Thực trạng và giải pháp chế độ bảo hiểm hưu trí tại VN - Pdf 78

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Lời nói đầu
Bảo hiểm xã hội
là một chính sách lớn của mỗi Quốc gia, mang trong nó bản
chất nhân văn sâu sắc, vì cuộc sống an lành hạnh phúc của mọi ngời lao động. Chính
sách bảo hiểm xã hội thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả
năng tổ chức và quản lý của mỗi Quốc gia. Việc tổ chức và thực hiện tốt chính sách
bảo hiểm xã hội ( BHXH ) sẽ là động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của ngời
lao động trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nớc.
Trong hệ thống BHXH, chế độ hu trí đóng một vai trò rất quan trọng. Đây là chế
độ bảo hiểm dài hạn, bảo hiểm tuổi già cho ngời tham gia. Nó chiếm phần quan trọng
nhất cả về qui mô thực hiện, nội dung chuyên môn và nhu cầu tham gia của ngời lao
động trong xã hội. ở hầu hết các Quốc gia trên thế giới đều coi trọng chế độ này và
coi đó là một trong lĩnh vực có ảnh hởng tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế, xã
hội của đất nớc. Chính vì thế, nó luôn đợc quan tâm để làm sao cho việc tổ chức,
quản lý, thực hiện có hiệu quả nhất.
ở Việt Nam, qua 40 năm thực hiện, chế độ hu trí luôn có vị trí quan trọng đặc biệt
đối với ngời tham gia BHXH. Chế độ hu cùng với các chế độ BHXH khác đã góp phần
rất to lớn vào việc ổn định đời sống của công nhân viên chức, lực lợng vũ trang
(CNVC, LLVT) và gia đình họ làm cho họ yên tâm lao động sản xuât, thực hiện thắng
lợi các nhiệm vụ chính trị của đất nớc trong thời kỳ vừa qua. Nhờ có chế độ hu trí mà
ngời lao động sau khi hết tuổi lao động hoặc sau một số năm công tác nhất định đã đ-
ợc nghỉ hu và đợc nhận tiền hu để ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử
chế độ hu trí thời kỳ bao cấp cha thể hiện đúng bản chất của mình mà thể hiện tính u
đãi bao cấp của Nhà nớc cho một bộ phận dân c là CNVC, LLVT. Nhng trong thời kỳ
đó chế độ hu trí cũng đã góp phần rất lớn vào việc ổn định đời sống cho ngời lao
động. Đến nay, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trờng nhu cầu về BHXH đa
dạng ngày càng tăng, số lợng ngời về hu cũng ngày càng tăng thì đời sống của họ luôn
luôn là mối quan tâm lơn của Đảng và nhà nớc ta. Do đó đặt ra yêu cầu là thực hiện
BHXH đối với ngời về hu nh thế nào để đạt đợc hiệu quả cao nhât, đồng thời phù

Sinh viên : Ngô Hoàng Hng
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Chơng I : Lý luận chung về chế độ bảo hiểm hu trí
I - Sự tất yếu khách quan hình thành chế độ bảo hiểm hu trí
1 . Sự phát triển của bảo hiểm xã hội trên thế giới.
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với
ngời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao
động , mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung
nhằm dảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình họ , góp phần đảm bảo
an toàn xã hội .
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là sự phát triển của lực lợng sản
xuất trên thế giới, BHXH ngày càng trở thành nhu cầu thờng xuyên, tự nguyện và
chính đáng của ngời lao động. Ngay từ thế kỷ XVI những ngời nông dân ở vùng
Anper đã nhận thấy để trợ cấp cho trờng hợp một số ngời bị ốm đau hay tai nạn.
Họ đã thành lập hội tơng hỗ với cách thức mỗi ngời đều trích ra một phần thu nhập
để đóng góp chung vào một quỹ, phòng khi có ai bị đau ốm hay tai nạn thì dùng
quỹ đó để giúp đỡ. Hình thức sơ khai này đợc BHXH phát triển dần nên, phạm vi
đợc mở rộng ra để có thêm nhiều ngời tham gia, mở thêm các loại trợ cấp bổ sung.
Nguyên tắc chung trong hoạt động bảo hiểm này là gắn liền quyền lợi đợc h-
ởng với nghĩa vụ đóng góp. Tuy vậy BHXH chỉ thực sự trở thành một lĩnh vực hoạt
động mang tính chất và ý nghĩa xã hội sâu sắc từ đầu thế kỷ 19. Quá trình đó gắn
liền với sự phát triển sản xuất công nghiệp, của nền kinh tế thị trờng và thị trờng
sức lao động mà trong đó có quan hệ chủ thợ trong lao động đợc trở nên phổ biến.
Một bộ luật đầu tiên về chế độ bảo hiểm trong lịch sử đợc hình thành ở nớc
Anh vào năm 1819. Bộ luật này có tên là bộ luật nhà máy. Nội dung cơ bản trong
luật này là bảo hiểm cho lao động trong các xởng thợ. ở một nớc công nghiệp
khác, nớc Đức đã ban hành luật bảo hiểm ốm đau vào năm 1883, luật tai nạn lao
động năm 1884 và luật bảo hiểm ngời già và ngời tàn tật do lao động vào năm

