Thực trạng chế độ Bảo Hiểm hưu trí tại Bảo Hiểm XH ở VN - Pdf 79

chuyên đề thực tập tốt nghệp
ĐHKTQD

Phần I. Lý luận chung về chế độ bảo hiểm hu trí
I. khái quát chung về quá trình hình thành của chế độ bảo hiểm
hu trí
1. Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm xã hội trên thế giới
Bảo hiểm xã hội đã hình thành một cách khách quan, do nhu cầu, nguyện vọng
chính đáng của ngời lao động và ngời chủ sử dụng lao động. Từ thế kỷ XV đến thế
kỷ XVII, một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời để bảo vệ nhau trong hoạt động
nghề nghiệp và họ đã thành lập nên các quỹ tơng trợ ( nh ở Anh năm 1473 đã
thành lập hội Bằng hữu ) nhằm giúp đỡ các hội viên khi bị ốm đau, tai nạn
Đến năm 1883, Đức cũng đã ban hành luật bảo hiểm ốm đau đầu tiên trên thế giới,
sau đó tiếp tục ban hành luật bảo hiểm tai nạn lao động và luật bảo hiểm ngời già-
ngời tàn tật do lao động vào năm 1884 và 1889. Sau đó một số nớc ở Châu Âu, Bắc
Mỹ tiếp tục đa ra luật bảo hiểm xã hội vào cuối năm 1920. Sự ra đời các bộ luật
chính thức đầu tiên đó phản ánh một yêu cầu tất yếu khách quan của BHXH.
Qua thời gian thực hiện và tiếp tục hoàn thiện các chế độ bảo hiểm chúng ta có
thể hiểu đợc bản chất BHXH:
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với
ngời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao
động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung
nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo
an toàn xã hội .
Nguyên tắc chung trong hoạt động bảo hiểm này là gắn liền quyền lợi đợc hởng
với nghĩa vụ đóng góp. Tuy vậy BHXH chỉ thực sự trở thành một lĩnh vực hoạt
động mang tính chất và ý nghĩa xã hội sâu sắc từ đầu thế kỷ XIX. Quá trình đó gắn
liền với sự phát triển sản xuất công nghiệp, của nền kinh tế thị trờng và thị trờng
sức lao động mà trong đó có quan hệ chủ thợ trong lao động đợc trở nên phổ biến.
Sang thế kỷ XX, hầu hết các nớc trên thế giới mà trớc hết là các nớc công
nghiệp phát triển đều ban hành và thực hiện điều luật về BHXH đối với ngời lao

trong suốt quá trình lao động. Nguồn trợ cấp này tuy ít hơn so với lúc đang làm
việc nhng nó rất quan trọng và cần thiết giúp cho ngời về hu ổn định về mặt vật
chất cũng nh tinh thần trong cuộc sống, tạo cho họ có thêm điều kiện để cống hiến
cho xã hội những kinh nghiệm quý báu trong quá trình lao động sản xuất mà họ đã
tích luỹ đợc nhằm xây dựng đất nớc ngày càng phồn vinh hơn.
Bảo hiểm hu trí bảo đảm quyền lợi cho ngời lao động giúp họ tự bảo vệ mình
khi hết tuổi lao động, tự lo cho chính mình một cách hợp lý nhất nhờ vào việc họ
đã cống hiến sức lao động của mình để tạo ra của cải vật chất cho xã hội trớc đó.
Ngời lao động chỉ cần trích ra một tỷ lệ % tiền lơng tơng đối nhỏ khi còn đang làm
việc trong một thời gian nhất định. Đến khi hết tuổi lao động phải nghỉ việc họ sẽ
có đợc sự bảo đảm của xã hội làm giảm bớt phần nào khó khăn về mặt tài chính do
không còn lao động đợc nữa.
Nh vậy bảo hiểm hu trí là một chế độ mang tính xã hội hóa cao đợc thực hiện
một cách thờng xuyên và đều đặn, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nói cách
khác, chế độ bảo hiểm hu trí lấy đóng góp của thế hệ sau chi trả cho các thế hệ tr-
ớc. Vì vậy, nó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết giữa các thế hệ, làm cho mọi ngời
trong xã hội quan tâm và gắn bó với nhau hơn thể hiện mối quan tâm sâu sắc giữa
ngời với ngời trong xã hội .
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B
2
chuyên đề thực tập tốt nghệp
ĐHKTQD
3. Vai trò của chế độ Bảo hiểm hu trí trong hệ thống các chế độ BHXH
Trong hệ thống các chế độ BHXH thờng bao gồm nhiều chế độ khác nhau ( chế
độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, chế độ hu
trí ). Tuy nhiên các chế độ BHXH đ ợc xây dựng và thực hiện phụ thuộc vào trình
độ phát triển và mục tiêu cụ thể của hệ thống BHXH trong từng thời kỳ của mỗi n-
ớc. Và đặc biệt trong bất cứ hệ thống BHXH nào cũng có những chế độ chính thể
hiện đặc trng những mục tiêu chủ yếu của hệ thống bảo hiểm xã hội. Một trong

