chế độ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam - Pdf 22


Lời nói đầu
Bảo hiểm xã hội
là một chính sách lớn của mỗi Quốc gia, mang trong nó bản
chất nhân văn sâu sắc, vì cuộc sống an lành hạnh phúc của mọi ngời lao động. Chính
sách bảo hiểm xã hội thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả
năng tổ chức và quản lý của mỗi Quốc gia. Việc tổ chức và thực hiện tốt chính sách
bảo hiểm xã hội ( BHXH ) sẽ là động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của ngời
lao động trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nớc.
Trong hệ thống BHXH, chế độ hu trí đóng một vai trò rất quan trọng. Đây là chế
độ bảo hiểm dài hạn, bảo hiểm tuổi già cho ngời tham gia. Nó chiếm phần quan trọng
nhất cả về qui mô thực hiện, nội dung chuyên môn và nhu cầu tham gia của ngời lao
động trong xã hội. ở hầu hết các Quốc gia trên thế giới đều coi trọng chế độ này và
coi đó là một trong lĩnh vực có ảnh hởng tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế, xã
hội của đất nớc. Chính vì thế, nó luôn đợc quan tâm để làm sao cho việc tổ chức,
quản lý, thực hiện có hiệu quả nhất.
ở Việt Nam, qua 40 năm thực hiện, chế độ hu trí luôn có vị trí quan trọng đặc biệt
đối với ngời tham gia BHXH. Chế độ hu cùng với các chế độ BHXH khác đã góp phần
rất to lớn vào việc ổn định đời sống của công nhân viên chức, lực lợng vũ trang
(CNVC, LLVT) và gia đình họ làm cho họ yên tâm lao động sản xuât, thực hiện thắng
lợi các nhiệm vụ chính trị của đất nớc trong thời kỳ vừa qua. Nhờ có chế độ hu trí mà
ngời lao động sau khi hết tuổi lao động hoặc sau một số năm công tác nhất định đã đ-
ợc nghỉ hu và đợc nhận tiền hu để ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử
chế độ hu trí thời kỳ bao cấp cha thể hiện đúng bản chất của mình mà thể hiện tính u
đãi bao cấp của Nhà nớc cho một bộ phận dân c là CNVC, LLVT. Nhng trong thời kỳ
đó chế độ hu trí cũng đã góp phần rất lớn vào việc ổn định đời sống cho ngời lao
động. Đến nay, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trờng nhu cầu về BHXH đa
dạng ngày càng tăng, số lợng ngời về hu cũng ngày càng tăng thì đời sống của họ luôn
luôn là mối quan tâm lơn của Đảng và nhà nớc ta. Do đó đặt ra yêu cầu là thực hiện
BHXH đối với ngời về hu nh thế nào để đạt đợc hiệu quả cao nhât, đồng thời phù
hợp với hoàn cảnh đất nớc trong thời kỳ đổi mới.. Để đáp ứng đợc yêu cầu này thì