cho xã hội những kinh nghiệm quý báu trong quá trình lao động sản xuất mà họ đã
tích luỹ đợc nhằm xây dựng đất nớc ngày càng phồn vinh hơn.
Bảo hiểm hu trí bảo đảm quyền lợi cho ngời lao động giúp họ tự bảo vệ mình
khi hết tuổi lao động, tự lo cho chính mình một cách hợp lý nhất nhờ vào việc họ
đã cống hiến sức lao động của mình để tạo ra của cải vật chất cho xã hội trớc đó.
Ngời lao động chỉ cần trích ra một tỷ lệ % tiền lơng tơng đối nhỏ khi còn đang làm
việc trong một thời gian nhất định. Đến khi hết tuổi lao động phải nghỉ việc họ sẽ
có đợc sự bảo đảm của xã hội làm giảm bớt phần nào khó khăn về mặt tài chính
do thu nhập thấp vì không còn lao động đợc nữa.
Nh vậy bảo hiểm hu trí là một chế độ mang tính xã hội hóa cao đợc thực hiện
một cách thờng xuyên và đều đặn, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nói cách
khác, chế độ bảo hiểm hu trí lấy đóng góp của thế hệ sau chi trả cho các thế hệ tr-
ớc. Vì vậy, nó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết giữa các thế hệ, làm cho mọi ngời
trong xã hội quan tâm và gắn bó với nhau hơn thể hiện mối quan tâm sâu sắc giữa
ngời với ngời trong xã hội .
3 . Vai trò của chế độ hu trí trong hệ thống các chế độ BHXH
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Trong một hệ thống BHXH thờng bao gồm nhiều chế độ khác nhau. Số lợng
các chế độ BHXH đợc xây dựng và thực hiện phụ thuộc vào trình độ phát triển và
mục tiêu cụ thể của hệ thống BHXH trong từng thời kỳ của mỗi nớc. Tuy nhiên,
trong bất cứ hệ thống BHXH nào cũng có những chế độ chính thể hiện đặc trng
những mục tiêu chủ yếu của hệ thống bảo hiểm xã hội. Một trong những chế độ đó
là chế độ hu trí hay chế độ bảo hiểm tuổi già cho ngời lao động .
Có thể khẳng định rằng chế độ hu trí là một trong những chế độ bảo hiểm đợc
thực hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của bảo hiểm xã hội. Theo quy định của
ILO thì chế độ này là một trong những chế độ bắt buộc, là chế độ chính sách khi
mỗi quốc gia muốn xây dựng cho mình một hệ thống bảo hiểm xã hội. Theo thống
kê của ILO, trong tổng số 163 nớc trên thế giới có hệ thống BHXH (1993) thì có

giúp cho xã hội ổn định và gắn bó. Ngày nay, tỷ lệ ngời già trong dân số càng tăng
do đó ổn định đời sống cho bộ phận này là rất quan trọng. Mặt khác, khi nghỉ hu
ngời lao động đợc sống thoải mái hơn và an nhàn hơn. Đối với ngời có trình độ có
khả năng họ lại tiếp tục cống hiến, truyền đạt kinh nghiệm cho thế hệ sau.
Ngời lao động trong quá trình lao động họ có đợc sự bảo đảm chắc chắn về
phần thu nhập khi họ nghỉ hu, làm cho họ yên tâm chú ý, không lo nghĩ về điều
kiện sống khi nghỉ hu do đó có thể làm việc với năng suất và chất lợng cao hơn.
Giúp ngời lao động tiết kiệm cho bản thân mình ngay trong quá trình lao động
để bảo đảm đời sống khi nghỉ hu, giảm bớt phần nào gánh nặng cho ngời thân, gia
đình và xã hội .
4.2 Đặc trng của chế độ bảo hiểm hu trí :
bảo hiểm hu trí là một chế độ BHXH dài hạn nằm ngoài qúa trình lao động.
Đặc trng này thể hiện cả trong quá trình đóng và hởng bảo hiểm hu trí. Ngời lao
động tham gia đóng phí BHXH trong một thời gian khá dài. Thời gian đó liên tục
đủ lớn theo quy định thì sẽ đủ một trong những điều kiện để đợc hởng bảo hiểm hu
trí. Khi đã đủ các điều kiện thì ngời lao động sẽ đợc hởng trợ cấp hu trí trong
khoảng thời gian tính từ lúc về hu cho đến khi ngời lao động chết. Quá trình hởng
này dài ngắn bao nhiêu tuỳ thuộc vào tuổi thọ của từng ngời và những ngời hởng
bảo hiểm hu trí là những ngời đã kết thúc quá trình làm việc của mình mà theo quy
định đợc nghỉ ở nhà và hởng lơng hu.
Trong chế độ hu trí có sự tách biệt giữa đóng và hởng. Vì đây là một chế độ
nằm ngoài quá trình lao động, cho nên để đợc hởng chế độ hu trí khi về hu thì ngời
lao động phải tham gia đóng phí ngày trong quá trình lao động. Trong suốt quá
trình lao động, số tiền ngời lao động đóng góp vào quỹ bảo hiểm hu trí dùng để chi
trả lơng hu ( trợ cấp tuổi già ) cho thế hệ trớc. Nh vậy có sự kế thừa giữa các thế hệ
lao động trong việc hình thành quỹ bảo hiểm hu trí, qua đó thể hiện nguyên tắc lấy
số đông bù số ít của bảo hiểm .
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368


