ phiếu…), những số liệu
quá khứ không phải là một phương pháp xác định rủi ro tốt.
1.2.2. Phân loại rủi ro chứng khoán:
Như đã phân loại ở trên, nguyên nhân dẫn đến rủi ro có hai loại, một loại
xuất phát từ đặc điểm của bản thân công ty (rủi ro không hệ thống), một loại
khác từ toàn bộ thị trường (rủi ro hệ thống). Những rủi ro đặc thù tác động
đến một hoặc một vài khoản đầu tư, trong khi rủi ro hệ thống tác động đến tất
cả các khoản đầu tư. Đây là một điều hết sức quan trọng trong quá trình tính
toán rủi ro. Rủi ro được phân chia thành dạng bảng như sau:
Toàn bộ
thị trường
Những dự án tốt hơn hoặc xấu hơn dự kiến
Khu vực tổng thể có thể bị tác động bởi những hành động nào đó
Lãi suất, lạm phát và những thông tin về nền kinh tế
Cạnh tranh lớn hơn hoặc yếu hơn

được từ đầu tư chứng khoán ở các thời điểm khác nhau có giá trị khác nhau,
do đó ảnh hưởng đến mức doanh lợi thu được của đầu tư chứng khoán.
- Rủi ro sức mua (còn gọi là rủi ro lạm phát) là loại rủi ro do sự giảm sút
về sức mua đồng tiền. Nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán mặc dù có khả năng
thu được lợi nhuận trong tương lai nhưng họ lại mất đi cơ hội mua sắm các
loại hàng hoá, dịch vụ trong thời hạn nắm giữ chứng khoán. Nếu trong
khoảng thời gian đó giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng lên do yếu tố lạm phát, họ
sẽ mất đi một phần sức mua từ số thu nhập sẽ có được trong tương lai. Giá trị
phần sức mua bị giảm sút do lạm phát phản ánh mức rủi ro sức mua của nhà
đầu tư chứng khoán.
1.2.2.2. Rủi ro không hệ thống:
Là những rủi ro có nguyên nhân từ nội tại của một công ty hoặc một
ngành kinh doanh mà không gắn liền với toàn bộ thị trường. Ảnh hưởng của
rủi ro không hệ thống vì thế chỉ tác động trong phạm vi công ty, một ngành
hay một số loại chứng khoán nhất định.
Rủi ro không hệ thống thường bao gồm các loại như: rủi ro kinh doanh,
rủi ro tài chính, rủi ro quản lý.. trong hoạt động của một công ty hoặc một
ngành kinh doanh nhất định.
Rủi ro kinh doanh là những rủi ro về sự không ổn định của thu nhập
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do những thay đổi bất lợi của
môi trường kinh doanh hoặc do cung cầu hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.
Khác với rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính lại là những rủi ro về khả
năng thanh toán lợi tức chứng khoán hoặc hoàn vốn cho người sở hữu chứng
14
khoán do việc lựa chọn cơ cầu tài chính không hợp lý hoặc có sự mất cân đối
giữa doanh thu và chi phí của doanh nghiệp.
Rủi ro quản lý là rủi ro do tác động của các quyết định quản lý không
hợp lý từ các nhà quản trị doanh nghiệp.
1.3. Các biện pháp quản lý rủi ro trong đầu tư chứng khoán.
Để thực hiện đầu tư chứng khoán có hiệu quả, hạn chế rủi ro, chúng ta cần

biệt. Ưu điểm nổi bật của quy trình phân tích này là đảm bảo tính hệ thống,
phù hợp với logic nhận thức. Do mục tiêu cuối cùng của hoạt động phân tích
đầu tư chứng khoán là đi tới một quyết định đầu tư chứng khoán cụ thể, vì thể
nó được sử dụng khá phổ biến trong phân tích đầu tư chứng khoán.
Ngược lại với trình tự trên, phương pháp phân tích chứng khoán từ dưới
lên lại bắt đầu từ phân tích, đánh giá hoạt động kinh doanh của một công ty cụ
thể và đặt nó trong mối liên hệ tương quan giữa hoạt động của công ty với
môi trường kinh doanh bên ngoài là tình hình hoạt động của ngành hoặc nền
kinh tế. Do đặc điểm trên, phương pháp này tỏ ra thích hợp hơn đối với các tổ
chức có vai trò tổ chức, quản lý và giám sát hoạt động của thị trường chứng
khoán hơn là đối với nhà đầu tư chứng khoán.
1.3.1.2. Phân tích kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của thị
trường chứng khoán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Việc phân tích
kinh tế vĩ mô nhằm mục đích đánh giá đúng thực trạng phát triển kinh tế- xã
hội của đất nước và tác động của nó đến sự phát triển của thị trường chứng
khoán. Phân tích kinh tế vĩ mô bao gồm:
16
- Phân tích môi trường chính trị- xã hội của đất nước:
Môi trường chính trị, xã hội của mỗi quốc gia thể hiện ở hệ thống các yếu
tố về thể chế quản lý xã hội (như hiến pháp, luật pháp, các văn bản pháp quy
của cơ quan hành chính); cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành bộ máy quản lý
hành chính nhà nước các cấp, các tổ chức đoàn thể chính trị- xã hội, tôn
giáo…
Sự ổn định của môi trường chính trị- xã hội của đất nước là yếu tố quan
trọng hang đầu đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế, doanh nghiệp và thị
trường chứng khoán. Bởi lẽ sự thay đổi về thể chế chính trị thường kéo theo
sự thay đổi về chính sách kinh tế, xã hội, chính sách chi tiêu ngân sách… ảnh
hưởng to lớn đến đời sống kinh tế của đất nước.
- Ảnh hưởng của môi trường pháp luật

đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư trên thị trường
chứng khoán.
1.3.1.3. Phân tích ngành
Mục đích của phân tích ngành là giúp cho nhà đầu tư thấy rõ những lợi ích
hoặc rủi ro có thể gặp khi quyết định đầu tư vào chứng khoán của một doanh
nghiệp hoạt động trong một ngành kinh doanh cụ thể. Những nội dung cần
thực hiện trong phân tích ngành bao gồm: phân tích chu kỳ kinh doanh của
ngành, xác định hệ số rủi ro của ngành kinh doanh, mức doanh lợi kỳ vọng và
các hệ số tài chính khác của ngành kinh doanh
- Chu kỳ kinh doanh của ngành: Triển vọng và chu kỳ kinh doanh của
ngành ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong
18
ngành. Nếu một công ty hoạt động trong một ngành còn kém phát triển thì
khó có triển vọng đầu tư đem lại hiệu quả cao. Vào cùng một thời điểm nhất
định, các doanh nghiệp kinh doanh trong các ngành khác nhau sẽ có mức
doanh lợi thu được khác nhau, mức rủi ro khác nhau. Do đó cần có sự phân
tích đánh giá ngành kinh doanh để chọn ngành có mức doanh lợi cao, mức độ
rủi ro thấp để đầu tư. Ngay trong một ngành, mức doanh lợi thu được từ hoạt
động đầu tư cũng không ổn định. Vì thế, cũng cần có sự theo dõi phân tích
ngành để lựa chọn thời điểm quyết định đầu tư hay rút khỏi đầu tư phù hợp.
- Đánh giá mức độ rủi ro của ngành kinh doanh:
Mỗi ngành kinh doanh khác nhau cũng có mức độ rủi ro khác nhau. Việc
xác định mức độ rủi ro của ngành giúp cho nhà đầu tư lựa chọn được ngành
đầu tư có hiệu quả β với độ rủi ro tối thiểu hoặc có thể chấp nhận được.
Quy trình phân tích, đánh giá rủi ro của ngành kinh doanh thường được
tiến hành theo trình tự sau:
- Xác định hệ số rủi ro (β) của ngành, từ đó tính toán được mức lợi suất
đòi hỏi dựa theo mô hình định giá tài sản vốn (CAPM). Công thức xác định
như sau:
E(R) = R

