Tăng cường công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thương Việt Nam - Pdf 78

Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Với số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) chiếm hơn 97% tổng số các
doanh nghiệp hiện có ở Việt Nam, nhu cầu vay vốn của loại hình doanh nghiệp này rất lớn.
Tuy nhiên khó khăn lớn nhất của các DNN&V hiện nay đó là nguồn tài chính eo hẹp mà nhu
cầu đổi mới công nghệ, máy móc, thiết bị ngày càng trở nên hết sức cấp bách, bởi khi một
doanh nghiệp muốn cạnh tranh trên thị trường thì phải có sản phẩm có tính cạnh tranh cao,
chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Các DNN&V hiện nay đang đứng
trước những khó khăn khi mà những ưu đãi về thuế và những chính sách khác đang bị cắt
giảm. Bên cạnh đó thì sức ép đầu vào, giá cả nguyên vật liệu…tăng cao trong khi giá sản
phẩm đầu ra chưa được điều chỉnh tăng theo tỷ lệ.
Việc huy động vốn để phát triển hoạt động đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện
nay cũng rất hạn chế vì thị trường tài chính của Việt Nam chưa thực sự hoàn thiện, nơi cấp
vốn hiệu quả nhất vẫn là các ngân hàng thương mại. Nhìn từ phía ngân hàng thì rủi ro do các
doanh nghiệp này mang lại là khá lớn, vì đây là khách hàng mà ngân hàng không thể nắm
bắt, đánh giá đúng đắn về tình hình tài chính, khả năng trả nợ như các doanh nghiệp lớn,
khách hàng truyền thống của ngân hàng. Các ngân hàng thường hạn chế rủi ro bằng việc
thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản. Vì vậy mà tăng cường công tác bảo đảm tiền vay
bằng tài sản là mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng thương mại nói chung và của Sở giao
dịch I nói riêng.
Trong thời gian thực tập tại Sở giao dịch I ngân hàng công thương việt Nam, được
sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy giáo - Thạc sỹ Phan Hữu Nghị cùng với sự giúp đỡ
nhiệt tình của các cô chú, anh chị phòng khách hàng 2 tại SGDI, em đã chọn đề tài : "Tăng
cường công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thương Việt Nam ”
Kết cấu của luận văn gồm những nội dung chính sau :
Chương 1: Lý luận chung về bảo đảm tiền vay bằng tài sản của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản đối với các doanh nghiệp nhỏ
và vừa tại Sở giao dịch I - Ngân hàng công thương Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản đối với các doanh
nghiệp nhỏ và vừa.

tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Cũng có thể định nghĩa ngân hàng thương mại
dựa trên các hoạt động chủ yếu, theo luật cúa các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ghi : Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch
vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
1.1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của NHTM
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh nghiệp.
Ngày nay hoạt động ngân hàng đang không ngừng phát triển, sự phát triển đó có thể thấy
trên tất cả các phương diện, từ sự ra đời của các sản phẩm dịch vụ mới cho tới sự xuất hiện
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
Luận văn tốt nghiệp
của các tập đoàn ngân hàng có qui mô toàn cầu được tạo ra từ làn sóng sáp nhập, hợp nhất.
Để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu xã hội nhiều ngân hàng hiện đã
thực hiện nhiều vai trò mới như: Vai trò thanh toán, vai trò người bảo lãnh, vai trò đại lý và
vai trò thực hiện chính sách, với mỗi vai trò đó ngân hàng cung cấp các dich vụ khác nhau
nhằm đáp ứng nhu cầu của công chúng và doanh nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ
thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch
vụ đó một cách có hiệu quả.
Hoạt động của ngân hàng có thể chia thành ba hoạt động chủ yếu đó là hoạt động
nhận tiền gửi, hoạt động cung cấp tín dụng và hoạt động trung gian thanh toán.
 Hoạt động nhận tiền gửi
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, vì vậy mà các ngân hàng đã tìm cách để
huy động được tiền. Ngân hàng có thể huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền
kinh tế bằng cách nhận tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi có kì hạn của các doanh
nghiệp, các tổ chức xã hội, tiền gửi thanh toán của cá nhân, doanh nghiệp…phát hành cổ
phiếu, trái phiếu, vay các tổ chức tín dụng khác…Trong đó, hoạt động nhận tiền gửi là quan
trọng nhất.