những ngời làm những công việc trong điều kiện lao động và môi trờng nặng nhọc,
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

nguy hiểm đã có ảnh hởng nhất định làm suy giảm một phần khả năng lao động so
với bình thờng hay những ngời có thể chất yếu không đủ sức đảm đơng công việc .
2 .Thời gian đóng bảo hiểm để đợc hởng chế độ hu trí
Thời gian đóng bảo hiểm hu trí là tổng số đơn vị thời gian có đóng phí bảo
hiểm để đợc hởng chế độ này. Việc quy định thời gian đóng phí BHXH nhằm xác
định sự cống hiến về mặt lao động của mỗi ngời với xã hội nói chung và phần
đóng góp và BHXH nói riêng. Thời gian đóng BHXH là một trong những căn cứ để
đãi ngộ ( chi trả ) đối với ngời lao động nh theo luật định nhằm bảo đảm sự công
bằng, bình đẳng giữa những ngời tham gia bảo hiểm xã hội, thực hiện một trong
những nguyên tắc cơ bản của BHXH .
Việc xác định thời gian đóng phí BHXH đợc dựa trên căn cứ: độ tuổi về hu, tỷ
lệ đóng góp , tuổi thọ của những ngời về hu, mức đợc hởng... tóm lại tuỳ thuộc vào
khả năng tài chính về chế độ hu trí nói riêng và BHXH nói chung... Về nguyên tắc
nếu xuất phát từ việc đóng BHXH để hình thành quỹ sử dụng cho chế độ hu trí thì
phải tính đến tổng số thời gian đóng phí BHXH thực tế. Còn trong trờng hợp ngời
lao động làm việc trong những trờng hợp đặc biệt nh ngời lao động làm việc ở nơi
độc hại, vùng sâu, vùng xa... đợc pháp luật BHXH quy định số thời gian này đợc
làm căn cứ để giảm tuổi đời khi nghỉ hu.
Trong các chế độ BHXH bắt buộc, đối với chế độ hu trí hầu hết các nớc đều
quy định điều kiện để đợc hởng chế độ phụ thuộc hai yếu tố đó là độ tuổi xác định
và số năm đóng BHXH .
3 . Phí bảo hiểm hu trí
Cũng nh tất cả các chế độ bảo hiểm khác, chế độ hu trí liên quan đến mức phí
thu cho chế độ này. Trong thực tế có mức thu cho chế độ này đợc xác định riêng
theo một tỷ lệ nào đó so với thu nhập hay tiền lơng dùng để tính BHXH và bảo
hiểm hu trí. Đối với ngời lao động làm công ăn lơng thì thu nhập này thờng là tiền