Chơng I : Lý luận chung về chế độ bảo hiểm hu trí
I - Sự tất yếu khách quan hình thành chế độ bảo hiểm hu trí
1 . Sự phát triển của bảo hiểm xã hội trên thế giới.
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với
ngời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao
động , mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung
nhằm dảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình họ , góp phần đảm bảo
an toàn xã hội .
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là sự phát triển của lực lợng sản
xuất trên thế giới, BHXH ngày càng trở thành nhu cầu thờng xuyên, tự nguyện và
chính đáng của ngời lao động. Ngay từ thế kỷ XVI những ngời nông dân ở vùng
Anper đã nhận thấy để trợ cấp cho trờng hợp một số ngời bị ốm đau hay tai nạn.
Họ đã thành lập hội tơng hỗ với cách thức mỗi ngời đều trích ra một phần thu nhập
để đóng góp chung vào một quỹ, phòng khi có ai bị đau ốm hay tai nạn thì dùng
quỹ đó để giúp đỡ. Hình thức sơ khai này đợc BHXH phát triển dần nên, phạm vi
đợc mở rộng ra để có thêm nhiều ngời tham gia, mở thêm các loại trợ cấp bổ sung.
Nguyên tắc chung trong hoạt động bảo hiểm này là gắn liền quyền lợi đợc h-
ởng với nghĩa vụ đóng góp. Tuy vậy BHXH chỉ thực sự trở thành một lĩnh vực hoạt
động mang tính chất và ý nghĩa xã hội sâu sắc từ đầu thế kỷ 19. Quá trình đó gắn
liền với sự phát triển sản xuất công nghiệp, của nền kinh tế thị trờng và thị trờng
sức lao động mà trong đó có quan hệ chủ thợ trong lao động đợc trở nên phổ biến.
Một bộ luật đầu tiên về chế độ bảo hiểm trong lịch sử đợc hình thành ở nớc
Anh vào năm 1819. Bộ luật này có tên là bộ luật nhà máy. Nội dung cơ bản trong
luật này là bảo hiểm cho lao động trong các xởng thợ. ở một nớc công nghiệp
khác, nớc Đức đã ban hành luật bảo hiểm ốm đau vào năm 1883, luật tai nạn lao
động năm 1884 và luật bảo hiểm ngời già và ngời tàn tật do lao động vào năm
1889. Sự ra đời các bộ luật chính thức đầu tiên đó phản ánh một yêu cầu tất yếu
khách quan của BHXH.
Sang thế kỷ 20, hầu hết các nớc trên thế giới mà trớc hết là các nớc công

đã cống hiến sức lao động của mình để tạo ra của cải vật chất cho xã hội trớc đó.
Ngời lao động chỉ cần trích ra một tỷ lệ % tiền lơng tơng đối nhỏ khi còn đang làm
việc trong một thời gian nhất định. Đến khi hết tuổi lao động phải nghỉ việc họ sẽ
có đợc sự bảo đảm của xã hội làm giảm bớt phần nào khó khăn về mặt tài chính
do thu nhập thấp vì không còn lao động đợc nữa.
Nh vậy bảo hiểm hu trí là một chế độ mang tính xã hội hóa cao đợc thực hiện
một cách thờng xuyên và đều đặn, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nói cách
khác, chế độ bảo hiểm hu trí lấy đóng góp của thế hệ sau chi trả cho các thế hệ tr-
ớc. Vì vậy, nó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết giữa các thế hệ, làm cho mọi ngời
trong xã hội quan tâm và gắn bó với nhau hơn thể hiện mối quan tâm sâu sắc giữa
ngời với ngời trong xã hội .
3 . Vai trò của chế độ hu trí trong hệ thống các chế độ BHXH
4

Trong một hệ thống BHXH thờng bao gồm nhiều chế độ khác nhau. Số lợng
các chế độ BHXH đợc xây dựng và thực hiện phụ thuộc vào trình độ phát triển và
mục tiêu cụ thể của hệ thống BHXH trong từng thời kỳ của mỗi nớc. Tuy nhiên,
trong bất cứ hệ thống BHXH nào cũng có những chế độ chính thể hiện đặc trng
những mục tiêu chủ yếu của hệ thống bảo hiểm xã hội. Một trong những chế độ đó
là chế độ hu trí hay chế độ bảo hiểm tuổi già cho ngời lao động .
Có thể khẳng định rằng chế độ hu trí là một trong những chế độ bảo hiểm đợc
thực hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của bảo hiểm xã hội. Theo quy định của
ILO thì chế độ này là một trong những chế độ bắt buộc, là chế độ chính sách khi
mỗi quốc gia muốn xây dựng cho mình một hệ thống bảo hiểm xã hội. Theo thống
kê của ILO, trong tổng số 163 nớc trên thế giới có hệ thống BHXH (1993) thì có
tới 155 nớc có thực hiện chế độ hu trí chiếm tỷ lệ 95,1%. Điều đó chứng tỏ chế độ
hu trí rất đợc các nớc cũng nh ngời lao động quan tâm
Trên thực tế, tất cả những ngời tham gia vào BHXH đều có mong muốn tham
gia vào chế độ hu trí. Trong phần đóng góp phí BHXH nói chung thì phần chủ yếu
là đóng cho chế độ này. Đối với hệ thống BHXH thì hoạt động của ngành này tập

