Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cơ khí- Điện Thuỷ Lợi - Pdf 78

Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
Lời nói đầu
Hoà vào xu thế mở cửa, hội nhập của nền kinh tế quốc tế của thế giới
trong thế kỷ 21, các doanh nghiệp Việt Nam đã không ngừng cố gắng nâng cao
trình độ quản lý, hiện đại hoá dây truyền sản xuất, cải tiến mẫu mã, giảm giá
thành sản phẩm để nâng cao tính cạnh tranh và tạo cho mình một chỗ đứng
vững chắc trên thị trờng.
Hạch toán kế toán là một công cụ quan trọng trong hệ thống quản lý kinh
tế tài chính, giữ vai trò tích cực trong việc điều hành và kiểm soát các hoạt động
kinh doanh. Là một khâu của hạch toán kế toán, công tác kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp giữ vai trò hết sức quan
trọng. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu chất lợng tổng hợp
phản ánh trình độ quản lý, sử dụng tài sản, vật t, lao động, cũng nh trình độ tổ
chức sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp, là th-
ớc đo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc kế toán chi phí sản xuất kinh
doanh không chỉ dừng lại ở chỗ tính đúng, tính đủ mà còn phải tính đến việc
cung cấp thông tin cho công tác quản trị doanh nghiệp. Mặt khác, việc quản lý
chi phí và giá thành một cách hợp lý còn có tác dụng tiết kiệm các nguồn lực
cho doanh nghiệp, giúp hạ giá thành sản phẩm tạo điều kiện để cho doanh
nghiệp tích luỹ, góp phần cải thiện đời sống công nhân viên. Chính vì vậy, để
phát huy tốt chức năng của mình, việc tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm cần phải đợc cải tiến và hoàn thiện nhằm đáp ứng
yêu cầu quản lý ngày càng cao của doanh nghiệp.
Xuất phát từ nhu cầu và vai trò trên, qua thời gian thực tập tại công ty Cơ
khí- Điện Thuỷ Lợi em đã lựa chọn đề tài:
Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại công ty Cơ khí- Điện Thuỷ Lợi làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn tốt nghiệp của em.
Ngoài lời nói đầu và kết luận, bố cục luận văn gồm các nội dung sau:
1
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh

toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ giúp cho doanh nghiệp nhìn
nhận đúng đắn thực trạng quá trình sản xuất, quản lý cung cấp các thông tin
một cách kịp thời chính xác cho bộ máy lãnh đạo của doanh nghiệp để có
những biện pháp, chiến lợc, sách lợc phù hợp nhằm tiết kiệm tối đa chi phí góp
phần hạ giá thành sản phẩm. Đồng thời làm tốt công tác tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp có kế hoạch sử dụng vốn
hiệu quả, đảm bảo tính chủ động trong sản xuất kinh doanh.
3
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
- Đối với nhà nớc: Làm tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sẽ giúp cho nhà nớc có cái nhìn
tổng thể toàn diện đối với sự phát triển của nền kinh tế, từ đó đa ra các đờng lối
chính sách phù hợp để phát triển các doanh nghiệp thực sự làm ăn có hiệu quả
và hạn chế quy mô các doanh nghiệp sản xuất thua lỗ triền miên không có khả
năng khắc phục nhằm đảm bảo cho sự phát triển không ngừng của nền kinh tế
đất nớc. Mặt khác, công tác này còn ảnh hởng trực tiếp đối với các khoản thuế
mà nhà nớc phải chú trọng và quan tâm đến công tác này trong các doanh
nghiệp.
- Đối với các bên liên quan: Nh ngân hàng, đối tác thì việc tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp cũng rất quan
trọng. Một doanh nghiệp làm ăn có lãi chắc chắn sẽ chiếm đợc giao thầu. Công
tác này có ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động của ngân hàng cũng nh của đối tác.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trờng công tác tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong doanh nghhiệp là vô cùng quan trọng nó ảnh h-
ởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, quyền lợi của các
bên có liên quan.
1.1.2/ Khái niệm, kết cấu và phân loại chi phí sản xuất
1.1.2.1/ Khái niệm chi phí sản xuất
Sự phát triển của xã hội loài ngời gắn liền với quá trình sản xuất, sản xuất
chính là quá trình kết hợp của ba yếu tố: T liệu lao động, đối tợng lao động và

