THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM HƯU TRÍ TẠI BHXH VIỆT NAM
I . THỰC TRẠNG VỀ CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM HƯU TRÍ
Chế độ hưu trí là một chế đọ có vai trò to lớn trong hệ thống BHXH của mỗi
quốc gia , bởi lẽ chế độ hưu trí có ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc đời những
người tham gia BHXH . Chế độ hưu trí cũng là một phương tiện có thể ổn định
được phần nào đời sống người về hưu , đặc biệt trong số đó là hưu cô đơn
không nơi lương tựa hoặc những người đã có những đóng góp đặc biệt cho xã
hội. Thực hiện tốt chế độ hưu trí trong hệ thống BHXH sẽ góp phần nâng cao
đời sống xã hội giảm bớt khó khăn cho người về hưu cũng như khó khăn chung
cho bộ phận dân cư khác, nâng cao uy tín của BHXH và các chế độ khác. Có thể
nói trong hệ thống các chế độ BHXH, chế độ hưu trí là chế độ quan trọng hàng
đầu. Nó đã, đang và sẽ là một chế độ BHXH có quy mô hoạt động to lớn về cả số
lượng và chất lượng.
Chính sách BHXH nói chung và chế độ hưu trí nói riêng khi áp dụng ở nước
ta đã có vai trò rất to lớn nhưng cũng bộc lộ một số nhược điểm qua các thời
kỳ.
1. Giai đoạn trước năm 1995.
Điều lệ tạm thời về BHXH năm 1961
Ngay sau cách mạng tháng tám năm 1945 , nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, lúc đó là nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thực hiện
các chế độ BHXH cho công nhân viên chức. Điều đó được thể hiện qua việc ban
hành sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 thực hiện bảo hiểm ốm đau, bảo hiểm
tai nạn lao động và bảo hiểm hưu trí .Cùng với sắc lệnh 29/SL, một số sắc lệnh
khác như sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950
cũng được ban hành sau đó, nhằm thực hiện tốt hơn các chế độ cho người
tham gia bảo hiểm xã hội.
Các chế độ này được thực hiện đối với những người làm việc trong các cơ
quan của chính phủ và chính quyền các cấp trong thời kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp (1945-1954). Song các chế độ này vãn còn nhiều hạn chế , một
phần do thực hiện trong thời kỳ kháng chiến , điều kiện kinh tế còn khó khăn
thiếu thốn , tất cả mọi người chưa quan tam đến việc hưởng chế độ , ttất cả
Qua đó ta có thể thấy : việc ban hành nghị định 218/CP kèm theo điều lệ
tạm thời về BHXH là một bước ngoặc lớn trong sự nghiệp BHXH ở nước ta.
Lần đầu tiên quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động được quy định cụ thể
trong chế độ hưu trí. Từ đây, bảo hiểm hưu trí được thống nhất và có đầy đủ
tính pháp lý. Điều lệ đã giải quyết được vấn đề tính toán thời gian của người
lao động cho phù hợp với tình hình thực tế. Từ đó đánh giá đúng mức đóng
góp của người lao động cho xã hội và đưa ra các mức lương tương ứng.
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số điểm tồn tại:
- Thời gian công tác nói chung là tất cả thời gian mà người công nhân
viên chức làm việc lấy lương hay sinh hoạt phí. Nếu thời gian công tác
nói chung đối với nam là 25 năm và với nữ là 20 năm mà không có thời
gian công tác liên tục trong 5 năm thì họ không được hưu trí trợ cấp
hưu trí. Như vậy thì rất thiệt thòi cho người lao động. Đối với lao động
nữ khi đủ 5 năm công tác liên tục và có thời gian công tác nói chung
nhiều hơn 25 năm nhưng họ cũng chỉ được hưởng 45% lương chính.
Ngoài ra, do việc quy đổi hệ số thời gian công tác lên đã dẫn đến tình
trạng số người về hưu có độ tuổi về hưu thực tế thấp hơn nhiều so với
quy định. Thậm chí có người số năm công tác quy đổi gần bằng tuổi đời.