Đó là các khoản tiền gửi của khách hàng, một quỹ sinh lợi được gửi tại ngân hàng trong
khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất
tương đối cao. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành các khoản tiền gửi, các ngân hàng đã

thể gửi tiền tại ngân hàng khác, tuy nhiên quy mô nguồn này thường không lớn.
 Hoạt động cung cấp tín dụng
Luật các tổ chức tín dụng qui định : Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử
dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động được để cấp tín dụng, trong đó cấp tín dụng là
việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có
hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và
các nghiệp vụ khác.
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân hàng thương
mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Tín dụng được chia thành nhiều tiêu thức
khác nhau.
- Theo thời gian : tín dụng ngắn hạn (thời hạn từ 12 tháng trở xuống), trung hạn (trên
1 năm đến 5 năm), dài hạn (trên 5 năm). Tuy nhiên việc xác định thời hạn trên chỉ mang tính
chất tương đối vì có những khoản vay không xác định trước được thời hạn. Phân chia tín
dụng theo tiêu thức này có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật
thiết đến tính an toàn và sinh lợi của ngân hàng. Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tại các NHTM
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
Luận văn tốt nghiệp
thường cao hơn tín dụng trung và dài hạn, các ngân hàng chủ yếu tài trợ cho tài sản lưu động
của khách hàng.
- Theo hình thức tài trợ tín dụng được chia thành cho vay, bảo lãnh, cho thuê, chiết
khấu, bảo lãnh và một số hoạt động khác do NHNN qui định
 Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng sử dụng với cam kết hoàn trả cả
gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay thường được định lượng theo hai chỉ
tiêu : Doanh số cho vay trong kì và dư nợ cuối kì. Doanh số cho vay trong kì là tổng số tiền
mà ngân hàng đã cho vay trong kì, dư nợ cuối kì là số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho
vay vào thời điểm cuối kì. Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá
nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng, đồng thời hoạt
động này mang lại nhiều rủi ro.
 Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những
thoả thuận nhất định. Sau thời gian nhất định khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi cho ngân

trong cùng một hệ thống ngân hàng, hoặc giữa các hệ thống ngân hàng khác nhau …thông
qua các công cụ như séc, lệnh chi, lệnh thu…
- Dịch vụ thu hộ, chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng
trong các giao dịch mua bán bằng uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, séc, L/C..
- Dịch vụ trả lương qua tài khoản.
- Dịch vụ chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng dưới các hình thức : chuyển tiền
nhanh, chuyển tiền bằng thư, chuyển tiền bằng điện.
- Các dịch vụ bảo quản các giấy tờ có giá như vàng, bạc, đá quý, giấy tờ có giá
- Mua bán chứng khoán hộ khách hàng.
1.1.2 Hoạt động cho vay của NHTM
1.1.2.1 khái niệm hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là một nghiệp vụ quan trọng của NHTM, là việc ngân hàng đưa tiền cho
khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác
định.
Nhằm bảo đảm tính an toàn và khả năng sinh lợi hoạt động cho vay cũng dựa trên
một số nguyên tắc nhất định :
- Khách hàng phải cam kết hoàn trả gốc và lãi với thời gian xác định, khả năng hoàn
trả của các khoản vay ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng, đây là điều kiện để
ngân hàng tồn tại và phát triển. Vì các khoản cho vay của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc
từ các khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn. Ngân hàng có
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
Luận văn tốt nghiệp
trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi như đã cam kết, do vậy ngân hàng luôn yêu cầu người nhận
tín dụng thực hiện đúng cam kết này.
- Khách hàng cam kết sử dụng vốn vay theo mục đích được thoả thuận với ngân hàng,
không trái với qui định của pháp luật và của các ngân hàng cấp trên, việc tài trợ đúng cương
lĩnh hoạt động của ngân hàng.