nhiên liệu đợc sử dụng trực tiếp vào việc chế tạo sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Là các khoản trả cho ngời lao động trực tiếp
sản xuất nh tiền công, tiền lơng và các khoản phụ cấp có tính chất lơng, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản
xuất.
+ Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí chung phát sinh ở các phân
xởng nh tiền lơng và các khoản phụ cấp trả cho nhân viên phân xởng.
5
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
Chi phí bán hàng: Gồm các khoản chi phí phát sinh trong quá trình
tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ nh tiền lơng, các khoản phụ cấp
có tính chất lơng trả cho nhân viên bán hàng, tiếp thị đóng gói, vận
chuyển, bảo quản , khấu hao tài sản cố định, chi phí vật liệu bao bì,
dụng cụ, chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí quảng cáo
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Gồm có các khoản chi cho bộ máy
quản lý và điều hành doanh nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động
chung của doanh nghiệp nh chi phí về lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố
định phục vụ cho bộ máy quản lý- điều hành doanh nghiệp, các chi phí
phát sinh ở phạm vi toàn doanh nghiệp nh chi phí vật liệu, đồ dùng văn
phòng, lãi vay vốn kinh doanh, vốn đầu t tài sản cố định, dự phòng
Nh vậy, chi phí sản xuất kinh doanh là tổng hợp từ ba chi phí bộ phận là:
Chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và đợc khái quát
theo công thức sau:
CPSXKD = CPSXSP + CPBH + CPQLDN
Trong đó: CPSXKD : Là chi phí sản xuất kinh doanh
CPSXSP : Là chi phí sản xuất sản phẩm
CPQLDN : Là chi phí quản lý doanh nghiệp
Do hoạt động chính của doanh nghiệp là sản xuất sản phẩm hàng hoá nên
chi phí sản xuất sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên tỷ trọng giữa các yếu tố chi phí trong tổng

xây dựng và phân tích định mức vốn lu động cũng nh lập, kiểm tra và phân tích
dự toán chi phí. Theo quy định hiện hành thì toàn bộ chi phí đợc chia thành các
yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Gồm toàn bộ giá trị nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ sử dụng vào sản
xuất kinh doanh (loại trừ giá trị không dùng hết nhập lại kho và phế liệu thu
hồi).
7
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
- Tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng: Là toàn bộ tiền lơng và phụ cấp
có tính chất lơng mà doanh nghiệp phải trả cho công nhân viên chức trong kỳ.
- Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn: Đây là
khoản chi phí đợc trích lập theo tỷ lệ % tính theo lơng và quy định hiện hành thì
chiếm 19% trên tổng lơng.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số tiền trích khấu hao
trong kỳ của các loại tài sản cố định trong doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các khoản chi về điện, nớc, điện thoại,
tiền trả hoa hồng đại lý, uỷ thác và môi giới xuất- nhập khẩu, quảng cáo và các
dịch vụ mua ngoài khác.
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các chi phí bằng tiền chi cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài các khoản chi phí đã kể trên.
Cách phân loại này rất cần thiết cho công tác kế toán, nó có u điểm là cho
biết đợc kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong
kỳ để làm căn cứ để lập thuyết minh báo cáo tài chính phần: Chi phí sản xuất
kinh doanh theo yếu tố phục vụ cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp
và phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí trong doanh nghiệp.
* Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng
Cơ sở của phơng pháp này là dựa vào công dụng kinh tế của chi phí, địa
điểm phát sinh cũng nh mức phân bổ chi phí cho từng đối tợng. Theo quy định,
giá trị toàn bộ của sản phẩm bao gồm các yếu tố sau:

ngoài, thuê ngoài để sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xởng sản
xuất nh chi phí về điện, nớc, điện thoại, thuê sửa chữa tài sản cố định.
+ Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm các khoản chi bằng tiền ngoài các
khoản chi đã kể trên, sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xởng sản
xuất.
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng kinh tế có tác dụng
phục vụ cho việc quản lý chi phí theo định mức; là cơ sở cho kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục; là căn cứ để phân tích
tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức cho kỳ sau.
9
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
* Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí với khối l-
ợng sản phẩm, công việc, lao vụ
Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất kinh doanh với khối lợng
hoạt động (tính theo sản lợng hàng hoá hoặc doanh thu), ngời ta chia chi phí
làm ba loại:
- Chi phí khả biến hoặc biến phí: Là các khoản chi phí thay đổi tỷ lệ
thuận với khối lợng sản xuất ra. Sự thay đổi này chỉ đúng khi ta xét về tổng thể
chi phí trên khối lợng tổng sản phẩm hàng hoá sản xuất ra nhng nếu tính cho
một đơn vị sản phẩm thì lại không đổi. Những chi phí thuộc về chi phí khả biến
gồm có: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhiên liệu, động lực, tiền lơng công
nhân trực tiếp sản xuất, hoa hồng đại lý và các khoản chi phí khác.
- Chi phí bất biến (hay còn gọi là định phí): Là các khoản chi phí không
đổi khi khối lợng sản phẩm sản xuất ra thay đổi trong một phạm vi nhất định
nào đó. Ngợc lại, chi phí bất biến tính về tổng thể (trong phạm vi giới hạn khối
lợng sản phẩm sản xuất ra) là không đổi nhng chi phí bất biến tính cho một đơn
vị sản phẩm sẽ giảm đi khi khối lợng sản phẩm sản xuất ra tăng lên và ngợc lại.
Những chi phí thuộc về biến phí bao gồm : Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi
phí bảo dỡng máy móc thiết bị, tiền lơng bộ phận quản lý doanh nghiệp, tiền
thuê nhà xởng, đất đai máy móc, chi phí bảo hiểm

Ngoài các cách phân loại chi phí trên, ngời ta còn phân loại chi phí sản
xuất theo các tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên việc lựa chọn tiêu thức phân loại
nào là tuỳ thuộc vào tính chất, địa điểm, ngành nghề kinh doanh và mục tiêu
quản lý.
1.1.3/ Giá thành sản phẩm
1.1.3.1/ Khái niệm, bản chất và nội dung của giá thành sản phẩm
* Khái niệm
Sự vận động của quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp sản xuất
bao gồm hai mặt đối lập nhau nhng có liên quan mật thiết với nhau. Một là chi
phí mà doanh nghiệp bỏ ra, hai là kết quả sản xuất mà doanh nghiệp thu đợc.
11
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
Những sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định đã hoàn thành phục vụ cho nhu
cầu tiêu dùng của xã hội cần đợc tính giá thành.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công tác, sản phẩm,
lao vụ đã hoàn thành trong kỳ (tháng, quý, năm). Những khoản chi phí nào
phát sinh (bao gồm cả kỳ trớc chuyển sang và phát sinh trong kỳ) và chi phí
trích trớc có liên quan đến khối lợng sản phẩm dịch vụ trong kỳ sẽ tạo nên giá
thành sản phẩm. Hay nói cách khác bản chất của giá thành sản phẩm là tập hợp
các chi phí sản xuất nhng đợc kết tinh trong sản phẩm đã hoàn thành. Do đó khi
muốn xác định giá thành của sản phẩm thì ta phải xác định và tập hợp chi phí đ-
ợc một cách chính xác các khoản chi phí sản xuất đã phát sinh từ đó tiến hành
quy nạp các chi phí.
* Chức năng của giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lợng tổng hợp có ý nghĩa quan trọng
đối với công tác quản lý doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Tính tổng hợp của chỉ tiêu này đợc biểu hiện ở chỗ thông qua nó ngời ta có
thể đánh giá đợc hiệu quả của quá trình sản xuất, chứng minh đợc khả năng
phát triển và sử dụng các yếu tố vật chất đã thực sự tiết kiệm và hợp lý cha.