ĐHKTQD
Hơn nữa, chế độ bảo hiểm hu trí còn thể hiện đợc sự quan tâm chăm sóc của Nhà
nớc, ngời sử dụng lao động đối với ngời lao động, và nó còn thể hiện đạo lý của
dân tộc đồng thời còn phản ánh trình độ văn minh của một chế độ xã hội .
4. Tác dụng và đặc trng của Bảo hiểm hu trí
4.1 Tác dụng của Bảo hiểm hu trí
bảo hiểm hu trí giúp đảm bảo đời sống cho ngời lao động khi họ về hu do đó
giúp cho xã hội ổn định và gắn bó. Ngày nay, tỷ lệ ngời già trong dân số càng tăng
do đó ổn định đời sống cho bộ phận này là rất quan trọng. Mặt khác, khi nghỉ hu
ngời lao động đợc sống thoải mái hơn và an nhàn hơn. Đối với ngời có trình độ có
khả năng họ lại tiếp tục cống hiến, truyền đạt kinh nghiệm cho thế hệ sau.
Ngời lao động trong quá trình lao động họ có đợc sự bảo đảm chắc chắn về
phần thu nhập khi họ nghỉ hu, làm cho họ yên tâm chú ý, không lo nghĩ về điều
kiện sống khi nghỉ hu do đó có thể làm việc với năng suất và chất lợng cao hơn.
Giúp ngời lao động tiết kiệm cho bản thân mình ngay trong quá trình lao động
để bảo đảm đời sống khi nghỉ hu, giảm bớt phần nào gánh nặng cho ngời thân, gia
đình và xã hội .
4.2 Đặc trng của chế độ Bảo hiểm hu trí
bảo hiểm hu trí là một chế độ BHXH dài hạn nằm ngoài qúa trình lao động.
Đặc trng này thể hiện cả trong quá trình đóng và hởng bảo hiểm hu trí. Ngời lao
động tham gia đóng phí BHXH trong một thời gian khá dài. Thời gian đó liên tục
đủ lớn theo quy định thì sẽ đủ một trong những điều kiện để đợc hởng bảo hiểm hu
trí. Khi đã đủ các điều kiện thì ngời lao động sẽ đợc hởng trợ cấp hu trí trong
khoảng thời gian tính từ lúc về hu cho đến khi ngời lao động chết. Quá trình hởng
này dài, ngắn bao nhiêu tuỳ thuộc vào tuổi thọ của từng ngời và những ngời hởng
bảo hiểm hu trí là những ngời đã kết thúc quá trình làm việc của mình mà theo quy
định đợc nghỉ ở nhà và hởng lơng hu.
Trong chế độ hu trí có sự tách biệt giữa đóng và hởng. Vì đây là một chế độ
nằm ngoài quá trình lao động, cho nên để đợc hởng chế độ hu trí khi về hu thì ngời
lao động phải tham gia đóng phí trong quá trình lao động. Trong suốt quá trình lao

một vai trò quan trọng trong việc xác định chi phí của hệ thống chế độ. Tuổi hởng
chế độ hu trí có thể đợc ấn định theo một loạt các cân nhắc nh :
- Khả năng làm việc tổng thể của ngời cao tuổi
- Vị thế của ngời cao tuổi trong thị trờng lao động
- Khả năng kinh tế của chế độ hu trí
Điều quan trọng là phải cân đối từ giác độ mức hởng thoả mãn đóng và chi phí
liên quan đến tuổi thọ bình quân của ngời cao tuổi. Mặc khác, khi quy định tuổi về
hu còn phải dựa vào quy luật sinh - lão- bệnh - tử và điều kiện kinh tế xã hội của
mỗi nớc.
Ngoài ra, tuổi nghỉ hu còn đợc quy định hạ thấp so với độ tuổi bình quân đối với
những ngời làm những công việc trong điều kiện lao động và môi trờng nặng nhọc,
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B
5
chuyên đề thực tập tốt nghệp
ĐHKTQD
nguy hiểm đã có ảnh hởng nhất định làm suy giảm một phần khả năng lao động so
với bình thờng hay những ngời có thể chất yếu không đủ sức đảm đơng công việc.
2. Thời gian đóng bảo hiểm
Thời gian đóng bảo hiểm hu trí là tổng số đơn vị thời gian có đóng phí bảo hiểm
để đợc hởng chế độ này. Việc quy định thời gian đóng phí BHXH nhằm xác định
sự cống hiến về mặt lao động của mỗi ngời với xã hội nói chung và phần đóng góp
vào BHXH nói riêng. Thời gian đóng BHXH là một trong những căn cứ để đãi ngộ
( chi trả ) đối với ngời lao động nh theo luật định nhằm bảo đảm sự công bằng,
bình đẳng giữa những ngời tham gia bảo hiểm xã hội, thực hiện một trong những
nguyên tắc cơ bản của BHXH .
Việc xác định thời gian đóng phí BHXH đợc dựa trên căn cứ: độ tuổi về hu, tỷ
lệ đóng góp , tuổi thọ của những ngời về hu, mức đợc hởng... tóm lại tuỳ thuộc vào
khả năng tài chính về chế độ hu trí nói riêng và BHXH nói chung... Về nguyên tắc
nếu xuất phát từ việc đóng BHXH để hình thành quỹ sử dụng cho chế độ hu trí thì