- Ngân hàng cho vay khi xét thấy phương án, dự án kinh doanh có hiệu quả. Thực hiện
nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất
Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu. Phần lớn nguồn thu của ngân hàng có được

 Theo mục đích sử dụng vốn :
- Cho vay công nghiệp và thương mại
- Cho vay nông nghiệp
- Cho vay bất động sản
- Cho vay tiêu dùng
 Theo mức độ tín nhiệm với khách hàng :
- Cho vay không bảo đảm
- Cho vay có bảo đảm
1.2. Các hình thức bảo đảm tiền vay
Nghị định 178/1999 NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức
tín dụng xác định : Bảo đảm tiền vay là việc ngân hàng áp dụng các biện pháp phòng ngừa
rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã cho khách hàng vay. Vì vậy
bảo đảm tiền vay là việc dùng tài sản hoặc uy tín của khách hàng để bảo đảm cho một
khoản vay.
Thông thường có hai biện pháp bảo đảm tiền vay mà ngân hàng áp dụng đối với
khách hàng khi vay vốn ngân hàng là cho vay có bảo đảm bằng tài sản và cho vay không có
bảo đảm bằng tài sản. Tuỳ từng khách hàng mà ngân hàng sẽ áp dụng biện pháp nào cho phù
hợp bảo đảm an toàn và sinh lợi cho ngân hàng.
1.2.1 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cho phép ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai
bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất (từ quá trình sản xuất kinh doanh)
không có hoặc không đủ. Do khách hàng luôn phải đối đầu với những rủi ro trong kinh
doanh, có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng do thu nhập từ hoạt động giảm sút mạnh.
Vì vậy trừ những khách hàng có uy tín cao ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải có tài
sản bảo đảm khi vay vốn ngân hàng nhằm hạn chế bớt các thiệt hại cho ngân hàng khi khách
hàng có khó khăn không trả được nợ.
Có các hình thức bảo đảm tiền vay bằng tài sản :
- Cầm cố bằng tài sản của khách hàng vay vốn
- Thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay vốn
- Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba

- Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh vẫn
chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có trách nhiệm
tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
1.2.4 Điều kiện đối với tài sản bảo đảm tiền vay
Tài sản mà khách hàng vay, bên bảo lãnh dùng để cầm cố, thế chấp, bảo lãnh vay vốn
tại các tổ chức tín dụng phải đủ các điều kiện sau :
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
Luận văn tốt nghiệp
• Tài sản phải thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng, quản lý của khách hàng
vay, bên bảo lãnh theo các quy định sau đây :
- Đối với giá trị quyền sử dụng đất, phải thuộc quyền sử dụng của khách hàng vay và
được thế chấp, bảo lãnh theo qui định của pháp luật về đất đai.
- Đối với tài sản của doanh nghiệp Nhà nước, tài sản đó phải được Nhà nước giao cho
doanh nghiệp đó quản lý, sử dụng và được dùng để bảo đảm tiền vay theo qui định của pháp
luật về doanh nghiệp Nhà nước.
- Đối với tài sản khác thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay, bên bảo lãnh. Trường
hợp tài sản mà pháp luật qui định phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bảo đảm phải có chứng
nhận quyền sở hữu tài sản.
• Tài sản được phép giao dịch, có tính thanh khoản cao. Đó là những tài sản mà pháp
luật cho phép, không cấm mua bán, tặng, cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố,
thế chấp và các giao dịch khác.
• Tài sản không có tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng, quản lý của bên bảo
đảm tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm. Trong hợp đồng bảo đảm, bên bảo đảm
phải cam kết với ngân hàng về việc tài sản cầm cố, thế chấp không có tranh chấp và
chịu trách nhiệm về cam kết của mình.
• Tài sản mà pháp luật qui định phải mua bảo hiểm thì bên bảo đảm phải mua bảo
hiểm tài sản trong thời gian bảo đảm tiền vay.