quan điểmm chính. Quan điểm thứ nhất cho rằng tiền lơng hu là để bảo đảm mức
sống tối thiểu của ngời nghỉ hu theo tiêu chuẩn sống của quốc gia. Còn theo quan
điểm thứ hai thì lại là tiền lơng hu phải có giá trị bảo đảm cho ngời về hu có mức
sống cao, thậm chí trên mức trung bình của xã hội. Sự khác nhau này tất nhiên sẽ
dẫn đến mức đóng tơng ứng trớc khi đợc hởng cũng khác nhau.
Trong thực tế, khuynh hớng nào cũng có lý khi giải thích những nếu xét về mức
sống của ngời về hu và đặt trong quan hệ với sự phát triển và ý nghĩa về sự hấp dẫn
của BHXH đối với ngời lao động thì khuynh hớng thứ hai có sức thuyết phục hơn.
Những dù là mức hởng đợc xác định theo quan điểm nào thì vẫn phải đảm bảo yêu
cầu có tính nguyên tắc là tiền lơng hu phải thấp hơn tiền lơng khi làm việc.
Tiền lơng đợc tính theo công thức sau: LH = T * L
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Trong đó: LH : Tiền lơng hu đợc hởng
T : Tỷ lệ % dùng để tính lơng hu
L : Tiền lơng hay thu nhập dùng để tính lơng hu
Ngoài ra, tuỳ theo luật pháp của từng nớc về chế độ này mà ngời nghỉ hu đợc h-
ởng thêm các quyền lợi nh trợ cấp một lần khi nghỉ hu, hay đối với những ngời lao
động nghỉ việc cha đủ tuổi để hởng chế độ hu hàng tháng cũng nhận đợc trợ cấp
một lần và ngoài lơng hu hàng tháng, ngời nghỉ hu còn đợc bảo hiểm y tế do quỹ
BHXH đài thọ , khi chết gia đình đợc hởng chế độ tử tuất.
5 . Thời gian hởng chế độ hu trí
Thời gian hởng chế độ hu trí đợc hiểu là thời gian kể từ khi nghỉ hu cho đến khi
qua đời. Với mỗi ngời thì thời gian hởng lơng hu thông thờng là có khác nhau vì
tuổi nghỉ hu và tuổi thọ không giống nhau. Và do một trong những vấn đề có tính
xã hội, tính bù trừ ... trong BHXH nên trong quản lý thờng lấy số bình quân chung
thời gian hởng tiền lơng hu của ngời nghỉ hu trong cùng một hệ thống BHXH để
tính toán cho các chỉ tiêu khác.
Thời gian hởng tiền hu phải ngắn hơn thời gian đóng BHXH cho chế độ hu trí.

của chế độ này mà hệ thống các chỉ tiêu phải bao gồmất cả các chỉ tiêu định tính
và các chỉ tiêu định lợng
Theo quan điểm về hiệu quả nh trên ta thấy có thể có ba nhóm chỉ tiêu hiệu
quả của hoạt động BHXH đó là :
Nhóm 1: Các chỉ tiêu hiệu quả của hoạt động bảo hiểm hu trí
Nhóm 2 : Các chỉ tiêu đánh giá về sự phát triển của bảo hiểm hu trí
Nhóm 3 : Các chỉ tiêu đảm bảo lợi ích về kinh tế xã hội của ngời về hu
Sau đây là sự xác định cụ thể trong từng nhóm chỉ tiêu
6.1. Các chỉ tiêu hiệu quả trong hoạt động của bảo hiểm hu trí
BHXH tập trung vào ba hoạt động chính đó là thu BHXH, quản lý quỹ BHXH
và chi trả BHXH. Trong mỗi hoạt động đó có các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá mức
độ hiệu quả cụ thể:
Thu bảo hiểm hu trí
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Thu bảo hiểm hu trí là một chỉ tiêu tổng hợp và hiệu quả của nó đợc đánh giá
trên các mặt chủ yếu sau:
- Tỉ lệ về số ngời đóng BHXH
Số ngời đóng
Tỉ lệ % ngời đóng = * 100
Số ngời phải đóng.
Thực chất là thực hiện thu đúng và đủ số ngời đóng bảo hiểm hu trí. Thu đúng ở
đây chủ yếu là thu đúng đối tợng phải thu. Số đối tợng phải thu hiện nay là số ngời
lao động thuộc diện đóng BHXH bắt buộc, đăng kí tham gia đóng bảo hiểm hu trí.
Họ phải đóng BHXH trong đó có chế độ hu trí. Số ngời này thờng thay đổi do có
sự thay đổi của các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanhà nớc, nhất là số ngời
lao động làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh. Việc thu đúng thu đủ là rất cần
thiết để BHXH vừa đảm bảo lợi ích cho ngời lao động, vừa đảm bảo có những tác
dụng tích cực với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng nh với nền