ngành bằng cách nhân hệ số P/E cuối kỳ tính toán được với ước tính thu nhập
trên một cổ phiếu. Sau đó so sánh giá trị chỉ số cuối kỳ với giá trị đầu kỳ để
ước tính lợi suất đạt được ( r) theo công thức:
Giá trị chỉ số cuối kỳ - giá trị đầu kỳ + cổ tức nhận trong kỳ
Giá trị đầu kỳ
- Lựa chọn quyết định đầu tư hay không: So sánh lợi suất đạt được r với
mức doanh lợi đòi hỏi E (R), nếu r > E(R) thì nên rút khỏi đầu tư vào ngành
này.
1.3.1.4. Phân tích báo cáo tài chính công ty
Thông thường, ta phân tích báo cáo tài chính qua các tỷ số tài chính đặc
trưng, để có thể phân tích rõ tình hình tài chính của công ty trong một thời kỳ
nhất định
20
r =
• Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng tài sản/Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Hệ số này cho biết mối quan hệ giữa tổng tài sản mà doanh nghiệp đang quản lý, sử
dụng với tổng số nợ phải trả (gồm cả nợ ngắn hạn và dài hạn), phản ánh một đồng vay nợ có
mấy đồng tài sản đảm bảo. Khi giá trị của hệ số này nhỏ hơn 1 có nghĩa là tổng tài sản <
tổng nợ, như vậy toàn bộ số tài sản hện có của công ty không đủ để thanh toán các khoản nợ,
chứng tỏ công ty mất khả năng thanh toán, gặp khó khăn trong tài chính và có nguy cơ phá
sản.
- Hệ số khả năng thanh toán tạm thời
Hệ số khả năng thanh toán tạm thời = Tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn/ Tổng nợ ngắn
hạn
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn với các khoản nợ
ngắn hạn. Hệ số này cho biết mức độ đảm bảo của TSLĐ với nợ ngắn hạn.
Nếu hệ số này <1 thì công ty rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Hệ số đầu tư và TSLĐ = Tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn/ Tổng tài sản
Hệ số đầu tư vào TSCĐ = Tổng TSCĐ và đầu tư dài hạn/ Tổng tài sản
Cơ cấu tài sản = Tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn/ Tổng TSCĐ và đầu tư dài hạn
Bố trí cơ cấu tài sản phản ánh sử dụng bình quân 1 đồng vốn thì dành ra
bao nhiêu đồng đầu tư hình thành TSCĐ và bao nhiều đồng đầu tư hình thành
TSLĐ
• Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động
22
- Vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán/ Hàng tồn kho bình quân trong kỳ
Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân
chuyển trong kỳ. Chỉ số này càng cao càng được đánh giá là tốt vì số tiền đầu
tư cho hàng tồn kho thấp mà vấn đạt hiệu quả cao, tránh được tình trạng ứ
đọng vốn. Nếu chỉ số này thấp phản ánh hàng tốn kho dự trữ nhiều, sản phẩm
không tiêu thụ được do chất lượng thấp không đáp ứng yêu cầu thị trường.
- Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần/ Số dư bình quân các khoản phải
thu
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển các khoản phải thu ra tiền mặt. Vòng
quay càng lớn càng chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, vốn
của doanh nghiệp không bị chiếm dụng và không phải đầu tư nhiều vào việc
thu hồi các khoản phải thu. Nếu vòng quay nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp bị
chiếm dụng vốn lớn gây ra thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh buộc
doanh nghiệp phải đi vay vốn từ bên ngoài và trả lãi cho số vốn đi vay đó.
- Kỳ thu tiền trung bình
Kỳ thu tiền trung bình = 360/Vòng quay cá khoản phải thu = (Số dư bình quân các
khoản phải thu/Doanh thu thuần) x 360
Kỳ thu tiền trung bình có nghĩa là doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn trong
thanh toán, khả năng thu hồi chậm, doanh nghiệp cần phải có biện pháp cụ thể
để thu hồi nợ.

24
Chỉ tiêu này phản ánh sử dụng bình quân 1 đồng tài sản thì tạo ra mấy
đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay.
- Tỷ suất doanh lợi tổng vốn
Tỷ suất doanh lợi tổng vốn = Lợi nhuận thuần/ Vốn sản xuất bình quân
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng sinh lời của đồng vốn đầu tư,
phản ánh sử dụng bình quân một đồng vốn kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế. Giá trị của chỉ tiêu càng cao càng chứng tỏ doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả và ngược lại càng thấp càng kém hiệu quả.
- Tỷ lệ thu nhập vốn cổ phần
Tỷ lệ thu nhập vốn cổ phần = Tổng lợi nhuận sau thuế/ Vốn cổ phần bình quân
Vốn cổ phần bao gồm vốn của cổ đông ưu đãi và vốn cổ đông thường,
được xác định bằng chênh lệch giữa tổng vốn với tổng nợ phải trả. Tổng lợi
nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, phần còn lại được gọi là thu
nhập của cổ đông. Do vậy chỉ tiêu thu nhập vốn cổ phần phản ánh khả năng
đảm bảo thu nhập cho tất cả mọi đối tác góp vốn cổ phần vào công ty.
- Tỷ lệ thu nhập vốn cổ phần thường
Tỷ lệ thu nhập vốn cổ phần thường = (Lợi nhuận sau thuế - Lợi tức cổ phần ưu
đãi)/ Vốn cổ phần thường bình quân
Vốn cổ phần thường là phần vốn do các cổ đông thường nắm giữ và được
xác định bằng chênh lệch giữa vốn cổ phần với vốn cổ phần ưu đãi. Còn thu
nhập của vốn cổ phần thường là phần còn lại của lợi nhuận sau thuế, sau khi
đã trả lợi tức cho cổ phiếu ưu đãi. Tỷ lệ thu nhập vốn cổ phần thường cho biết
tỷ lệ hoàn vốn mà công ty tạo ra cho cổ đông thường.
Đây là chỉ tiêu đo lường sự thành công của công ty. Các nhà đầu tư thường
so sánh chỉ tiêu này với lãi suất trên thị trường vốn. Khi công ty tạo ra thu
25

Trích đoạn Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt nam-quá trình hình thành và phát triển Vai trò của PVFC trong Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt nam Tổng quan về hoạt động đầu tư chứng khoán Đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư chứng khoán Nhận diện một số rủi ro trong hoạt động đầu tư chứng khoán tại PVFC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status