1.3 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản
1.3.1 Khái niệm, vai trò của bảo đảm tiền vay bằng tài sản
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là việc cho vay vốn của ngân hàng mà theo đó nghĩa

bảo đảm thuộc sở hữu của mình, nâng cao uy tín và tạo điều kiện thiết lập mối quan hệ lâu
dài với ngân hàng .
Thứ ba, bảo đảm tiền vay thúc đẩy việc tạo lập quan hệ giữa ngân hàng và khách
hàng. Khách hàng được hỗ trợ về vốn, từ đó có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh,
mở rộng qui mô, mở rộng thị trường, mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ từ đó
nâng cao năng lực cạnh tranh, còn ngân hàng có thêm khách hàng, có thêm thu nhập. Như
vậy bảo đảm tiền vay thiết lập mối liên hệ khách hàng và ngân hàng, bảo đảm phát triển
hoạt động sản xuất kinh doanh của cả hai bộ phận này, đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội thiết
thực.
1.3.2 Các hình thức bảo đảm tiền vay bằng tài sản
1.3.2.1 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
Luận văn tốt nghiệp
Cầm cố là hình thức mà người nhận tài trợ của ngân hàng phải chuyển quyền kiểm
soát tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết (thường là thời gian nhận
tài trợ).
Tài sản dùng để cầm cố là những tài sản tách biệt trong quá trình sản xuất kinh
doanh có nghĩa là việc ngân hàng nắm giữ tài sản đó không ảnh hưởng đến quá trình hoạt
động của bên nhận tài trợ, là những động sản mà ngân hàng có thể kiểm soát và bảo quản
tương đối chắc chắn, như: chứng khoán, hợp đồng, sổ tiết kiệm, ngoại tệ mạnh, kim loại
quý…
Không phải tài sản nào cũng có thể cầm cố cho ngân hàng để vay vốn, để có thể vay
vốn ngân hàng thì các tài sản bảo đảm phải thoã mãn các điều kiện như : tài sản phải thuộc
sở hữu hợp pháp của bên đi vay, tài sản có tính thanh khoản và có giá trị thị trường. Ngân
hàng chỉ nhận những tài sản gọn nhẹ, dễ quản lý, không chịu ảnh hưởng của môi trường tự
nhiên, với hàng hoá ngân hàng thường chấp nhận các loại ít chịu tác động của môi trường
trong thời gian cầm cố. Ngân hàng yêu cầu cầm cố khi xét thấy việc khách hàng nắm giữ tài
sản bảo đảm là không an toàn cho ngân hàng, thường đó là các tài sản dễ bán, dễ chuyển
nhượng.
Khi tài trợ dựa trên đảm bảo bằng cầm cố, ngân hàng kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ,

khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản cầm cố.
1.3.2.2 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp
Là hình thức theo đó người nhận tài trợ phải chuyển các giấy chứng nhận sở hữu
(hoặc sử dụng) các tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết.
Như vậy bên thế chấp chỉ giao giấy tờ sở hữu sang cho ngân hàng nắm giữ chứ không giao
tài sản như cầm cố.
Ngân hàng không thể cầm cố nếu tài sản của khách hàng vẫn tham gia vào quá trình
sản xuất như: máy móc, thiết bị, nhà đất đang trong quá trình sử dụng, hàng hoá đang trong
quá trình luân chuyển do các tài sản này cồng kềnh, dễ phân tán, việc bán, chuyển nhượng
khó khăn. Do vậy bảo đảm bằng thế chấp rất phổ biến. Tài sản thế chấp phải đạt được các
điều kiện như đối với tài sản cầm cố đó là tài sản thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay
vốn, có thể chuyển nhượng theo qui định của pháp luật, phải dễ tiêu thụ khi cần xử lý.