- Điều lệ này vẫn còn nhiều hạn chế trong chính sách BHXH nói chung và
chế độ hưu trí nói riêng. Như trong quy định về thu chi thì điều lệ không
gắn thu với chi. Thu chi đều do quy ước không có quỹ BHXH riêng mà chỉ
có quỹ BHXH “ độc lập “ trong ngân sách. Trên thực tế khi bắt đầu thực
hiện điều lệ này, cơ quan chủ quản về BHXH đã phải tiến hành chi ngay
cho chế độ hưu trí đối với nhiều người từ trước năm 1962. Do đó ngân
sách dành cho chi lại càng cao. Chính vì vậy, điều lệ năm 1961 cần được
sửa đổi, bổ sung nhiều .
Nghị định 236/HĐBT và chế độ hưu trí đối với người lao động.
Sau nhiều năm thực hiện chính sách BHXH trên cơ sở điều lệ tạm thời về
năm công tác thì được tính bằng 75% lương chính và phụ cấp thâm niên ( nếu
có ) ngoài ta cứ thêm 1 năm công tác được tính thêm 1% nhưng tối đa không
quá 95% lương chính và phụ cấp thâm niên.
Như vậy, việc thực hiện chế độ hưu trí theo nghị định này về cơ bản cũng
giống như giai đoạn trước đó là còn nhiều hạn chế về tuổi đời, hệ số, phạm vi
thực hiện. Cụ thể là :
- Phương pháp tính thời gian quy đổi tuy có nhiều điểm chặt chẽ song đã
gây ra một số vướng mắc cho người lao động trong việc dò tìm hồ sơ khi
về nghỉ hưu. Việc tính thời gian quy đổi đôi khi gây ra sự mất cân đối.
- Trong thực tế, tuổi nghỉ hưu trung bình vẫn còn thấp do được cộng cả hệ
số ưu đãi xã hội về thời gian và năm làm việc thực tế thành số năm được
nhận lương hưu. Mặt khác lại còn chế độ ưu đãi với những đối tượng có
sức khoẻ giảm sút từ 18% trở lên.
- Phạm vi thực hiện chế độ vẫn còn hạn hẹp, chỉ áp dụng đối vói công
nhân viên chức Nhà nước, chiếm xấp xỉ 12% tổng số lao động của cả
nước nhưng lại rất tràn lan. Chế độ bị lẫn lộn giữa bảo hiểm và ưu đãi.
Cơ quan quản lý không thống nhất bao gồm cả Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội, tổng liên đoàn Lao động Việt Nam và Bộ Y tế phụ trách
việc giám định khả năng lao động. Còn xét một cách tổng hợp để cho
công nhân viên chức về nghỉ mất sức lao động hoặc về hưu, do các cơ
quan xí nghiệp, các bộ ngành, các đoàn thể các cơ quan đảng đoàn thể
chính quyền và các cấp ra quyết định cơ quan phụ trách theo dõi lại
không ký quyết định cho nghỉ hưu là điều bất hợp lý. Mặt khác giữa thu
với chi không gắn liền với nhau, phân tán, nhiều chỗ gây ra tình trạng
thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết cho người lao động về hưu đúng
chế độ chính sách hiện hành.
- Tỷ lệ trợ cấp hưu so với lương cơ sở có mức cao nhất là 95% là một mức
quá cao, không thực tế. Trên cơ sở cân bằng thu chi, ở cùng một thời
điểm, tiền thu BHXH là từ những người đang đóng BHXH phải đáp ứng
được việc chi trả cho những người đang hưởng trợ cấp hưu trí trong
khai thác.
Như vậy, trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1993 chính sách và hệ
thống BHXH được tổ chức thực hiện dựa trên các quy định trong nghị định
218/CP và NĐ 236/HĐBT và một số quyết định khác của Nhà nước.Thời gian
này do ảnh hưởng của hệ thống chính sách bao cấp cũ nên đã bộc lộ những
mặt hạn chế như: phạm vi đối tượng hẹp, sử dụng thời gian quy đổi quá lạm
dụng, quỹ BHXH không phát huy được vai trò là xương sống của cả hệ thống,
mức trợ cấp hưu trí không bảo đảm ổn định cuộc sống cho các đối tượng, chưa
có quan hệ đóng BHXH với hưởng BHXH mà chỉ có quan hệ hưởng BHXH với
tiền lương. Chế độ hưu trí bị chi phối bởi nhiều chính sách xã hội khác và tổ
chức quản lý sự nghiệp BHXH phân tán, hành chính quan liêu...