bảo hiểm xã hội, sự di chuyển hay thay đổi nơi ở của từng ngời về hu phụ thuộc
vào khả năng và điều kiện sống mà họ lựa chọn. Khi đó công tác quản lý phải có
sự linh hoạt tốt để không chỉ quản lý tốt mà còn đợc thực hiện chi trả thuận lợi
đúng đối tợng đợc hởng chế độ này.
- Chi trả đủ về số lợng
Chỉ tiêu chi trả đủ về số lợng phản ánh về số tiền chi trả đủ cho mọi đối tợng đ-
ợc hởng hu trí theo quy định. Đây là yêu cầu pháp lý, đợc luật định thành các mức
tiền hu đợc hởng. Chi trả đủ cho ngời về hu phải đợc đảm bảo trên cơ sở số tiền mà
quỹ hu trí có đợc dùn để thanh toán và sự an toàn của số tiền này trong quá trình
chi trả cho các đối tợng đợc hởng chế độ hu trí
- Chi trả kịp thời gian
Chi trả kịp thời gian chính là việc bảo đảm ngời về hu phải đợc nhận lơng hu
đúng theo thời gian quy định. Đây là điều rất quan trọng vì tiền hu là một loại thu
nhập thờng xuyên của ngời về hu. Đối với các đối tợng này việc nhận lơng hu đúng
hạn sẽ giúp cho họ có thể ổn định đợc đời sống. Đối với các cơ quan bảo hiểm
điều này có ý nghĩa rất lớn trong quản lý nói chung và thanh quyết toán cho chế độ
hu trí nói riêng.
Các chỉ tiêu rất quan trọng trong quản lý quá trình thực hiện BHXH ở Việt Nam
trong điều kiện hiện nay khi mà BHXH đang còn có nhiều thay đổi cho phù hợp
với quá trình đổi mới nền kinh tế xã hội ở nớc ta.
Quản lý quỹ hu trí
Chỉ tiêu của hoạt động này phản ánh qua quản lý số lợng tiền hay quy mô quỹ
bảo hiểm hu trí nhằm bảo toàn giá trị của quỹ hu trí cả về giá trị danh nghĩa và giá
trị thực tế. Đồng thời đó còn là việc sử dụng quỹ này vào các hoạt động khác nhau,
làm phát triển không ngừng và nâng cao khả năng thanh toán của quỹ hu trí. Đó
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

chính là sự tăng cờng nguồn lực tài chính của chế độ hu trí. ở đây có nhiều chỉ tiêu
cụ thể:

14
Tổng thu thực tế > Tổng chi
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

theo phơng pháp tạo quỹ đợc áp dụng trong hệ thống hu trí. Vì theo các phơng
pháp khác nhau có thể cơ cấu thu và chi cũng sẽ khác nhau
6.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của chế độ hu trí
Mở rộng phạm vi đối tợng tham gia chế độ bảo hiểm hu trí
Chỉ tiêu mở rộng phạm vi đối tợng tham gia chế độ bảo hiểm hu trí đợc tính
qua tỷ lệ ngời lao động trong xã hội thực hiện vào chế độ hu trí trong tổng số lao
động nói chung. Đây là chi tiêu phản ánh kết quả thực hiện mục tiêu mở rộng
phạm vi hoạt động của chế độ hu trí. Trong điều kiện ở các nớc có nền kinh tế kém
phát triển, số ngời tham gia vào chế độ hu trí không nhiều thì chỉ tiêu này đợc sử
dụng để đánh giá quy mô và sự phát triển của chế độ hu trí qua các thời kỳ.
Theo đuổi mục tiêu mọi ngời đều có quyền và đợc tham gia vào BHXH để hởng
chế độ hu trí nên trong quá trình phát triển và mở rộng phạm vi hoạt động số ngời
tham gia vào chế độ này phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng nguồn lao động xã hội.
Tỷ lệ tăng số lợng ngời tham gia chế độ hu trí đợc xác định trên cơ sở mục tiêu mở
rộng của chế độ này. ở đây có thể lợng hoá chỉ tiêu này qua tỷ lệ phần trăm số ng-
ời tham gia vào chế độ bảo hiểm hu trí và tốc độ tăng của tỷ lệ này qua các năm.
Ngoài ra, cũng có thể tính thêm chỉ tiêu tỷ lệ tăng tơng đối so với tỷ lệ tăng lao
động xã hội .
Mở rộng các hình thức tham gia chế độ hu trí
Mở rộng các hình thức tham gia chế độ hu trí là chỉ tiêu chủ yếu phản ánh sự
tăng thêm các hình thức mới trong việc đóng phí bảo hiểm và hởng chế độ hu. Chỉ
tiêu này phản ánh sự phát triển về tổ chức hệ thống và các hoạt động của chế độ hu
trí, qua đó tăng cơ hội và khả năng để mọi ngời có thể tham gia vào chế độ này.
Hiện nay ở Việt Nam chúng ta mới áp dụng một hình thức đóng để hởng chế độ hu
trí trong đó dựa chủ yếu vào thời gian đóng và tuổi đời khi nghỉ hu.
Tuy nhiên sự khống chế về số năm đóng tối thiểu nh luật định hiện nay là 15

hội .
Đảm bảo sự công bằng xã hội giữa những ngời nghỉ hu
Đảm bảo sự công bằng xã hội giữa những ngời nghỉ hu phải đợc so sánh đánh
giá giữa đóng góp và hởng thụ, theo nguyên tắc đóng nhiều hởng nhiều, đóng ít h-
ởng ít. Khác với các chế độ bảo hiểm ngắn hạn, điều này rất cần đối với chế độ hu
trí vì việc đóng phí và hởng trong chế độ hu trí liên quan đến những khoản tiền rất
lớn trong thu và chi trả. Và có ảnh hởng rất lớn đến cuộc sống của các đối tợng
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