kiện sống khi nghỉ hu do đó có thể làm việc với năng suất và chất lợng cao hơn.
Giúp ngời lao động tiết kiệm cho bản thân mình ngay trong quá trình lao động
để bảo đảm đời sống khi nghỉ hu, giảm bớt phần nào gánh nặng cho ngời thân, gia
đình và xã hội .
4.2 Đặc trng của chế độ bảo hiểm hu trí :
bảo hiểm hu trí là một chế độ BHXH dài hạn nằm ngoài qúa trình lao động.
Đặc trng này thể hiện cả trong quá trình đóng và hởng bảo hiểm hu trí. Ngời lao
động tham gia đóng phí BHXH trong một thời gian khá dài. Thời gian đó liên tục
đủ lớn theo quy định thì sẽ đủ một trong những điều kiện để đợc hởng bảo hiểm hu
trí. Khi đã đủ các điều kiện thì ngời lao động sẽ đợc hởng trợ cấp hu trí trong
khoảng thời gian tính từ lúc về hu cho đến khi ngời lao động chết. Quá trình hởng
này dài ngắn bao nhiêu tuỳ thuộc vào tuổi thọ của từng ngời và những ngời hởng
bảo hiểm hu trí là những ngời đã kết thúc quá trình làm việc của mình mà theo quy
định đợc nghỉ ở nhà và hởng lơng hu.
Trong chế độ hu trí có sự tách biệt giữa đóng và hởng. Vì đây là một chế độ
nằm ngoài quá trình lao động, cho nên để đợc hởng chế độ hu trí khi về hu thì ngời
lao động phải tham gia đóng phí ngày trong quá trình lao động. Trong suốt quá
trình lao động, số tiền ngời lao động đóng góp vào quỹ bảo hiểm hu trí dùng để chi
trả lơng hu ( trợ cấp tuổi già ) cho thế hệ trớc. Nh vậy có sự kế thừa giữa các thế hệ
lao động trong việc hình thành quỹ bảo hiểm hu trí, qua đó thể hiện nguyên tắc lấy
số đông bù số ít của bảo hiểm .
Phụ thuộc chặt chẽ vào quan hệ sử dụng lao động. Ngời lao động và ngời sử
dụng lao động có mối quan hệ với nhau. Ngời sử dụng lao động muốn ổn định và
phát triển sản xuất kinh doanh thì ngoài việc đầu t cho thiết bị máy móc hiện
6

đại ,còn phải chăm lo tới đời sống ngời lao động mà mình đang sử dụng, tạo cho
họ việc làm, đảm bảo cuộc sống cho họ khi hết tuổi lao động bằng việc đóng
BHXH cho ngời lao động. Từ những tác dụng và đặc trng trên, quỹ bảo hiểm hu trí
chiếm tỷ trọng tơng đối lớn trong quỹ bảo hiểm hu trí. Do đó bộ phận quản lý quỹ