Việc xác định phí nộp cho chế độ hu trí riêng ra hay gộp chung nh nói ở trên
tuỳ thuộc điều kiện và mô hình hay phơng thức tổ chức hoạt động ở từng nớc. Nếu
phí cho chế độ hu trí đợc xác định riêng thì sẽ tạo thuận lợi cho việc tính toán và
quản lý cho chế độ này, nhất là khi nó đợc mở rộng ra những khu vực khác nhau
mà ngời lao động ở đó có hình thức thu nhập không đồng nhất nh thu nhập bằng
tiền. Tách riêng nh vậy cũng tạo ra sự linh hoạt hơn cho ngời tham gia chế độ này.
Tuy nhiên, nếu tách riêng nh vậy cũng có nghĩa là các chế độ khác cũng đợc
tách riêng ra điều này làm cho hoạt động quản lý BHXH nói chung phải phức tạp
hơn. Còn trong trờng hợp không xác định riêng mức thu phí cho từng chế độ thì có
thể công việc quản lý ít phức tạp hơn nhng lại phức tạp khi phải xác định phí đóng
cho bảo hiểm khi áp dụng cho ngời lao động có các hình thức thu nhập khác nhau.
4. Mức hởng
Mức hởng là số tiền mà một ngời về hu nhận đợc hàng tháng kể từ khi nghỉ hu.
Hiện nay đang có những quan điểm khác nhau về mức hởng. Về cơ bản có hai
quan điểm chính. Quan điểm thứ nhất cho rằng tiền lơng hu là để bảo đảm mức
sống tối thiểu của ngời nghỉ hu theo tiêu chuẩn sống của quốc gia. Còn theo quan
điểm thứ hai thì cho rằng tiền lơng hu phải có giá trị bảo đảm cho ngời về hu có
mức sống cao, thậm chí trên mức trung bình của xã hội. Sự khác nhau này tất nhiên
sẽ dẫn đến mức đóng tơng ứng trớc khi đợc hởng cũng khác nhau.
Trong thực tế, khuynh hớng nào cũng có lý khi giải thích nhng nếu xét về mức
sống của ngời về hu và đặt trong quan hệ với sự phát triển và ý nghĩa về sự hấp dẫn
của BHXH đối với ngời lao động thì khuynh hớng thứ hai có sức thuyết phục hơn.
Những dù là mức hởng đợc xác định theo quan điểm nào thì vẫn phải đảm bảo yêu
cầu có tính nguyên tắc là tiền lơng hu phải thấp hơn tiền lơng khi làm việc.
Tiền lơng đợc tính theo công thức sau: LH = T * L
Trong đó: LH : Tiền lơng hu đợc hởng
T : Tỷ lệ % dùng để tính lơng hu
L : Tiền lơng hay thu nhập dùng để tính lơng hu
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B

tổng hợp, phản ánh rất nhiều mặt trong đời sống xã hội. Do vậy, việc hình thành hệ
thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả là hoàn toàn không đơn giản vì khó có thể có
đợc một hệ thống chỉ tiêu phản ánh đầy đủ tất cả các khía cạnh của lĩnh vực này.
Tuy nhiên việc xây dựng các chỉ tiêu này thực sự cần thiết và đó là cơ sở cho việc
đánh giá trình độ phát triển và kết quả của BHXH trong đời sống xã hội. Thông th-
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B
8
chuyên đề thực tập tốt nghệp
ĐHKTQD
ờng việc đánh giá kết quả hay hiệu quả của mỗi hoạt động nào đó chúng ta phải so
sánh với định hớng, mục tiêu đề ra. Tính hiệu quả do vậy phản ánh trong mức độ
đạt đợc so với các mục tiêu đặt ra đó.
Trong BHXH nói chung và chế độ hu trí nói riêng , mục tiêu cao nhất là đạt đợc
sự phát triển của BHXH và bảo đảm đời sống ngời về hu trên cơ sở của tiền lơng h-
u ( còn gọi là thu nhập thay thế ) mà ngời lao động nhận đợc từ quỹ bảo hiểm xã
hội. Góp phần bảo đảm an sinh và ổn định xã hội. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
cũng phải xoay quanh mục tiêu này. Trong chế độ hu trí, do tính phức tạp của chế
độ này mà hệ thống các chỉ tiêu phải bao gồm tất cả các chỉ tiêu định tính và các
chỉ tiêu định lợng.
Theo quan điểm về hiệu quả nh trên ta thấy có thể có ba nhóm chỉ tiêu hiệu quả
của hoạt động BHXH đó là :
Nhóm 1: Các chỉ tiêu hiệu quả của hoạt động bảo hiểm hu trí
Nhóm 2 : Các chỉ tiêu đánh giá về sự phát triển của bảo hiểm hu trí
Nhóm 3 : Các chỉ tiêu đảm bảo lợi ích về kinh tế xã hội của ngời về hu
Sau đây là sự xác định cụ thể trong từng nhóm chỉ tiêu
6.1. Các chỉ tiêu hiệu quả của hoạt động bảo hiểm hu trí
BHXH tập trung vào ba hoạt động chính đó là thu BHXH, quản lý quỹ BHXH
và chi trả BHXH. Trong mỗi hoạt động đó có các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá mức
độ hiệu quả :