Bảo đảm bằng thế chấp cho phép người nhận tài trợ sử dụng tài sản bảo đảm phục vụ
cho hoạt động kinh doanh, đó là một thuận lợi song cũng là rủi ro cho ngân hàng vì trong
quá trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản, hơn nữa do khả năng kiểm soát tài sản bảo đảm
của ngân hàng bị hạn chế khách hàng có thể lợi dụng phân tán, làm giảm giá trị của tài sản
gây thiệt hại cho ngân hàng. Vì vậy ngân hàng phải xem xét kỹ vật thế chấp, cần có các nhà
chuyên môn đủ khả năng đánh giá bảo đảm. Nếu đánh giá quá cao, qui mô tài trợ có thể lớn,
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
Luận văn tốt nghiệp
có thể gây rủi ro cho ngân hàng, ngược lại nếu đánh giá thấp ảnh hưởng đến khả năng vay
của khách hàng. Sau khi đánh giá ngân hàng và khách hàng phải có những thoã thuận hợp lý
về nội qui sử dụng bảo đảm, quyền giám sát bảo đảm của ngân hàng, phát mại bảo đảm khi
khách hàng vi phạm hợp đồng tài trợ … để bảo đảm chất lượng bảo đảm tiền vay đối với tài
sản thế chấp.
Các loại tài sản dùng để thế chấp theo thông tư 07/2003/TT-NHNN ngày 15/05/2003
NHNN bao gồm:
- Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở,
công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất.
- Giá trị quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai qui định được thế chấp.


l
ý

T
S
B
Đ
Luận văn tốt nghiệp
ngân hàng được phép bán tài sản của bên thứ ba để thu hồi nợ theo qui định của pháp luật,
bên bảo lãnh có quyền được nhận lại giấy tờ, tài sản đã đem thế chấp hay cầm cố khi hợp
đồng bảo lãnh chấm dứt, có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh trả khoản nợ mà mình đã trả
nợ thay.
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba được thực hiện dưới hình thức thế chấp hay
cầm cố nên ngân hàng áp dụng mức cho vay như trong trường hợp bảo đảm tiền vay bằng
cầm cố hay thế chấp tài sản của chính khách hàng vay. Khi cho vay theo hình thức này ngân
hàng gặp nhiều rủi ro, vì vậy ngân hàng phải tiến hành thẩm định một cách chặt chẽ về bên
thứ ba, xem xét kỹ khả năng tài chính, tình trạng tài sản và uy tín của bên bảo lãnh. Mỗi lần
bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải phát hành thư bảo lãnh của mình.
Đối với các tài sản của bên thứ ba thì phải có đủ các điều kiện bảo đảm tiền vay, còn
bên thứ ba thì phải đủ các điều kiện :
- Đối với pháp nhân, cá nhân Việt Nam: Bên bảo lãnh phải có năng lực pháp luật dân
sự, năng lực hành vi dân sự theo qui định của pháp luật việt Nam.
- Đối với bên bảo lãnh là pháp nhân, cá nhân nước ngoài : Có năng lực pháp luật dân
sự, năng lực hành vi dân sự theo qui định pháp luật của nước mà bên bảo lãnh là pháp nhân
nước ngoài có quốc tịch hoặc cá nhân nước ngoài là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó
được Bộ luật dân sự của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác
của Việt Nam qui định hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký
kết hoặc tham gia qui định, trong trường hợp pháp nhân,cá nhân nước ngoài xác lập, thực
hiện việc bảo lãnh tại Việt Nam, thì phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân

- Có mức vốn tự có tham gia vào dự án đầu tư và giá trị tài sản bảo đảm tiền vay bằng các
biện pháp cầm cố, thế chấp tối thiểu bằng 15% vốn đầu tư của dự án hoặc phương án đó.
Các tài sản này phải đáp ứng được về quyền sở hữu, sử dụng, được phép giao dịch,
phải xác định được giá trị, số lượng, dễ bán, dễ chuyển nhượng, ít bị mất giá. Tài sản là vật
tư, hàng hoá ngân hàng phải quản lý, giám sát được tài sản bảo đảm trong quá trình hình
thành và sau khi hình thành. Đối với tài sản mà pháp luật qui định phải mua bảo hiểm, thì
khách hàng vay phải cam kết mua bảo hiểm trong suốt thời hạn vay vốn khi tài sản đã được
hình thành đưa vào sử dụng.