Như vậy, các chính sách chế độ BHXH hiện tại không còn phù hợp nữa, nó
mang trong mình rất nhiều nhược điểm, gây ra nhiều khó khăn phức tạp trong
công tác quản lý và sử dụng lao động, đặc biệt không đáp ứng được yêu cầu
của cơ chế kinh tế nhiều thành phần và không bảo đảm được quyền lợi của
người lao động, sức lao động trong cơ chế thị trường đã trở thành hàng hoá.
Vì vậy đổi mới và hoàn thiện hệ thống BHXH nói chung và chế độ hưu trí nói
riêng là một đòi hỏi tất yếu khách quan và cần phải làm ngay cho phù hợp với
tình hình thực tế hiện tại.
Nghị định 43/CP và chế độ hưu trí
Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của
Nhà nước, cơ chế hoạt động của BHXH cũ không còn phù hợp nữa , đòi hỏi
phải có sự đổi mới . trong bối cảnh xĩ nghiệp quốc doanh gắn với thị trường
hoạt động theo nguyên tắc bảo toàn vốn đưọc giao , đồng thời tự trang trải tự
phát triển và nộp nghĩa vụ với NSNN thì bảo hiểm hưu trí cũng phải tự tách
khỏi sự bao cấp của Nhà nước , hoạt dộng độc lập , tự hạch toán lấy thu bù
chi , sự hỗ trợ của NSNN chỉ là một phần nhỏ . Với việc phát triển nền sản xuất
hàng hoá nhiều thành phần , các loại hình doanh nghiệp ngày càng được mở
rộng ; sự chuyển dịch lao động và quan hệ lao động cũng có những thay đổi .
Chính vì vậy , cùng với đội ngũ CNVC Nhà nước còn có hàng chục triệu người
đủ 20 năm trở lên và tuổi đời đủ 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với
nữ thì được nghỉ hưu và hưởng lương hưu hàng tháng . Ngoài ra nếu
khi đơn vị có nhu cầu và người lao động tự nguyện tiếp tục làm việc thì
tuổi đời không quá 65 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ .
- Đã thay đổi điều kiện thời gian công tác bằng thời gian đóng BHXH để
tính lương hưu, tránh được tình trạng người lao động về hưu sớm do
việc quy đổi thời gian công tác. Điều này làm cho người lao động có
trách nhiệm hơn đối với chính bản thân họ.
- Về mức hưởng, người lao động được hưởng một khoản trợ cấp trước
khi nghỉ hưu tuỳ theo thời gian và mức đóng bảo hiểm xã hội, khoản trợ
cấp một lần này áp dụng với :
+ Người có từ 20 năm đến dưới 30 năm đóng b được trợ cấp 1 tháng
lương .
+ Người có từ 30 năm đến dưới 35 năm đóng BHXH được trợ cấp
2
tháng lương .
+ Người có trên 35 năm đóng BHXH được trợ cấp bằng 3 thàng
lương
Đối với người làm việc trong khu vực Nhà nước thì tiền lương tính trợ cấp
một lần là tiền lương của tháng trước khi nghỉ hưu bao gồm lương theo cấp
bậc, chức vụ, phụ cấp chức vụ, phụ cấp khu vực.
Đối với người làm việc ngoài khu vực nhà nước thì tiền lương để trợ cấp
một lần khi nghỉ hưu tính theo lương đóng BHXH bình quân.
- Lương hàng tháng thấp nhất không dưới mức lương tối thiểu của công
nhân viên chức nhà nước, cao nhất bằng 75% mức lương bình quân của
10 năm trước khi về hưu và được tổ chức BHXH đài thọ về bảo hiểm y tế.
- Trên cơ sở năm đóng BHXH và mức tiền lương bình quân đóng BHXH ta
tính mức trợ cấp một lần và mức lương hưu hàng tháng cho công nhân
viên chức nhà nước như sau:
+ Mức trợ cấp một lần: Cứ mỗi năm đóng BHXH được hưởng trợ cấp bằng
thêm mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2% nhưng tối đa chỉ bằng 75% tiền
lương đóng BHXH bình quân. Mức lương hưu thấp nhất bảo đảm không thấp
hơn mức lương tối thiểu( 120.000 đ/tháng ) nếu tiền lương hưu thấp hơn mức
đó thì phải bù cho bằng mức đó .
Ngoài ra, trong NĐ này, chế độ mất sức lao động đã được tách ra và có quy
định riêng.