là rất quan trọng không chỉ vì nh đã đề cập ở trên mà đó còn là bảo đảm một sự
chủ động về nguồn tài chính, làm cho nguồn quỹ BHXH đợc ổn định, giúp duy trì
các hoạt động bình thờng và ngày cáng phát triển của chế độ hu trí.
- Thu đúng thời gian :
Đó là thời gian mà các đơn vị và cá nhân phải đóng BHXH theo quy định của
pháp luật hiện hành. Nếu không thu đúng thời gian sẽ ảnh hởng đến kế hoạch tài
chính trực tiếp của chế độ hu trí. Nhất là trong điều kiện chế độ hu trí áp dụng theo
cơ chế thu của ngời đóng trả cho ngời hởng. Còn trong chế độ hu trí theo cơ chế
của đầu t ứng trớc thì thu kịp thời là một điều kiện quan trọng để ổn định và phát
triển quỹ hu trí trong tơng lai trên cơ sở các kế hoạch sử dụng quỹ để đầu t sinh
lời .
Chi trả BHXH
Trong hoạt động chi trả, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cũng tập trung vào các
nội dung chủ yếu sau đây:
- Chi trả đúng đối tợng
Đảm bảo tiền hu phải đến đúng ngời đợc hởng. Đó phải là những ngời hội đủ
đợc điều kiện ràng buộc để đợc hởng chế độ hu trí. Điều này có liên quan đến công
tác quản lý đối tợng hởng chế độ hu trí. Khác với ngời lao động khi tham gia đóng
bảo hiểm xã hội, sự di chuyển hay thay đổi nơi ở của từng ngời về hu phụ thuộc
vào khả năng và điều kiện sống mà họ lựa chọn. Khi đó công tác quản lý phải có
sự linh hoạt tốt để không chỉ quản lý tốt mà còn đợc thực hiện chi trả thuận lợi
đúng đối tợng đợc hởng chế độ này.
- Chi trả đủ về số lợng
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B
10
chuyên đề thực tập tốt nghệp
ĐHKTQD
Chỉ tiêu chi trả đủ về số lợng phản ánh về số tiền chi trả đủ cho mọi đối tợng đ-
ợc hởng hu trí theo quy định. Đây là yêu cầu pháp lý, đợc luật quy định thành các

- Mức và tỷ lệ tăng của quỹ hu trí qua các thời kỳ
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B
11
chuyên đề thực tập tốt nghệp
ĐHKTQD
Mức và tỷ lệ tăng của quỹ hu trí qua các thời kỳ là một trong những chỉ tiêu
quan trọng nhất trong quản lý quỹ bảo hiểm hu trí hiện nay. Để bảo đảm cho một
tiềm lực tài chính ổn định và vững mạnh, quỹ hu trí phải tăng lên không ngừng. Sự
tăng lên này chủ yếu từ hai nguồn là :
+ Tăng thêm số ngời tham gia vào chế độ hu trí
+ Sử dụng quỹ hu trí đầu t vào các hoạt động mang lại lợi nhuận một
cách an toàn
Tốc độ tăng thực tế của quỹ hu trí nh vậy phải cao hơn tốc độ tăng của số ngời
tham gia vào chế độ hu trí và tất nhiên phải tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng của
chi trả cho chế độ này. Có nh vậy mới tạo đợc sự vững chắc, ổn định và phát triển
không ngừng của chế độ hu trí.
- Khả năng cân đối thu chi của quỹ BHXH
Chỉ tiêu khả năng cân đối thu chi quỹ bảo hiểm hu trí phản ánh độ an toàn của
quỹ hu trí nói riêng và sự tồn tại chế độ hu trí nói chung. Để bảo đảm tránh những
rủi ro, thì quỹ tiền hu phải đủ đảm bảo chi trả các khoản chi của chế độ này chủ
yếu bao gồm chi tiền lơng hu cho ngời nghỉ hu và chi cho hoạt động quản lý. Đây
là điều kiện cần thiết bất kể áp dụng phơng pháp cụ thể nào để tạo lập quỹ
Tổng thu và tổng chi trong biểu thức điều kiện trên đợc xác định và so sánh tại
một thời điểm tính toán. Tổng thu và tổng chi có thể đợc xác định khác nhau tuỳ
theo phơng pháp tạo quỹ đợc áp dụng trong hệ thống hu trí. Vì theo các phơng
pháp khác nhau có thể cơ cấu thu và chi cũng sẽ khác nhau
6.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của chế độ hu trí
Mở rộng phạm vi đối tợng tham gia chế độ bảo hiểm hu trí
Chỉ tiêu mở rộng phạm vi đối tợng tham gia chế độ bảo hiểm hu trí đợc tính qua