hiểm để đợc hởng chế độ này. Việc quy định thời gian đóng phí BHXH nhằm xác
định sự cống hiến về mặt lao động của mỗi ngời với xã hội nói chung và phần
đóng góp và BHXH nói riêng. Thời gian đóng BHXH là một trong những căn cứ để
đãi ngộ ( chi trả ) đối với ngời lao động nh theo luật định nhằm bảo đảm sự công
bằng, bình đẳng giữa những ngời tham gia bảo hiểm xã hội, thực hiện một trong
những nguyên tắc cơ bản của BHXH .
Việc xác định thời gian đóng phí BHXH đợc dựa trên căn cứ: độ tuổi về hu, tỷ
lệ đóng góp , tuổi thọ của những ngời về hu, mức đợc hởng... tóm lại tuỳ thuộc vào
khả năng tài chính về chế độ hu trí nói riêng và BHXH nói chung... Về nguyên tắc
nếu xuất phát từ việc đóng BHXH để hình thành quỹ sử dụng cho chế độ hu trí thì
phải tính đến tổng số thời gian đóng phí BHXH thực tế. Còn trong trờng hợp ngời
lao động làm việc trong những trờng hợp đặc biệt nh ngời lao động làm việc ở nơi
độc hại, vùng sâu, vùng xa... đợc pháp luật BHXH quy định số thời gian này đợc
làm căn cứ để giảm tuổi đời khi nghỉ hu.
Trong các chế độ BHXH bắt buộc, đối với chế độ hu trí hầu hết các nớc đều
quy định điều kiện để đợc hởng chế độ phụ thuộc hai yếu tố đó là độ tuổi xác định
và số năm đóng BHXH .
3 . Phí bảo hiểm hu trí
Cũng nh tất cả các chế độ bảo hiểm khác, chế độ hu trí liên quan đến mức phí
thu cho chế độ này. Trong thực tế có mức thu cho chế độ này đợc xác định riêng
theo một tỷ lệ nào đó so với thu nhập hay tiền lơng dùng để tính BHXH và bảo
hiểm hu trí. Đối với ngời lao động làm công ăn lơng thì thu nhập này thờng là tiền
lơng. Trong một số trờng hợp mức thu cho chế độ hu trí không xác định riêng mà
đợc gộp chung vào một mức thu gọi là thu BHXH nói chung. ở Việt Nam hiện nay
thực hiện thu chung một mức phí BHXH cho tất cả các chế độ BHXH đang đợc
thực hiện mặc dù trong đó có định lợng phần giành cho các chế độ bảo hiểm dài
hạn bảo hiểm hu trí.
Trong trờng hợp nh vậy phí hu trí đợc xác lập riêng thì phí đợc xác định theo
công thức sau đây:
P = T * TBH * L

cầu có tính nguyên tắc là tiền lơng hu phải thấp hơn tiền lơng khi làm việc.
Tiền lơng đợc tính theo công thức sau: LH = T * L
Trong đó: LH : Tiền lơng hu đợc hởng
T : Tỷ lệ % dùng để tính lơng hu
L : Tiền lơng hay thu nhập dùng để tính lơng hu
Ngoài ra, tuỳ theo luật pháp của từng nớc về chế độ này mà ngời nghỉ hu đợc h-
ởng thêm các quyền lợi nh trợ cấp một lần khi nghỉ hu, hay đối với những ngời lao
động nghỉ việc cha đủ tuổi để hởng chế độ hu hàng tháng cũng nhận đợc trợ cấp
9

một lần và ngoài lơng hu hàng tháng, ngời nghỉ hu còn đợc bảo hiểm y tế do quỹ
BHXH đài thọ , khi chết gia đình đợc hởng chế độ tử tuất.
5 . Thời gian hởng chế độ hu trí
Thời gian hởng chế độ hu trí đợc hiểu là thời gian kể từ khi nghỉ hu cho đến khi
qua đời. Với mỗi ngời thì thời gian hởng lơng hu thông thờng là có khác nhau vì
tuổi nghỉ hu và tuổi thọ không giống nhau. Và do một trong những vấn đề có tính
xã hội, tính bù trừ ... trong BHXH nên trong quản lý thờng lấy số bình quân chung
thời gian hởng tiền lơng hu của ngời nghỉ hu trong cùng một hệ thống BHXH để
tính toán cho các chỉ tiêu khác.
Thời gian hởng tiền hu phải ngắn hơn thời gian đóng BHXH cho chế độ hu trí.
Tuy vậy, thời gian nghỉ hu để hởng tiền lơng hu có thể khác nhau trong khi thực
hiện chế độ bảo hiểm này.Điều đó phụ thuộc vào các yếu tố nh tuổi đời khi nghỉ h-
u theo quy định của pháp luật, tuổi thọ bình quân của ngời nghỉ hu. Những yếu tố
này lại phụ thuộc vào chính sách lao động và BHXH trong từng giai đoạn, vào mức
sống và điều kiện sống của dân c.
Trong thực tế, tuổi nghỉ hu theo quy định của pháp luật thờng ổn định trong
một thời gian dài và nếu có thay đổi thì cũng ở trong khoảng từ 55 đến 60 tuổi đối
với ngời lao động bình thờng trong xã hội. Trong trờng hợp đặc biệt có thể có
những điều chỉnh nhng cũng dựa trên những độ tuổi đó. Khi tuổi thọ bình quân
ngày càng tăng lên thì thời gian hởng chế độ hu trí cũng có xu hớng tăng lên. Vấn