tham gia cả trong khi đóng và hởng theo chế độ này. Sự công bằng cũng có nghĩa
tham gia chế độ hu trí nh nhau thì quyền lợi đợc hởng cũng phải nh nhau .
Tăng sự tác động tích cực của chế độ hu trí đến phát triển kinh tế và sử
dụng có hiệu quả lực lợng lao động xã hội
Sự tác động tích cực của chế độ bảo hiểm hu trí đến sự phát triển kinh tế và ổn
định xã hội là một chỉ tiêu mang tính định tính khó lợng hoá. Nhng đây là một chỉ
tiêu rất quan trọng vì có tác dụng trực tiếp đến không chỉ ngời về hu mà bản thân
ngời lao động đang làm việc đã và có thể sẽ tham gia vào chế độ hu trí. Chế độ hu
trí phải góp phần ổn định kinh tế xã hội thông qua việc sử dụng có hiệu quả lực l-
ợng lao động đang làm việc trong xã hội. Chẳng hạn một chế độ hu trí tốt làm cho
lao động trong xã hội đợc điều hoà hợp lý, cân đối hơn giữa các khu vực và thành
phần kinh tế, qua đó nguồn lực lao động đợc khai thác và huy động đúng mục
đích. Việc sử dụng lực lợng lao động sẽ hiệu quả hơn. Đảm bảo tái sản xuất sức lao
động xã hội, an toàn xã hội ...
III - Kinh nghiệm xây dựng các chế độ BHXH đối với ngời
nghỉ hu.
1. Về điều kiện tuổi đời
ở các nớc khác nhau, tuỳ theo các nhân tố dân số và kinh tế xã hội mà có sự
quy định tuỏi đời khác nhau giữa các nhóm nớc và khác nhau giữa nam và nữ trong
cùng một nớc. Có thể có một số nớc quy định độ tuổi nam và nữ nh nhâu nhng có

+ Anh : 65 tuổi (nam) và 60 tuổi (nữ).
+ Pháp : 60 tuổi ( tối đa là 65 tuổi).
+ Đức : 65 tuổi (nam) và 63 tuổi (nữ).
- Nhóm các nớc Châu á ( Ngoài ASEAN ).
+ Trung Quốc : 60 tuổi (nam) và 55 tuổi (nữ).
+ Nhật Bản : 60 tuổi(nam) và 55 tuổi (nữ)
+ ấn độ : 55 tuổi(chung cho cả hai giới).
- Nhóm các nớc ASEAN.
+ Indonesia: 55 tuổi (cho cả hai giới).
+ Malaysia : 55 tuổi(cho cả hai giới).
+ Xingapo : 55 tuổi (cho cả hai giới).
+ Philipin : 60 tuổi (cho cả hai giới).
Nh vậy có thể thấy tuổi nghỉ hu của các nớc giao động trong khoảng từ 55 đến
65 tuổi và có phân biệt giới tính. Qua thống kê cho thấy chỉ có 34.62% số nớc có
quy định tuổi nghỉ hu ở cả nam và nữ là nh nhau. Đa số các nớc ASEAN quy định
tuổi nghỉ hu chung cả nam và nữ là 55 tuổi.
2 . Về việc xác định số năm đóng góp BHXH
Số năm dóng góp BHXH có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công việc xác lập
chế độ hu trí. Vì vậy số thời gian đóng BHXH là một trong các điều kiện để đợc h-
ởng trợ cấp hu. ở nhiều nớc có quy định phải có một số năm đóng tối thiểu. Qua
thống kê cho thấy số năm đóng BHXH dao động từ 15 đến 45 năm. Một nguyên
tắc đặt ra trong chế độ hu là độ tuổi đợc hởng chế độ hu xác định cao thì đòi hỏi số
năm bắt buộc phải đóng BHXH phải cao. Số năm đóng BHXH thấp (nhng không
đợc thấp hơn số năm tối thiểu) thì mức trợ cấp thấp hơn.
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Quy định thời gian đóng BHXH (tối thiểu) của một số nớc nh sau :
- Mỹ, Anh : Đóng góp 52 tuần liên tục cộng với 9/10 tổng số năm làm việc.
- Pháp : ngời tham gia BHXH phải đóng góp 150 quỹ.