Như vậy, NĐ 43/CP ra đời đã khắc phục được những nhược điểm
của những văn bản trước đó là :
- Về tuổi đời: Trong giai đoạn này, tuổi về hưu đã được thực hiện một
cách nghiêm túc và chặt chẽ, hầu hết người về hưu đã đúng tuổi quy
định
- Về đối tượng và phạm vi đã đáp ứng được nhu cầu to lớn về BHXH của
bộ phận người lao động khác, đối tượng tham gia đã được mở rộng ra
không chỉ có công nhân viên chức nhà nước mà còn có cả những người
lao động làm việc hưởng lương và tiền công ở những khu vực ngoài
quốc doanh, có doanh nghiệp tư nhân có sử dụng 10 lao động trở lên,
các khu chế xuất, văn phòng đại diện nước ngoài đều là những đối
tượng tham gia bắt buộc. Cùng với việc mở rộng đối tượng tham gia,
hình thức tham gia cũng được mở rộng. Ngoài hình thức tham gia bắt
buộc còn có hình thức tham gia tự nguyện để đáp ứng nhu cầu của
người lao động .
- Do chế độ BHXH đã được áp dụng cho mọi thành phần kinh tế, cho nên
tất cả các thành phần đều nộp ở một mức thống nhất. Người sử dụng
lao động nộp 15% so với tổng quỹ lương của toàn đơn vị và người lao
động nộp 5% trích từ tiền lương hàng tháng. Điều này thể hiện trách
nhiệm của người chủ sử dụng lao động đối với người lao động đồng thời
gắn trách nhiệm của người lao động đối với công việc mà họ đang làm.
Ngoài ra còn giúp người lao động tự lo cho chính bản thân mình khi gặp
rủi ro hoặc hết tuổi lao động.
- Về mặt tổ chức: theo nghị định này thì có nhiều nét đổi mới rõ rệt so với
quan nộp BHXH trong 10 năm cuối của quá trình công tác đối với
người lao động trong khu vực nhà nước và trong suốt qúa trình
đóng BHXH của người lao động trong các khu vực ngoài nhà nước .
Mức thời gian tối thiểu để được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng
là 20 năm đóng bảo hiểm xã hội, mức này áp dụng chung cho mọi
đối tượng nam và nữ ngoài ra còn có thêm số năm đóng BHXH sẽ
được tăng thêm tỷ lệ hưởng trợ cấp hưu trí ( một năm đóng BHXH
thêm được hưởng tỷ lệ là 2% nữa ). Mức hưởng gốc là 55 % tiền
lương đóng BHXH bình quân nhưng không thấp hơn mức lương tối
thiểu ( 120.000 đ ). Điều này khắc phục được những hạn chế của
chế độ hưu trí trong nghị định 236 /HĐBT trước đây là không công
bằng giữa nam và nữ về chế độ đãi ngộ.
+ Các chế độ khác cũng được tách ra khỏi chế độ hưu trí, chế độ trợ
cấp mất sức lao động được quy định riêng bằng một chế độ hưởng
lương một lần. Mọi chế độ đã được tách bạch, tránh được sự rườm
rà trong chế độ BHXH và tránh được trường hợp về hưu non , hưu
chui .
Những bổ sung sửa đổi của NĐ 43/CP đã góp phần thồng nhất về luật hoặc
tổ chức và quản lý bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên NĐ 43/CP vẫn còn tồn tại
một số điểm bất hợp lý sau :
- Tiền lương bình quân làm cơ sở tính lương hưu hàng tháng theo NĐ
43/CP là một điểm sửa đổi so với NĐ 236/HĐBT trước đây. Tuy nhiên,
thời gian để tính nộp BHXH bình quân 10 năm là quá dài, trong khi NĐ
236/HĐBT lại lấy mức lương của tháng cuối trước khi về hưu làm cơ sở
tính lương hưu. Trên thực tế lương hưu của người về hưu theo NĐ
43/CP so với lương hưu của người về hưu theo NĐ 236/HĐBT thường
thấp hơn rất nhiều. Như vậy, công bằng mà nói người về hưu theo NĐ
43/CP chịu thiệt thòi hơn người về hưu theo NĐ 236/HĐBT. Đây là điểm
yếu trong việc đổi mới chính sách BHXH .
- Ngoài ra, trong NĐ 43/CP còn có một điểm quy định còn gây khó khăn
15/7/1995 cho các đối tượng hưởng BHXH là người lao động trong các thành
phần kinh tế và lực lượng vũ trang mới thực sự ghi nhận những đổi mới của
BHXH Việt Nam. Từ đây BHXH ở Việt Nam được chính thức thực hiện theo cơ
chế thị trường.