nhiều ngời có nhu cầu, có thêm cơ hội để tham gia vào chế độ này.
Xét trên một góc độ khác, mức đóng cố định chỉ phụ thuộc vào mức thu nhập
hay tiền lơng để tính BHXH cũng sẽ làm giảm sức hấp dẫn của chế độ này khi
nhiều ngời muốn đóng thêm trên mức bình thờng để sau đó đợc hởng mức tiền cao
hơn .
6.3. Các chỉ tiêu bảo đảm quyền lợi kinh tế và xã hội của ngời về hu
Quyền lợi về kinh tế xã hội cho ngời về hu phải đợc phản ánh trong thực tế đời
sống kinh tế xã hội . Có thể dùng các chỉ tiêu sau đây để đánh giá :
Mức bảo đảm các tiêu chuẩn sống của ngời về hu
Chỉ tiêu này phản ánh qua mức lơng của ngời về hu nhận đợc và mức bảo đảm
thực tế cho cuộc sống của ngời về hu qua tiền hu. Khi tính toán cụ thể, mức bảo
đảm của tiền lơng hu phải đợc tính đến các mặt nh :
- Mức tiền lơng : mức tiền lơng phải bảo đảm đầy đủ duy trì cuộc sống của ngời
hởng lơng hu. ở đây vừa phải bảo đảm giá trị tiền lơng danh nghĩa vừa bảo đảm cả
giá trị thực tế là sức mua của tiền lơng. Nghĩa là khi có những tác động làm mất
giá trị của tiền lơng hu nh tác động của lạm phát thì cần phải đợc điều chỉnh kịp
thời.
- Tiền lơng hu hợp lý:
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B
13
chuyên đề thực tập tốt nghệp
ĐHKTQD
Tiền lơng hu hợp lý muốn nói đến tơng quan so sánh giữa lơng hu với các loại l-
ơng khác trong xã hội. Về nguyên tắc thì tiền lơng hu không thể cao hơn tiền lơng
của ngời về hu khi đang còn làm việc, trừ trờng hợp ngời về hu tham gia thêm hình
thức bảo hiểm tuổi già khác ngoài các hình thức và chế độ hu trí thông thờng. Nh-
ng tiền lơng hu không thể thấp hơn tiên lơng tối thiểu. Sự so sánh đó nhằm đánh
giá tơng quan về mức sống giữa những ngời về hu với các tầng lớp khác trong xã
hội.

14
chuyên đề thực tập tốt nghệp
ĐHKTQD
hu phụ thuộc rất nhiều yếu tố kể cả phụ thuộc vào nớc có dân số già hay trẻ. Đối
với nớc có dân số già, số ngời nghỉ hu lớn, vì vậy họ phải nâng tuổi nghỉ hu thờng
cao hơn so với các nớc đang phát triển. Theo số liệu của văn phòng lao động quốc
tế trong 24 nớc thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ( OCDE ) và trong 40 n-
ớc đang phát triển thì tuổi nghỉ hu cao nhất chung đối với nam và nữ nh sau :

Bảng 1: Cơ cấu tuổi nghỉ hu ở một số nớc
Độ tuổi
nghỉ hu chung
cho cả nam- nữ
OCDE Nớc đang phát triển
Số nớc % Số nớc %
50 0 - 1 2,5
55 1 4,2 13 32,5
57 0 - 1 2,5
60 3 12,5 18 45
65 16 66,7 7 17,5
67 4 16,6 0 -
Tổng 24 100 40 100
( Nguồn: BHXH Việt Nam )
Ngoài ra, các nớc còn quy định hạ tuổi nghỉ hu so với tuổi nghỉ hu bình thờng
đối với những ngời làm những ngành nghề công việc trong điều kiện lao động nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm...
Điều kiện về tuổi đời nghỉ hu ở một số nớc đợc thể hiện :
- Nhóm Bắc Mỹ.
+ Mỹ, Canada : 65 tuổi ( chung cho cả hai giới ).
- Nhóm Châu Âu.