cả phải có khả năng bù đắp hao phí vật chất để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,
đảm bảo cho các doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất bình thờng cũng có thể
bù đắp đợc hao phí để thực hiện tái sản xuất và sản xuất mở rộng. Để thực hiện
đợc yêu cầu bù đắp hao phí vật chất này, thì khi xác định giá cả phải căn cứ vào
giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên giá thành sản phẩm không phải là căn cứ duy nhất để doanh
nghiệp xác định giá cả sản phẩm của mình mà còn phải căn cứ vào giá thành
bình quân của ngành, tính hợp lý của chi phí và quá trình sản xuất.
Giá cả là biểu hiện mặt giá trị của sản phẩm chứa đựng trong nó nội dung
bù đắp hao phí vật chất dùng để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nên việc lấy giá
thành làm căn cứ lập giá là yêu cầu khách quan, vốn có trong nền sản xuất hàng
hoá và đợc biểu hiện đầy đủ trong nền kinh tế thị trờng, mọi sự thoát ly cơ sở
13
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
lập giá thành sẽ làm cho giá cả không còn tính chất đòn bẩy để phát triển sản
xuất kinh doanh mà sẽ kìm hãm sản xuất, gây ra những rối loạn trong sản xuất
và lu thông hàng hóa.
- Chức năng đòn bẩy
Doanh lợi của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào giá thành
sản phẩm. Hạ thấp giá thành sản phẩm là biện pháp cơ bản để tăng doanh lợi
tạo nên tích luỹ để tái sản xuất và mở rộng sản xuất.
Cùng các phạm trù kinh tế nh giá cả, lãi, chất lợng, thuế giá thành sản
phẩm thực tế đã trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy các doanh
nghiệp tăng cờng hiệu quả kinh doanh phù hợp với nguyên tắc hạch toán kinh
doanh. Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng tính chất đòn bẩy kinh tế của giá
thành đặt ra yêu cầu cho từng bộ phận sản xuất và phải có biện pháp hữu hiệu
vừa tiết kiệm đợc chi phí, vừa sử dụng chi phí một cách hợp lý nhất đối với từng
loại hoạt động, từng khoản chi phí cụ thể.
1.1.3.2/ Phân loại giá thành sản phẩm
Để đáp ứng các yêu cầu về quản lý, kế toán và kế hoạch hoá giá thành

Để phục vụ cho quyết định cụ thể, chỉ tiêu giá thành tính toán theo các
phạm vi chi phí khác nhau, theo tiêu thức này có các loại giá thành sau:
- Giá thành sản xuất (giá thành công xởng): Là chỉ tiêu phản ánh toàn
bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm
trong phạm vi phân xởng sản xuất. Các chi phí này gồm có chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tính cho
những sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành. Nó là căn cứ để tính giá vốn
hàng bán và lãi gộp.
- Giá thành toàn bộ (hay giá thành tiêu thụ): Là chỉ tiêu phản ánh toàn
bộ các khoản chi phát sinh liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Giá thành tiêu thụ đợc xác định theo công thức sau:

15
Giá thành toàn
bộ sản phẩm
tiêu thụ
=
Giá thành sản
xuất sản phẩm
tiêu thụ
+
Chi phí
bán
hàng
Chi phí quản
lý doanh
nghiệp
+
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
Giá thành toàn bộ chỉ đợc xác định khi sản phẩm, công việc, lao vụ đợc

và giá thành sản phẩm đợc thể hiện khái quát thông qua
công thức tính giá thành sản phẩm giản đơn sau:
Z = Dđk + C - Dck
Trong đó:
Z : Tổng giá thành sản phẩm
Dđk, Dck : Trị giá sản phẩm làm dở đầu kỳ, cuối kỳ
C : Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
1.1.3.4/ Nhiệm vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Xuất phát từ yêu cầu quản lý và tầm quan trọng của quản lý, hạch toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Xác định đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá
thành phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp và yêu cầu quản lý.
- Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm phải phù hợp phơng pháp kế toán hàng tồn kho mà doanh
nghiệp đã chọn.
- Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất theo đúng đối
tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất đã xác định, theo các yếu tố chi phí và
khoản mục giá thành.
- Lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố (trên thuyết minh báo cáo tài
chính); định kỳ tổ chức phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở
doanh nghiệp.
- Tổ chức kiểm kê và đánh giá khối lợng sản phẩm dở dang khoa học, hợp
lý, xác định giá thành và hạch toán giá thành sản phẩm hoàn thành sản xuất
trong kỳ một cách đầy đủ và chính xác.
1.2/ Phơng pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.2.1/ Đối tợng và phơng pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đợc chính xác,
đòi hỏi công việc đầu tiên mà nhà quản lý phải làm là xác định đối tợng hạch
toán chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành sản phẩm. Có xác định đợc
đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất thì mới tổ chức đúng đắn khoa học, hợp