Trên cơ sở kế thừa những điểm ưu việt của các chính sách trước đây và
những thách thức đặt ra trong thời kỳ mới. Nghị định 12/CP ra đời có nhiều
sửa đổi, bổ sung ngay cả trong BHXH nói chung và chế độ bảo hiểm hưu trí nói
riêng. Nhưng chế độ hưu trí vẫn đóng một vai trò rất quan trọng Nghị định
12/CP ra đời có nhiều điểm khác biệt hơn so với trước đây . Cụ thể là :
- Người lao động được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng khi nghỉ việc phải
có một trong các điều kiện sau :
+ Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và thời gian đóng BHXH đủ 20 năm trở
lên.
+ Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi mà có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, mà
trong 20 năm đó có thời gian làm việc thuộc 1 trong các trường hợp sau
đây:
• Đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại.
• Đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên.
• Đủ 10 năm công tác ở miền Nam, ở Lào trước ngày 30/4/1975 hoặc
ở Campuchia trước ngày 31/8/1989.
- Người lao động được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng với mức lương thấp
hơn mức lương qui định ở trên khi có 1 trong các điều kiện sau :
+ Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có thời gian đóng BHXH đủ 15 năm đến
dưới 20 năm.
+ Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và có thời gian đóng BHXH đủ 20 năm trở
lên mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
+ Người lao động có ít nhất 15 năm làm công việc nặng nhọc đặc biệt độc
hại (theo danh mục 10 Bộ lao động - Thương binh và xã hội và Bộ Y tế
quy định) đã đủ 20 năm đóng BHXH trở lên mà bị suy giảm khả năng
lao động từ 61% trở lên (không phụ thuộc vào tuổi đời).
tuổi gọi là tuổi già. Quy định chung về tuổi nghỉ hưu đói với nam là 60, nữ là
55 tuổi là chưa có cơ sở khoa học nào khẳng định được tuổi đời của nữ giới
thấp hơn nam giới trong khi tuổi thọ của nữ giới lại cao hơn nam giới.
+ Việc qui định giảm tuổi về hưu đối với những người làm nghề hoặc
công việc nặng nhọc độc hại hoặc làm việc trong những khu vực có khí
hậu xấu cũng cần được làm rõ. Thực chất những người này không phải
già về mặt tuổi đời mà do khả năng lao động bị giảm sút, như vậy căn
cứ để xác định điều kiện về hưu phải là sự giám định suy giảm khả
năng lao động chứ không phải chỉ bằng việc giảm tuổi đời.
Vì vậy, việc giảm tuổi đời cho đối tượng nghỉ hưu chỉ là thể hiện một
phần ưu đãi xã hội thì không phải là nội dung vốn có của BHXH. Thực
chất những người này phải nghỉ việc để hưởng trợ cấp cứu tế xã hội
cho đến khi đủ tuổi sẽ được hưởng hưu mới đúng ý nghĩa của chế độ
hưu trí.
+ Đối với những trường hợp bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở
lên mà được giảm tuổi để hưởng chế độ hưu trí cũng chưa thể hiện
đúng mục đích của chế độ hưu trí. Chế độ bảo hiểm hưu trí chỉ áp dụng
cho những người già, không còn khả năng lao động nữa. Do đó, nếu
chưa đạt đến một độ tuổi qui định để nghỉ hưu mà bị mất sức lao động
hoặc trợ cấp tàn tật, chúng ta không nên lẫn lộn giữa các đối tượng
này gây ra những vướng mắc về tiêu chuẩn chế độ mà các đối tượng
được hưởng. Tuy nhiên, do thực tế chúng ta chưa xây dựng được các
chế độ trợ cấp tàn tật và lại bỏ chế độ mất sức lao động vốn có trước
đây nên có những trường hợp mất khả năng lao động từ 61% trở lên
phải xen ghép vào chế độ hưu trí.
- Về thời gian tham gia đóng BHXH : Đây là điều kiện đủ để người lao động
được quyển hưởng trợ cấp hưu trí. Quy định phải có đóng góp BHXH (phí
BHXH ) là một bước tiến quan trọng trong hệ thống BHXH ở nước ta, nhờ
đó mà ngân sách Nhà nước không bị thâm hụt vì phải chi phí quá lớn cho
BHXH. Hơn nữa qui định phải đóng BHXH thể hiện được các mối quan hệ