Hình thức này hạn chế được người vay bán tài sản được hình thành từ vốn vay, tuy
nhiên cũng mang lại cho ngân hàng rủi ro khi người vay không trả được nợ, thì phần lớn tài
sản này khi khách hàng sử dụng cho sản xuất kinh doanh một phần bị hao mòn, giảm giá,
không bảo đảm cho ngân hàng thu đủ cả gốc và lãi.
1.3.3 Quy trình cho vay có bảo đảm bằng tài sản
Quy trình cho vay có bảo đảm bằng tài sản như sau :
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
Nhận và kiểm
tra hồ sơ TSBĐ
Quyết định mức
cho vay
Thẩm định và
xác định giá trị
TSBĐ
Tái thẩm định,
tái định giá
TSBĐ
Xử lý tài sản
sau định giá
TSBĐ
khách hàng đã đóng bảo hiểm hay chưa…Việc thẩm định các điều kiện liên quan đến TSBĐ
được tiến hành trên cơ sở các nguồn thông tin như: hồ sơ tài liệu và thông tin do khách hàng
cung cấp, khảo sát thực tế từ cơ sở, nguồn tin từ các cơ quan có thẩm quyền cấp các giấy tờ
liên quan đến TSBĐ, hoặc thu thập thông tin từ các nguồn Chính quyền địa phương, công
an, toà án, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, các ngân hàng khác…
Sau khi khẳng định tài sản có đủ điều kiện để bảo đảm cho khách hàng có thể vay
vốn thì các cán bộ thẩm định tiến hành việc xác định giá trị TSBĐ nhằm làm cơ sở mức cho
vay tối đa và tính toán khả năng thu hồi nợ vay trong trường hợp xử lý TSBĐ.
Việc định giá TSBĐ phải do tổ thẩm định của ngân hàng hoặc thuê cơ quan chức
năng chuyên môn thực hiện và phải định giá theo các nguyên tắc sau :
- Tài sản bảo đảm tiền vay phải được xác định giá trị tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm,
việc xác định giá trị tài sản tại thời điểm này chỉ làm cơ sở mức cho vay của ngân hàng,
không áp dụng khi xử lý tài sản để thu hồi nợ. Việc xác định giá trị tài sản bảo đảm tiền vay
phải được thành lập văn bản riêng, hoặc ghi vào hợp đồng bảo đảm, hợp đồng tín dụng.
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
Luận văn tốt nghiệp
- Việc định giá tài sản bảo đảm phải căn cứ vào giá thực tế có thể mua bán, chuyển nhượng
tại thời điểm định giá, không được định giá tài sản bảo đảm cao hơn mức giá có thể mua
bán, chuyển nhượng tại thời điểm định giá.
- Giá trị tài sản bảo đảm được xác định bao gồm cả hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh từ
tài sản đó. Trường hợp tài sản thế chấp là toàn bộ bất động sản có vật phụ thì giá trị vật phụ
cũng thuộc tài sản thế chấp
Việc định giá phải căn cứ vào các cơ sở pháp lý hoặc cơ sở thực tế, bảo đảm tính
khách quan, minh bạch, cán bộ thẩm định không được đánh giá TSĐB trái với qui định của
pháp luật và của NHCT.
Xác định giá trị tài sản bảo đảm không phải là quyền sử dụng đất :
Đối với TSBĐ là máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải thì xác định giá trị theo giá
mua bán thực tế hoặc theo giá trị còn lại (đã trừ khấu hao) dựa vào hoá đơn, hợp đồng mua
bán (đối với tài sản mới mua) hoặc giá trị còn lại trên sổ sách kế toán (tài sản cũ) nhưng
không vượt quá giá có thể mua bán thực tế trên thị trường.

trị TSBĐ, thường 50%-70%, tuy nhiên để xác định được mức cho vay an toàn ngân hàng
còn căn cứ vào đặc điểm, tính chất của từng TSBĐ cụ thể như mức độ giảm giá, mức độ dễ
hư hỏng, khả năng xử lý tài sản, khả năng quản lý tài sản, ngoài ra mức cho vay còn phụ
thuộc vào chủ trương, chính sách của mỗi ngân hàng trong từng thời kỳ.