- Mỹ, Anh : Đóng góp 52 tuần liên tục cộng với 9/10 tổng số năm làm việc.
- Pháp : Ngời tham gia BHXH phải đóng góp 150 tháng liên tục .
- Đức : 15 năm đến 35 năm.
- Nga : Nam(20 năm), Nữ(20 năm).
- Ba Lan : Nam(20 năm), Nữ(15 năm).
- Hungari : 20 năm(cho cả hai giới)
- ấn độ : 15 năm.
- Trung quốc : 10 năm liên tục.
- Nhật : 20 năm.
- Philipin : 120 tháng liên tục.
ở một số nớc ở Đông Nam á không quy định cụ thể thời gian đóng phí BHXH.
1.3. Về mức trợ cấp hu trí
Có rất nhiều cách xác định mức trợ cấp hu trí. Một số nớc xác định mức đồng
đều, coi là mức tối thiểu thích hợp với mặt bằng chung của quốc gia. Nhiều nớc
xác định mức trợ cấp theo thu nhập đã từng có của ngời lao động khi nghỉ hu. Một
số nhóm nớc khác kết hợp cả hai cách.
Trong phần trợ cấp có phần nền(cơ bản) là một mức đồng nhất cộng thêm phần
tỷ lệ thu nhập. Tuy nhiên xu hớng chung là trợ cấp theo mức thu nhập đã từng có
của ngời lao động trớc khi nghỉ hu, phù hợp với đa số trờng hợp là đóng góp
BHXH theo thu nhập.
Mức trợ cấp hu của một số nớc:
- Mỹ : Mức trợ cấp hu đồng nhất, tối đa là 11280USD/tháng, tính trên thu
nhập đợc bảo hiểm cho tới khi nghỉ hu.
- Anh : 32,85 Bảng/tuần cộng 12% thu nhập đợc bảo hiểm trong nớc.
- Pháp : 50% thu nhập bình quân trong vòng 10 năm cao nhất. Lơng đợc tính
theo các lần thay đổi lơng.
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B
16
chuyên đề thực tập tốt nghệp

FRANCS một tháng .
- Đức : Ngời lao động đóng 8,75 % tiền lơng, nếu ngời lao động có thu nhập
dới 610 DM / tháng thì không phải đóng BHXH. Ngời lao động độc lập phải
đóng 15,7%. Ngời sử dụng lao động đóng 8,75 % quỹ lơng và đóng 7,5%
nếu trong doanh nghiệp có ngời lao động có thu nhập thấp hơn 610 DM /
tháng .
2. Một số kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện chế độ hu trí ở một số nớc trên
thế giới
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B
17
chuyên đề thực tập tốt nghệp
ĐHKTQD
Qua nghiên cứu về quá trình tổ chức và thực hiện hệ thống hu trí của một số nớc
trên thế giới có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- ở hầu hết các nớc vai trò của Nhà nớc, Chính phủ trong hệ thống hu trí là rất
quan trọng. Nhà nớc với t cách là ngời đề ra định hớng cho sự hoạt động hu trí và
là một sự bảo trợ rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của hệ thống này. Đặc
biệt là bảo trợ về tài chính ở các mức độ và hình thức khác nhau.
- Xu hớng đa dạng hoá về tổ chức thực hiện, về nội dung và phơng thức tiến hành
trong chế độ hu trí là phổ biến. Mặc dù vai trò của nhà nớc là rất quan trọng nh đã
nêu ở trên nhng tham gia hoạt động trong hệ thống hu trí không chỉ có các tổ chức
của nhà nớc, các tổ chức khác ngoài khu vực nhà nớc cũng có thể tham gia với điều
kiện tuân thủ đúng những quy định trong luật BHXH và hu trí. Đây là một trong
những điều kiện quan trọng nhất để mọi thành viên trong xã hội có nhu cầu đều có
thể tham gia vào chế độ hu trí .
- BHXH nói chung cũng nh bảo hiểm hu trí nói riêng đối với mỗi nớc có những
đặc trng riêng về tình hình phát triển kinh tế xã hội, tình hình dân số và lao động
mà có những vận dụng cụ thể vào xây dựng cho mình một hệ thống hu trí phù hợp
về nội dung và hình thức thực hiện. Các yếu tố quan trọng để xác lập chế độ hu trí