độ hiệu quả cụ thể:
Thu bảo hiểm hu trí
Thu bảo hiểm hu trí là một chỉ tiêu tổng hợp và hiệu quả của nó đợc đánh giá
trên các mặt chủ yếu sau:
- Tỉ lệ về số ngời đóng BHXH
Số ngời đóng
Tỉ lệ % ngời đóng = * 100
Số ngời phải đóng.
Thực chất là thực hiện thu đúng và đủ số ngời đóng bảo hiểm hu trí. Thu đúng ở
đây chủ yếu là thu đúng đối tợng phải thu. Số đối tợng phải thu hiện nay là số ngời
lao động thuộc diện đóng BHXH bắt buộc, đăng kí tham gia đóng bảo hiểm hu trí.
11

Họ phải đóng BHXH trong đó có chế độ hu trí. Số ngời này thờng thay đổi do có
sự thay đổi của các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanhà nớc, nhất là số ngời
lao động làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh. Việc thu đúng thu đủ là rất cần
thiết để BHXH vừa đảm bảo lợi ích cho ngời lao động, vừa đảm bảo có những tác
dụng tích cực với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng nh với nền
kinh tế nói chung. Mục tiêu thu ở đây là đảm bảo thu 100% đối tợng thuộc diện
phải đóng BHXH và hu trí.
Chỉ tiêu này có thể áp dụng mở rộng ra cho tất cả số ngời lao động có nhu cầu
tham gia bảo hiểm hu trí, và rộng hơn nữa là toàn bộ số ngời lao động trong xã hội.
- Thu đủ số tiền theo quy định cho chế độ hu trí.
Số tiền thu đợc
Tỷ lệ % tiền thu đợc = * 100
Số tiền phải thu
Số tiền thu đợc này phụ thuộc vào mức thu theo luật định và số lợng ngời mà
các cơ quan BHXH đã thu đợc, hay số ngời trực tiếp đóng bảo hiểm xã hội. Thu đủ
là rất quan trọng không chỉ vì nh đã đề cập ở trên mà đó còn là bảo đảm một sự
chủ động về nguồn tài chính, làm cho nguồn quỹ BHXH đợc ổn định, giúp duy trì

nhập thờng xuyên của ngời về hu. Đối với các đối tợng này việc nhận lơng hu đúng
hạn sẽ giúp cho họ có thể ổn định đợc đời sống. Đối với các cơ quan bảo hiểm
điều này có ý nghĩa rất lớn trong quản lý nói chung và thanh quyết toán cho chế độ
hu trí nói riêng.
Các chỉ tiêu rất quan trọng trong quản lý quá trình thực hiện BHXH ở Việt Nam
trong điều kiện hiện nay khi mà BHXH đang còn có nhiều thay đổi cho phù hợp
với quá trình đổi mới nền kinh tế xã hội ở nớc ta.
Quản lý quỹ hu trí
Chỉ tiêu của hoạt động này phản ánh qua quản lý số lợng tiền hay quy mô quỹ
bảo hiểm hu trí nhằm bảo toàn giá trị của quỹ hu trí cả về giá trị danh nghĩa và giá
trị thực tế. Đồng thời đó còn là việc sử dụng quỹ này vào các hoạt động khác nhau,
làm phát triển không ngừng và nâng cao khả năng thanh toán của quỹ hu trí. Đó
chính là sự tăng cờng nguồn lực tài chính của chế độ hu trí. ở đây có nhiều chỉ tiêu
cụ thể:
- Bảo toàn giá trị của quỹ bảo hiểm hu trí
Chỉ tiêu về bảo toàn giá trị của quỹ bảo hiểm hu trí là bảo toàn giá trị thực tế
của quỹ hu trí trong các thời kỳ quyết toán tránh đợc những tác động làm cho giá
trị của quỹ này giảm đi. Trong quá trình quản lý quỹ, có thể có các trờng hợp làm
cho quỹ hu trí giảm đi nh:
+ Tiền quỹ bị tổn thất, mất mát
+ Tiền quỹ bị mất giá do lạm phát
+ Tiền quỹ đầu t không thu hồi đợc
+ Tiền quỹ không thu hồi đợc ( nợ, nộp chậm... )
+ Các thất thoát khác...
13