• Ký hợp đồng và quản lý tài sản bảo đảm:
Các điều khoản về bảo đảm tiền vay của khách hàng chỉ có giá trị pháp lý khi được
thể hiện bằng một hợp đồng bảo đảm, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ
tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng. Do đó hợp đồng bảo đảm phải được soạn thảo kỹ
càng, tuân thủ nghiêm nghặt các quy định của pháp luật và của NHCT.
Quản lý tài sản bảo đảm bao gồm việc theo dõi, kiểm tra, đánh giá nhằm bảo đảm tài
sản bảo đảm, và các giấy tờ vẫn đang trong tình trạng bình thường hoặc kịp thời phát hiện
các sự cố liên quan làm giảm giá trị của TSBĐ và các giấy tờ liên quan. Nếu phát hiện khách
hàng hay bên thứ ba vi phạm hợp đồng ngân hàng cần thực thi các biện pháp thích hợp.
Trường hợp TSBĐ do khách hàng vay, bên thứ ba quản lý và sử dụng thì ít nhất 06
tháng/lần cán bộ tín dụng cần kiểm tra theo các nội dung : tình trạng hiện tại của tài sản như
thế nào, kiểm tra những thay đổi về số lượng và chất lượng so với hiện trạng khi nhận tài
sản, tình hình sử dụng và bảo quản, các trường hợp vi phạm hợp đồng bảo đảm của khách
hàng, bên thứ ba.
Trường hợp tài sản bảo đảm do chính ngân hàng quản lý. Đối với giấy tờ có giá thì
sau khi nhận bàn giao giấy tờ có giá từ khách hàng thì cán bộ thẩm định tiến hành thủ tục
bàn giao và bảo quản giấy tờ có giá tại phòng ngân quỹ của chi nhánh. Cán bộ tín dụng nên
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
Luận văn tốt nghiệp
giữ bản sao toàn bộ các giấy tờ có giá gửi lưu giữ tại phòng ngân quỹ để tiện cho quá trình
làm việc, tránh tình trạng cán bộ tín dụng lấy lại, xem lại giấy tờ có giá nhiều lần. Còn đối
với các tài sản bảo đảm khác như là nhà cửa, Ô tô, hàng hoá…ngân hàng buộc phải trực tiếp
quản lý và bảo quản, trong trường hợp này ngân hàng nên thuê bên thứ ba bảo quản hộ nếu
ngân hàng không có kho riêng hoặc không có nhân sự có chuyên môn.
• Thanh lý hợp đồng:
Khi đến hạn thanh toán, nếu khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của

Các chi phí phát sinh trong xử lý tài sản bảo đảm tiền vay do khách hàng vay, bên
bảo lãnh chịu. Tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm tiền vay sau khi trừ chi phí xử lý, thì
ngân hàng thu nợ theo thứ tự: nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn, các khoản chi phí khác (nếu có).
Tài sản bảo đảm tiền vay sau khi được xử lý nếu không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì
khách hàng vay, bên bảo lãnh phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
Về cơ bản trình tự thủ tục nhận tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay cũng giống
như trình tự thủ tục nhận tài sản cầm cố, thế chấp thông thường, nhưng cần phải lưu ý thêm
một số vấn đề.
Trường hợp bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay theo quyết định của Chính
phủ thì ngân hàng phải lưu giữ các công văn, giấy tờ có liên quan và thực hiện theo điều
kiện, trình tự thủ tục phù hợp với quyết định đó.
Việc xác định giá trị tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay cần chú ý đến thời gian
từ khi tài sản chưa hình thành đến khi đã hình thành. Khi tài sản chưa hình thành thì giá mua
tài sản, chi phí phải trả để hình thành là cơ sở để xác định giá trị tài sản, giá trị này không
được vượt dự toán được duyệt và giá trị tài sản thoả thuận ghi trên hợp đồng mua bán đã ký.
Khi tài sản đã hình thành thì việc xác định giá trị tài sản được thực hiện như việc xác định
giá trị tài sản trong trường hợp thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba nhưng không
được vượt giá trị được quyết toán.