nhóm chi tiết sản xuất bộ phận sản phẩm, còn đối tợng tính giá thành là thành
phẩm ở từng bớc chế tạo.
18
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
- Căn cứ vào loại hình sản xuất ta chia thành:
+ Với loại hình sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt với khối lợng
nhỏ: Đối tợng hạch toán chi phí là các đơn đặt hàng riêng biệt, còn đối tợng tính
giá thành là sản phẩm của từng đơn đặt hàng.
+ Với sản xuất hàng loạt, khối lợng lớn: Đối tợng hạch toán chi phí sản
xuất phụ thuộc vào quy trình công nghệ sản xuất (giản đơn hay phức tạp). Đối t-
ợng tính giá thành sản phẩm có thể là sản phẩm cuối cùng hoặc bán thành phẩm
nh trên.
Việc xác định mối quan hệ và sự khác nhau giữa đối tợng hạch toán chi
phí sản xuất và đối tợng tính giá thành sản phẩm là vấn đề có ý nghĩa lớn mang
tính định hớng cho tổ chức hạch toán đồng thời thể hiện đợc mục đích phạm vi
tiến hành hai giai đoạn của công tác kế toán nêu trên.
Trên cơ sở đối tợng hạch toán chi phí, kế toán lựa chọn phơng pháp hạch
toán chi phí thích ứng. Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phơng
pháp hay hệ thống các phơng pháp đợc sử dụng để tập hợp và phân loại các chi
phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của đối tợng hạch toán chi phí. Về cơ bản,
phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất bao gồm các phơng pháp hạch toán chi
phí theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công nghệ Nội dung
chủ yếu của các phơng pháp này là mở thẻ (hoặc sổ) chi tiết hạch toán chi phí
sản xuất theo từng đối tợng đã xác định, phản ánh các chi phí phát sinh có liên
quan đến đối tợng, hàng tháng tổng hợp chi phí theo từng đối tợng. Mỗi phơng
pháp hạch toán chi phí chỉ thích hợp với một loại đối tợng hạch toán chi phí nên
tên gọi của các phơng pháp này là biểu hiện đối tợng mà nó cần tập hợp và phân
loại chi phí.
1.2.2/ Trình tự kế toán và tổng hợp chi phí sản xuất
Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất của từng ngành nghề, từng doanh nghiệp,

tiêu thức phân bổ là chi phí định mức, chi phí kế hoạch, khối lợng sản phẩm sản
xuất.
- Với chi phí nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, vật liệu có thể lựa chọn tiêu
thức phân bổ là chi phí định mức,chi phí kế hoạch, chi phí thực tế của nguyên
vật liệu chính, khối lợng sản phẩm sản xuất.
20
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
Trình tự phân bổ nh sau:
+ Xác định hệ số phân bổ
+ Tính số chi phí phân bổ cho từng đối tợng:
Để tập hợp và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài
khoản 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Kết cấu TK 621
Bên nợ: Trị giá thực tế nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng cho sản
xuất sản phẩm hoặc thực hiện công việc, dịch vụ, lao vụ trong kỳ.
Bên có: - Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng không hết nhập lại kho.
- Trị giá phế liệu thu hồi
- Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá
thành sản phẩm.
Tài khoản 621 không có số d.
Sơ đồ 1.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
21
Hệ số
phân bổ
=
Tổng chi phí nguyên vật liệu cần phân bổ
Tổng tiêu thức phân bổ
Chi phí nguyên vật
liệu phân bổ cho
từng đối tượng

bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo số tiền lơng của công nhân sản xuất.
Với chi phí này nếu tiền công đã trả theo sản phẩm hoặc tiền công tiền
công thời gian có quan hệ với từng đối tợng cụ thể thì hạch toán trực tiếp cho
từng đối tợng chịu chi phí đó. Còn nếu tiền lơng công nhân sản xuất trực tiếp có
liên quan đến nhiều đối tợng thì ta tiến hành phân bổ.
Trong trờng hợp phân bổ gián tiếp thì tiêu thức phân bổ chi phí nhân công
trực tiếp có thể là: Chi phí tiền công định mức, công giờ định mức, công thực tế,
khối lợng sản phẩm sản xuất
Kế toán sử dụng tài khoản 622- Chi phí nhân công trực tiếp để tập hợp và
phân bổ chi phí nhân công trực tiếp.
Kết cấu:
Bên nợ: Chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ
Bên có: Số kết chuyển (hoặc phân bổ) chi phí nhân công trực tiếp cho các
đối tợng chịu chi phí vào cuối kỳ.
Tài khoản 622 không có số d cuối kỳ và đợc mở chi tiết theo từng đối tợng
tập hợp chi phí.
Sơ đồ 1.2 kế toán chi phí nhân công trực tiếp
22
TK 334 TK 622 TK 154
Tiền lương phải trả
CNSX trực tiếp
TK 335
Trích trước tiền
lương nghỉ cho CNSX
trực tiếp
TK 338
Các khoản trích
theo lương
Kết chuyển
( hoặc phân bổ)

TK214
Chi phí khấu hao
TSCĐ
TK111,112,331
Chi phí khác liên
quan
Kết chuyển
( hoặc phân bổ)
chi phí SXC
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
Trong trờng hợp mỗi đơn vị, mỗi bộ phận sản xuất chỉ tiến hành sản xuất
một loại sản phẩm, một loại công việc hay lao vụ nhất định; chi phí sản xuất
chung của mỗi bộ phận đơn vị đó là chi phí trực tiếp và đợc kết chuyển trực tiếp
cho loại sản phẩm, công việc hay lao vụ đó.
Nếu có nhiều loại sản phẩm, công việc hoặc lao vụ, chi phí sản xuất chung
của từng bộ phận, đơn vị đợc phân bổ cho các đối tợng liên quan theo tiêu
chuẩn phân bổ nhất định. Có thể phân bổ theo tổng số chi phí phát sinh, cũng có
thể phân bổ theo từng bộ phận chi phí sản xuất chung đã tập hợp đợc trên tài
khoản cấp 2 của tài khoản 627. Tiêu chuẩn sử dụng để phân bổ chi phí sản xuất
chung có thể là: Chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
tổng số chi phí sản xuất cơ bản, dự toán (định mức) chi phí sản xuất chung.
1.2.3.4/ Kế toán chi phí trả trớc
Chi phí trả trớc là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhng cha tính hết
vào chi phí sản xuất kinh doanh của kỳ này mà đợc tính cho hai hay nhiều kỳ
hạch toán sau đó.
Chi phí trả trớc bao gồm:
- Công cụ, dụng cụ phát sinh một lần với giá trị lớn và công cụ dung cụ
phân bổ từ hai lần trở lên.
- Giá trị sửa chữa lớn tài sản cố định.
- Chi phí nghiên cứu, thí nghiệm, phát minh, sáng chế...

Chi phí phải trả (còn gọi là chi phí trích trớc): Là những khoản chi phí thực
tế cha phát sinh nhng đợc ghi nhận là chi phí của kỳ hạch toán.
Chi phí phải trả trong doanh nghiệp thờng bao gồm:
25
TK111, 112, 153, 331... TK142(1) TK627, 641, 642...
Các khoản chi phí
trả trước phát sinh
TK133
Phân bổ chi phí trả trư
ớc cho CPSXKD
TK142(2)
Kết chuyển CPBH,
CPQLDN
TK911
Kết chuyển
dần hoặc
một lần

Trích đoạn Kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cơ khí-Điện Thuỷ Lợ Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty Chế độ kế toán áp dụng tại công ty Phân loại chi phí sản xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status