- Mức và tỷ lệ tăng của quỹ hu trí qua các thời kỳ
Mức và tỷ lệ tăng của quỹ hu trí qua các thời ký là một trong những chỉ tiêu
quan trọng nhất trong quản lý quỹ bảo hiểm hu trí hiện nay. Để bảo đảm cho một
tiềm lực tài chính ổn định và vững mạnh, quỹ hu trí phải tăng lên không ngừng. Sự


tham gia vào chế độ này phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng nguồn lao động xã hội.
Tỷ lệ tăng số lợng ngời tham gia chế độ hu trí đợc xác định trên cơ sở mục tiêu mở
rộng của chế độ này. ở đây có thể lợng hoá chỉ tiêu này qua tỷ lệ phần trăm số ng-
ời tham gia vào chế độ bảo hiểm hu trí và tốc độ tăng của tỷ lệ này qua các năm.
Ngoài ra, cũng có thể tính thêm chỉ tiêu tỷ lệ tăng tơng đối so với tỷ lệ tăng lao
động xã hội .
Mở rộng các hình thức tham gia chế độ hu trí
Mở rộng các hình thức tham gia chế độ hu trí là chỉ tiêu chủ yếu phản ánh sự
tăng thêm các hình thức mới trong việc đóng phí bảo hiểm và hởng chế độ hu. Chỉ
tiêu này phản ánh sự phát triển về tổ chức hệ thống và các hoạt động của chế độ hu
trí, qua đó tăng cơ hội và khả năng để mọi ngời có thể tham gia vào chế độ này.
Hiện nay ở Việt Nam chúng ta mới áp dụng một hình thức đóng để hởng chế độ hu
trí trong đó dựa chủ yếu vào thời gian đóng và tuổi đời khi nghỉ hu.
Tuy nhiên sự khống chế về số năm đóng tối thiểu nh luật định hiện nay là 15
năm kèm với điều kiện tuổi đời chỉ thích hợp với ngời có công việc làm và thu
nhập ổn định để đóng bảo hiểm xã hội, nhất là lao động làm việc trong các doanh
nghiệp thuộc sở hữu Nhà nớc Việc linh hoạt về thời gian đóng BHXH làm cho
nhiều ngời có nhu cầu có thêm cơ hội để tham gia vào chế độ này .
Xét trên một góc độ khác, mức đóng cố định chỉ phụ thuộc vào mức thu nhập
hay tiền lơng để tính BHXH cũng sẽ làm giảm sức hấp dẫn của chế độ này khi
nhiều ngời muốn đóng thêm trên mức bình thờng để sau đó đợc hởng mức tiền cao
hơn .
6.3. Các chỉ tiêu bảo đảm quyền lợi kinh tế và xã hội của ngời về hu
Quyền lợi về kinh tế xã hội cho ngời về hu phải đợc phản ánh trong thực tế đời
sống kinh tế xã hội . Có thể dùng các chỉ tiêu sau đây để đánh giá :
Mức bảo đảm các tiêu chuẩn sống của ngời về hu
Chỉ tiêu này phản ánh qua mức lơng của ngời về hu nhận đợc và mức bảo đảm
thực tế cho cuộc sống của ngời về hu qua tiền hu. Khi tính toán cụ thể , mức bảo
đảm của tiền lơng hu phải đợc tính đến các mặt nh :