Định kỳ, ngân hàng phải tiến hành đánh giá lại giá trị tài sản bảo đảm nhằm tránh
những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra. Việc đánh giá được tiến hành trong những trường hợp
như : Khi hết thời hạn 06 tháng đối với động sản và 01 năm đối với động sản kể từ lần định
giá gần nhất, giá trị tài sản bị giảm hư hỏng, lạc hậu, mất mát, thực hiện gia hạn nợ, điều
chỉnh kỳ hạn nợ, xử lý để thu hồi nợ, giá trị thị trường của tài sản có biến động giảm so với
lần định giá gần nhất…Cán bộ tín dụng chịu trách nhiệm thường xuyên theo dõi để xác định
và đề nghị thời điểm cần đánh giá lại giá trị tài sản bảo đảm.
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản
1.3.4.1 Yếu tố thuộc về khách hàng
Để bảo đảm hoạt động an toàn và sinh lợi ngân hàng thường cho vay khi xét thấy
khách hàng vay có hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả, có tài sản bảo đảm đáp ứng được các
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q

- Chất lượng nhân sự của ngân hàng.
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
Luận văn tốt nghiệp
Cán bộ tín dụng là người trực tiếp thẩm định, đánh giá khách hàng,đánh giá tài sản
bảo đảm để đề xuất các biện pháp bảo đảm tiền vay có thể áp dụng đối với khách hàng. Vì
vậy chất lượng cán bộ tín dụng là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất.
Khi nhân viên tín dụng cho khách hàng vay vốn mà họ không đủ trình độ đánh giá
khách hàng, đánh giá tài sản bảo đảm không sát thực, không có khả năng dự đoán các vấn đề
liên quan đến người vay cũng như tài sản bảo đảm…thì rủi ro luôn rình rập họ.
Một ngân hàng có đội ngũ cán bộ có trình độ, có kinh nghiệm và kiến thức thực tiễn
giúp cho việc thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng đó được tốt hơn. Hay có một đội ngũ
am hiểu luật pháp, có khả năng phân tích tình hình biến động của thị trường giúp ngân hàng
giám định tính chất pháp lý của TSBĐ được dễ dàng hơn và việc đánh giá, định giá giá trị
TSBĐ một cách sát thực hơn. Bên cạnh đó thì đạo đức tư cách, tinh thần trách nhiệm, sự
cống hiến của của cán bộ ngân hàng cũng là yếu tố góp phần vào sự phát triển ngân hàng
một cách an toàn, lành mạnh và hiệu quả hơn. Vì vậy ngân hàng phải đào tạo một đội ngũ
cán bộ tín dụng không những có chuyên môn mà còn phải có đạo đức nghề nghiệp để có thể
đưa ra những quyết định mang lại hiệu quả kinh tế cao đối với ngân hàng.
- Công tác thẩm định tài sản bảo đảm
Tài sản bảo đảm là cở sở để ngân hàng quyết định cho vay với thời gian, số tiền vay,
và hình thức bảo đảm tiền vay hợp lý. Vì vậy công tác thẩm định tài sản rất quan trọng. Mục
đích của công tác thẩm định giúp ngân hàng biết được tính khả thi, hiệu quả kinh tế, khả
năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra để đưa ra quyết định cho vay phù hợp. Đánh giá tài
sản bảo đảm quá cao hoặc quá thấp so với giá trị thị trường đều ảnh hưởng không tốt đến cả
ngân hàng và khách hàng. Tuy nhiên để có thể làm tốt công tác bảo đảm tiền vay thì ngân
hàng cần phải có quy trình thẩm định tài sản bảo đảm phù hợp và khoa học. Ngoài ra ngân
hàng cũng cần phải thu thập những thông tin từ nhiều nguồn khác về tài sản bảo đảm để
đánh giá chính xác hơn về tài sản. Bên cạnh đó ngân hàng nên thuê những chuyên gia thích
hợp để thẩm định những tài sản thuộc lĩnh vực chuyên môn khó mà cán bộ ngân hàng không
am hiểu nhiều, để có thể đánh giá được giá trị đích thực của tài sản bảo đảm nhằm đạt được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status