- Trung quốc : 60 đến 90% thu nhập trong tháng cuối, phụ thuộc vào thời gian
công tác.
- ấn độ: Trả một lần tơng ứng với số đóng góp của chủ và thợ đã trả cộng với
7.58& lãi.
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

- Indonexia : Ngời nghỉ hu đợc nhận một khoản trợ cấp một lần tơng đơng với
mức mà ngời sử dụng lao động và ngời lao động đã đóng góp
trong suốt quá trình tham gia BHXH, cộng với khoản tiền lãi
tăng thêm.
- Malaysia : Tơng tự nh INDONEXIA.
- Philipines : 1.5% lơng bình quân của 120 tháng cuối cộng với từ 42 đến
102% của tiền lơng bình quân của 10 tháng lơng.
4 . Về mức đóng góp
Mức đóng góp cho chế độ hu cũng có sự khác nhau giữa các nhóm nớc. Tuy
nhiên ở hầu hết các nớc đều có sự phân chia đóng góp giữa giới chủ và giới thợ và
đóng riêng cho chế độ hu chứ không gộp vào các chế độ khác chẳng hạn:
- Mỹ: Ngời lao động đóng 6.2% tiền lơng ( nếu là lao động độc lập phải đóng
12.4% ), ngời sử dụng lao động đóng 6.2 % tổng quỹ lơng. Tiền lơng
cao nhất đợc dùng làm căn cứ để đóng BHXH là 57000 USD/ năm .
- Anh : Ngời lao động đóng 2 % của 54 Bảng / tuần đầu tiên cộng thêm 9% l-
ơng tuần của tiền lơng từ 54 đến 405 Bảng. Ngời sử dụng lao động
đóng từ 4.6 % đến 10.4 % .
- pháp : Ngời lao động đóng 6.54 % trong thu nhập đợc tính BHXH của mình,
ngời sử dụng lao động đóng 8.2 % tiền lơng tối đa để đóng BHXH là
12360 FRANCS một tháng .
- Đức : Ngời lao động đóng 8.75 % tiền lơng, nếu ngời lao động có thu nhập
dới 610 DM / tháng thì không phải đóng BHXH. Ngời lao động độc
lập phải đóng 15.7%. Ngời sử dụng lao động đóng 8.75 % quỹ lơng

khác nhau, (nh bảo hiểm thơng mại về con ngời ) thì bảo hiểm hu trí chỉ có thể đợc
thực hiện trong hệ thống BHXH. Cải cách hệ thống BHXH chủ yếu và thực chất là
cải cách chế độ hu trí.
- Hệ thống hu trí theo phơng pháp PAYGO đã từng đợc thực hiện trên hầu
hết các nớc có hệ thông BHXH nhng đến nay hệ thóng này bộc lộ nhiều nh-
ợc điểm và cần phải đợc thay thế bằng hệ thống khác. Hệ thóng mới nà các
nớc thực hiện nay đang chuyển sang thực hiện là hệ thống hu trí thực hiện
theo phơng pháp đầu t ứng trớc. Nhng đó là quá trình chuyển đổi trong một
thời gian dài.
- Trớc khi hệ thống cũ đợc thay thế hoàn toàn bằng hệ thống mới thì có tồn
tại sự song song hoạt động của hai hệ thống trong thời kỳ quá độ.
Nh vậy có thể nói BHXH và chế độ hu trí đang là một trong những vấn đề xã
hội quan tâm rất lớn, có ý nghĩa kinh tế và chính trị rất quan trọng. Nhận thức đúng
về bản chất chức năng của BHXH và chế độ hu trí đang còn là một quá trình. Chế
độ hu trí đã đợc thực hiện từ rất lâu và có vai trò ngày càng quan trọng trong xã hội
nhng quá trình phát triển cũng là quá trình tiếp tục nghiên cứu và đổi mới, hoàn
thiện không ngừng .
Để có đợc một chế độ hu trí thì nhận thức đúng bản chất của chế dộ này là điều
rất quan trọng . Cùng với đó phải hiểu và vận dụng đúng những nguyên tắc của chế
độ này trong quá trình thiết kế những nội dung của chế độ và tổ chức hệ thống hoạt
động . Trong đó có các yếu tố cơ bản nh mức phí đóng bảo hiểm, thời gian đóng
cần thiết, tuổi đời khi nghỉ hu, các mức lơng... phải đợc nghiên cứu có căn cứ khoa
học mới có thể đảm bảo cho chế độ này phát triển đợc. Một hệ thống hu trí phát
triển phải đảm bảo lợi ích của các bên tham gia trớc hết là ngời lao động với t cách
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

là đối tợng tham gia và hởng bảo hiểm hu trí, sau đó là các tổ chức, các doanh
nghiệp và toàn xã hội trong đó có Nhà nớc.
Chơng II : Thực trạng chế độ bảo hiểm hu trí tại