đời những ngời tham gia BHXH. Chế độ hu trí cũng là một phơng tiện có thể ổn
định đợc phần nào đời sống ngời về hu, đặc biệt là với những ngời cô đơn không
nơi nơng tựa hoặc những ngời đã có những đóng góp đặc biệt cho xã hội. Thực
hiện tốt chế độ hu trí trong hệ thống chế độ BHXH sẽ góp phần nâng cao đời sống
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B
19
chuyên đề thực tập tốt nghệp
ĐHKTQD
xã hội giảm bớt khó khăn cho ngời về hu cũng nh khó khăn chung cho bộ phận dân
c khác, nâng cao uy tín của BHXH và các chế độ khác. Có thể nói trong hệ thống
các chế độ BHXH, chế độ hu trí là chế độ quan trọng hàng đầu. Nó đã, đang và sẽ
là một chế độ BHXH có quy mô hoạt động to lớn về cả số lợng và chất lợng.
Chính sách BHXH nói chung và chế độ hu trí nói riêng khi áp dụng ở nớc ta đã
có vai trò rất to lớn tuy nhiên cũng còn bộc lộ một số nhợc điểm mà ta có thể thấy
qua các thời kỳ thực hiện sau :
1. Giai đoạn trớc năm 1995
Điều lệ tạm thời về BHXH năm 1961
Ngay sau cách mạng tháng tám năm 1945, Nhà nớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, lúc đó là Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thực hiện các chế độ
BHXH cho công nhân viên chức. Điều đó đợc thể hiện qua việc ban hành sắc lệnh
số 29/SL ngày 12/3/1947 thực hiện bảo hiểm ốm đau, bảo hiểm tai nạn lao động và
bảo hiểm hu trí .Cùng với sắc lệnh 29/SL, một số sắc lệnh khác nh sắc lệnh 76/SL
ngày 20/5/1950 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 cũng đợc ban hành sau đó,
nhằm thực hiện tốt hơn các chế độ cho ngời tham gia bảo hiểm xã hội.
Các chế độ này đợc thực hiện đối với những ngời làm việc trong các cơ quan
của chính phủ và chính quyền các cấp trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân
Pháp (1945-1954). Song các chế độ này vẫn còn nhiều hạn chế, một phần do thực
hiện trong thời kỳ kháng chiến, điều kiện kinh tế còn khó khăn thiếu thốn, tất cả
mọi ngời cha quan tâm đến việc hởng chế độ, tất cả phải lo cho tình hình kháng

chức làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nớc và quân nhân trong lực lợng vũ
trang.
Qua đó ta có thể thấy : việc ban hành Nghị định 218/CP kèm theo điều lệ tạm
thời về BHXH là một bớc ngoặc lớn trong sự nghiệp BHXH ở nớc ta. Lần đầu tiên
quyền lợi và nghĩa vụ của ngời lao động đợc quy định cụ thể trong chế độ hu trí.
Từ đây, bảo hiểm hu trí đợc thống nhất và có đầy đủ tính pháp lý. Điều lệ đã giải
quyết đợc vấn đề tính toán thời gian của ngời lao động cho phù hợp với tình hình
thực tế. Từ đó đánh giá đúng mức đóng góp của ngời lao động cho xã hội và đa ra
các mức lơng tơng ứng.
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số điểm tồn tại:
- Thời gian công tác nói chung là tất cả thời gian mà ngời công nhân viên
chức làm việc lấy lơng hay sinh hoạt phí. Nếu thời gian công tác nói chung
đối với nam là 25 năm và với nữ là 20 năm mà không có thời gian công tác
liên tục trong 5 năm thì họ không đợc trợ cấp hu trí. Nh vậy thì rất thiệt thòi
cho ngời lao động. Đối với lao động nữ khi đủ 5 năm công tác liên tục và có
thời gian công tác nói chung nhiều hơn 25 năm nhng họ cũng chỉ đợc hởng
45% lơng chính. Ngoài ra, do việc quy đổi hệ số thời gian công tác nên đã
dẫn đến tình trạng số ngời về hu có độ tuổi về hu thực tế thấp hơn nhiều so
với quy định. Thậm chí có ngời số năm công tác quy đổi gần bằng tuổi đời.
- Điều lệ này vẫn còn nhiều hạn chế trong chính sách BHXH nói chung và
chế độ hu trí nói riêng. Nh trong quy định về thu chi thì điều lệ không gắn
thu với chi. Thu chi đều do quy ớc không có quỹ BHXH riêng mà chỉ có quỹ
BHXH độc lập trong ngân sách. Trên thực tế khi bắt đầu thực hiện điều
lệ này, cơ quan chủ quản về BHXH đã phải tiến hành chi ngay cho chế độ h-
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B
21
chuyên đề thực tập tốt nghệp
ĐHKTQD
u trí đối với nhiều ngời từ trớc năm 1962. Do đó ngân sách dành cho chi lại

Nh vậy, việc thực hiện chế độ hu trí theo Nghị định này về cơ bản cũng giống
nh giai đoạn trớc đó là còn nhiều hạn chế về tuổi đời, hệ số, phạm vi thực hiện. Cụ
thể là :
- Phơng pháp tính thời gian quy đổi tuy có nhiều điểm chặt chẽ song đã gây ra
một số vớng mắc cho ngời lao động trong việc dò tìm hồ sơ khi về nghỉ hu.
Việc tính thời gian quy đổi đôi khi gây ra sự mất cân đối.
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B
22
chuyên đề thực tập tốt nghệp
ĐHKTQD
- Trong thực tế, tuổi nghỉ hu trung bình vẫn còn thấp do đợc cộng cả hệ số u
đãi xã hội về thời gian và năm làm việc thực tế thành số năm đợc nhận lơng
hu. Mặt khác lại còn chế độ u đãi với những đối tợng có sức khoẻ giảm sút
từ 18% trở lên.
- Phạm vi thực hiện chế độ vẫn còn hạn hẹp, chỉ áp dụng đối với công nhân
viên chức Nhà nớc, chiếm xấp xỉ 12% tổng số lao động của cả nớc nhng lại
rất tràn lan. Chế độ bị lẫn lộn giữa bảo hiểm và u đãi. Cơ quan quản lý
không thống nhất bao gồm cả Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội, tổng liên
đoàn Lao động Việt Nam và Bộ y tế phụ trách việc giám định khả năng lao
động. Còn xét một cách tổng hợp để cho công nhân viên chức về nghỉ mất
sức lao động hoặc về hu, do các cơ quan xí nghiệp, các bộ ngành, các đoàn
thể các cơ quan đảng đoàn thể chính quyền và các cấp ra quyết định cơ quan
phụ trách theo dõi lại không ký quyết định cho nghỉ hu là điều bất hợp lý.
Mặt khác giữa thu với chi không gắn liền với nhau, phân tán, nhiều chỗ gây
ra tình trạng thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết cho ngời lao động về hu
đúng chế độ chính sách hiện hành.
- Tỷ lệ trợ cấp hu so với lơng cơ sở có mức cao nhất là 95% là một mức quá
cao, không thực tế. Trên cơ sở cân bằng thu chi, ở cùng một thời điểm, tiền
thu BHXH là từ những ngời đang đóng BHXH phải đáp ứng đợc việc chi trả

gồm công nhân viên chức Nhà nớc mà không có một phần đông đảo ngời
lao động ở các đơn vị kinh tế khác. Trong khi các đơn vị kinh tế phi Nhà nớc
đang ngày càng phát triển nh: Công ty liên doanh, công ty TNHH, t nhân...
Đây là đối tợng rất lớn mà BHXH cần phải khai thác.
Nh vậy, trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1993 chính sách và hệ thống
BHXH đợc tổ chức thực hiện dựa trên các quy định trong nghị định 218/CP và NĐ
236/HĐBT và một số quyết định khác của Nhà nớc. Thời gian này do ảnh hởng của
hệ thống chính sách bao cấp cũ nên đã bộc lộ những mặt hạn chế nh: phạm vi đối
tợng hẹp, sử dụng thời gian quy đổi quá lạm dụng, quỹ BHXH không phát huy đợc
vai trò là xơng sống của cả hệ thống, mức trợ cấp hu trí không bảo đảm ổn định
cuộc sống cho các đối tợng, cha có quan hệ đóng BHXH với hởng BHXH mà chỉ
có quan hệ hởng BHXH với tiền lơng. Chế độ hu trí bị chi phối bởi nhiều chính
sách xã hội khác và tổ chức quản lý sự nghiệp BHXH phân tán, hành chính quan
liêu...
Nh vậy, các chính sách chế độ BHXH hiện tại không còn phù hợp nữa, nó mang
trong mình rất nhiều nhợc điểm, gây ra nhiều khó khăn phức tạp trong công tác
quản lý và sử dụng lao động, đặc biệt không đáp ứng đợc yêu cầu của cơ chế kinh
tế nhiều thành phần và không bảo đảm đợc quyền lợi của ngời lao động, sức lao
động trong cơ chế thị trờng đã trở thành hàng hoá. Vì vậy đổi mới và hoàn thiện hệ
thống BHXH nói chung và chế độ hu trí nói riêng là một đòi hỏi tất yếu khách
quan và cần phải làm ngay cho phù hợp với tình hình thực tế hiện tại.
Nghị định 43/CP và chế độ hu trí
Khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà n-
ớc, cơ chế hoạt động của BHXH cũ không còn phù hợp nữa, đòi hỏi phải có sự đổi
mới. Trong bối cảnh xí nghiệp quốc doanh gắn với thị trờng hoạt động theo nguyên
tắc bảo toàn vốn đợc giao, đồng thời tự trang trải chi phí, tự phát triển và nộp nghĩa
vụ với NSNN thì bảo hiểm hu trí cũng phải tự tách khỏi sự bao cấp của Nhà nớc,
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B
24

hành Nghị định 43/CP. Nghị định này đổi mới về cơ bản hệ thống các chế độ
BHXH nói chung và chế độ hu trí nói riêng cho phù hợp với điều kiện thực tế ở nớc
ta. Từ khi Nghị định ra đời đã có những thay đổi rõ rệt, thể hiện:
- Nghị định 43/CP ra đời đã xoá bỏ việc tính thời gian theo hệ số quy đổi cho
ngời lao động khi về nghỉ hu, ngời lao động khi đã đóng BHXH đủ 20 năm
trở lên và tuổi đời đủ 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ thì đợc nghỉ
hu và hởng lơng hu hàng tháng. Ngoài ra nếu khi đơn vị có nhu cầu và ngời
Nguyễn Tiến Linh
Lớp Bảo Hiểm 41B
25

Trích đoạn Số ngời hởng chế độ hu trí ở Việt Nam Nguồn, quy mô và tổng chi cho chế độ hu trí Quản lý quỹ hu trí Vài nét về đời sống của ngời về hu Thuận lợi và khó khăn đối với việc thực hiện chế độ Bảo hiểm hu trí
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status