mọi ngời cha quan tam đến việc hởng chế độ , ttất cả phải lo cho tình hình kháng
chiến .
Sau này khi hoà bình lập lại trên miền Bắc, các chế độ đó mới chỉ đáp ứng cục
bộ những đòi hỏi trong từng giai đoạn và từng ngành hoạt động , chỉ nhằm giải
quyết các nhu cầu trớc mắt nên cha đồng bộ , toàn diện và lâu dài .
Trớc tình hình kinh tế , chính trị có những bớc phát triển nhất định cùng với
việc thay đổi lại chế độ tiền lơng . Quán triệt dần nguyên tắc phân phối theo lao
động Thủ tớng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 về
Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH thống nhất trong cả nớc . Các chế
độ này đợc chính thức thi hành từ ngày 1/1/1962 trên cơ sở hình thành và sử dụng
quỹ BHXH tập trung, do sự đóng góp của các nhà máy, xí nghiệp và các cơ quan
Nhà nớc. Quỹ BHXH đợc quản lý và sử dụng vì lợi ích của công nhân viên chức
làm việc trong khu vực Nhà nớc. Việc quản lý BHXH do hai cơ quan quản lý đó là:
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam quản lý 3 chế độ ngắn hạn là: ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, còn Bộ Lao động - Thơng binh - Xã hội
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

quản lý 3 chế độ dài hạn là hu trí, tử tuất, mất sức lao động. Điều lệ này thực hiện
6 chế độ BHXH cho ngời lao động trong đó có quy định cụ thể về chế độ hu trí .
Trong điều lệ, từ điều 42 đến điều 53 có quy định cụ thể về chế độ hu trí nh quy
định về thời gian công tác, tuổi đời và điều kiện lao động của công nhân viên chức
Nhà nớc. Cụ thể :
- Quy định tuổi nghỉ hu đối với nam là 60 tuổi và nữ là 55 tuổi. Số năm công tác
quy định chung là 25 năm, đối với những ngời lao động làm việc ở những
ngành nghề độc hại nguy hiểm thì giảm 5 năm so với quy định .
- Những ngời làm việc trong điều kiện làm việc đặc biệt, hoặc ở trong quân ngũ
thì thời gian công tác của họ đợc quy đổi theo hệ số.
Chế độ hu trí trong giai đoạn này chỉ đợc thực hiện cho cán bộ công nhân viên
chức làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nớc và quân nhân trong lực lợng vũ


Nghị định 236/HĐBT và chế độ hu trí đối với ngời lao động.
Sau nhiều năm thực hiện chính sách BHXH trên cơ sở điều lệ tạm thời về
BHXH , Đảng và Nhà nớc đã nhận thấy rõ những điểm tồn tại và hạn chế của điều
lệ . Đồng thời trong hoàn cảnh đó tình hình kinh tế xã hội nớc ta có nhiều thay đỏi
quan trọng , đất nớc đã thống nhất , nền kinh tế chuyển sang giai đoạn mới theo xu
hớng nhieeuf thành phần giảm bớt tập trung và bao cấp . Cuộc sống của ngời la
động có nhiều biến đổi đặc biệt là cải cách tiền lơng kéo theo đó là đời sống của
ngời nông dân và dân c nói chung đặc biệt là đời sống của ngời lao động ngày càng
caovà các nhu cầu về đảm bảo xã hội cũng tăng lên .
Trớc tình hình thực tế đó , trên cơ sở kế thừa các u việt trong điều lệ tạm thời về
BHXH ban hành kèm theo NĐ 218/CP , Nhà nớc đã ban hành NĐ 236/HĐBT ngày
18/9/1985 với nội dung nh sau :
- Về tuổi đời: Nghị định quy định nam công nhân viên chức đủ 60 tuổi( nếu là
quân nhân thì đủ 55 tuổi ) và có đủ 30 năm quy đổi, nữ công nhân viên chức
có đủ 55 tuổi ( nếu là quân nhân thì đủ 50 tuổi ) và có đủ 25 năm công tác
quy đổi thì đợc hởng chế độ hu trí. Tuỳ theo điều kiện lao động, chiến đấu,
thời gian công tác mà có hệ số quy đổi khác nhau, ngời về hu đợc hai khoản
là: trợ cấp một lần đầu tiền và tiền lơng hàng tháng.
- Cơ sở để tính lơng hu hàng tháng là lơng chính và phụ cấp thâm niên( nếu
có ) ở tháng cuối cùng trớc khi nghỉ hu. Trong trờng hợp sức khoẻ giảm sút
hoặc do yêu cầu công tác phải chuyển sang công tác khác hoặc hởng lơng
thấp hơn mức cũ thì lấy mức lơng cao nhất trong 10 năm trớc khi nghỉ hu.
- Về mức trợ cấp một lần trớc khi nghỉ hu tính trên tiền lơng chính cộng với
tất cả các khoản trợ cấp đang hởng của công nhân viên chức và quân nhân
sau thời gian nghỉ nguyên lơng. Cụ thể là :
+ Có đủ 25 năm công tác đợc hởng trợ cấp 2 tháng lơng
+ Có đủ 30 năm công tác đợc hởng trợ cấp 3 tháng lơng
+ Có đủ 35 năm công tác đợc hởng trợ cấp 4 tháng lơng
Lơng hu hàng tháng đối với nam có đủ 30 năm công tác, nữ có đủ 25 năm công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status