ợng lao động đang làm việc trong xã hội. Chẳng hạn một chế độ hu trí tốt làm cho
lao động trong xã hội đợc điều hoà hợp lý, cân đối hơn giữa các khu vực và thành
phần kinh tế, qua đó nguồn lực lao động đợc khai thác và huy động đúng mục
đích. Việc sử dụng lực lợng lao động sẽ hiệu quả hơn. Đảm bảo tái sản xuất sức lao
động xã hội, an toàn xã hội ...
16

III - Kinh nghiệm xây dựng các chế độ BHXH đối với ngời
nghỉ hu.
1. Về điều kiện tuổi đời
ở các nớc khác nhau, tuỳ theo các nhân tố dân số và kinh tế xã hội mà có sự
quy định tuỏi đời khác nhau giữa các nhóm nớc và khác nhau giữa nam và nữ trong
cùng một nớc. Có thể có một số nớc quy định độ tuổi nam và nữ nh nhâu nhng có
một số nớc khác lại quy định tuổi nghỉ hu của nữ thấp hơn nam. Xác định tuổi nghỉ
hu phụ thuộc rất nhiều yếu tố kể cả phụ thuộc vào nớc có dân số già hay trẻ. Đối
với nớc có dân dố già, số ngời nghỉ hu lớn, vì vậy họ phai nâng tuổi nghỉ hu thờng
cao hơn so với các nớc đang phát triển. Theo số liệu của văn phòng lao động quốc
tế trong 24 nớc thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế và trong 40 nớc đang
phát triển thì tuổi nghỉ hu đối với nam nữ nh sau :

Bảng 1: Cơ cấu tuổi nghỉ hu ở một số nớc
Độ tuổi
nghỉ hu
OCDE Nớc dang phát triển
Số nớc % Số nớc %
50 0 - 1 25
55 1 417 13 325
57 0 - 1 25
60 3 125 18 45
65 16 6667 7 175

chế độ hu trí. Vì vậy số thời gian đóng BHXH là một trong các điều kiện để đợc h-
ởng trợ cấp hu. ở nhiều nớc có quy định phải có một số năm đóng tối thiểu. Qua
thống kê cho thấy số năm đóng BHXH dao động từ 15 đến 45 năm. Một nguyên
tắc đặt ra trong chế độ hu là độ tuổi đợc hởng chế độ hu xác định cao thì đòi hỏi số
năm bắt buộc phải đóng BHXH phải cao. Số năm đóng BHXH thấp (nhng không
đợc thấp hơn số năm tối thiểu) thì mức trợ cấp thấp hơn.
Quy định thời gian đóng BHXH (tối thiểu) của một số nớc nh sau :
- Mỹ, Anh : Đóng góp 52 tuần liên tục cộng với 9/10 tổng số năm làm việc.
- Pháp : ngời tham gia BHXH phải đóng góp 150 quỹ.
- Đức : 15 năm đến 35 năm.
- Liên Xô : Nam(20 năm), Nữ(20 năm).
- Ba Lan : Nam(20 năm), Nữ(15 năm).
- Hungari : 20 năm(cho cả hai giới)
- ấn độ : 15 năm.
- Trung quốc : 10 năm liên tục.
- Nhật : 20 năm.
- Philipin : 120 tháng liên tục.
ở một số nớc ở Đông Nam á không quy định cụ thể thời gian đóng phí BHXH.
3 . Về mức trợ cấp hu trí.
Có rất nhiều cách xác định mức trợ cấp hu trí. Một số nớc xác định mức đồng
đều, coi là mức tối thiểu thích hợp với mặt bằng chung của quốc gia. Nhiều nớc
18

xác định mức trợ cấp theo thu nhập đã từng có của ngoiừ lao động khi nghỉ hu.
Một số nhóm nớc khác kết hợp cả hai cách.
Trong phần trợ cấp có phần nền(cơ bản) là một mức đồng nhất cộng thêm phần
tỷ lệ thu nhập. Tuy nhiên xu hớng chung là trợ cấp theo mức thu nhập đã từng có
của ngời lao động trớc khi nghỉ hu, phù hợp với đa ssố trờng hợp là đóng góp
BHXH theo thu nhập.
Mức trợ cấp hu của một số nớc:

ơng tuần của tiền lơng từ 54 đến 405 Bảng. Ngời sử dụng lao động
đóng từ 4.6 % đến 10.4 % .
19

- pháp : Ngời lao động đóng 6.54 % trong thu nhập đợc tính BHXH của mình,
ngời sử dụng lao động đóng 8.2 % tiền lơng tối đa để đóng BHXH là
12360 FRANCS một tháng .
- Đức : Ngời lao động đóng 8.75 % tiền lơng, nếu ngời lao động có thu nhập
dới 610 DM / tháng thì không phải đóng BHXH. Ngời lao động độc
lập phải đóng 15.7%. Ngời sử dụng lao động đóng 8.75 % quỹ lơng
và đóng 7.5% nếu trong doanh nghiệp có ngời lao động có thu nhập
thấp hơn 610 DM / tháng .
5. Một số kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện chế độ hu trí ở một số nớc
trên thế giới.
Qua nghiên cứu về quá trình tổ chức và thực hiện hệ thống hu trí của một số nớc
trên thế giới có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Trong tất cả nớc, vai trò của nhà nớc của chính phủ trong hệ thống hu trí là rất
quan trọng. Nhà nớc với t cách là ngời đề ra định hớng cho sự hoạt động hu trí và
là một sự bảo trợ rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của hệ thống này. Đặc
biệt là bảo trợ về tài chính ở các mức độ và hình thức khác nhau .
- Xu hớng đa dạng hoá về tổ chức thực hiện, về nội dung và phơng thức tiến hành
trong chế độ hu trí là phổ biến. Mặc dù vai trò của nhà nớc là rất quan trọng nh đã
nêu ở trên nhng tham gia hoạt động trong hệ thống hu trí không chỉ có các tổ chức
của nhà nớc, các tổ chức khác ngoài khu vực nhà nớc cũng có thể tham gia với điều
kiện tuân thủ đúng những quy định trong luật BHXH và hu trí. Đây là một trong
những điều kiện quan trọng nhất để mọi thành viên trong xã hội có nhu cầu đều có
thể tham gia vào chế độ hu trí .
- BHXH cũng nh bảo hiểm hu trí là vấn đề của con ngời nói chung và đều tuân
thủ những nguyên tắc phổ biến của lĩnh vực này. Tuy nhiên mỗi nớc có những đặc
trng riêng về tình hình phát triển kinh tế xã hội, tình hình dân số và lao động mà có

học mới có thể đảm bảo cho chế độ này phát triển đợc. Một hệ thống hu trí phát
triển phải đảm bảo lợi ích của các bên tham gia trớc hết là ngời lao động với t cách
là đối tợng tham gia và hởng bảo hiểm hu trí, sau đó là các tổ chức, các doanh
nghiệp và toàn xã hội trong đó có Nhà nớc.
21

Chơng II : Thực trạng chế độ bảo hiểm hu trí tại
BHXH Việt Nam
I . Thực trạng về chế độ chính sách bảo hiểm hu trí
Chế độ hu trí là một chế đọ có vai trò to lớn trong hệ thống BHXH của mỗi
quốc gia , bởi lẽ chế độ hu trí có ảnh hởng lớn nhất đến cuộc đời những ngời tham
gia BHXH . Chế độ hu trí cũng là một phơng tiện có thể ổn định đợc phần nào đời
sống ngời về hu , đặc biệt trong số đó là hu cô đơn không nơi lơng tựa hoặc những
ngời đã có những đóng góp đặc biệt cho xã hội. Thực hiện tốt chế độ hu trí trong
hệ thống BHXH sẽ góp phần nâng cao đời sống xã hội giảm bớt khó khăn cho ngời
về hu cũng nh khó khăn chung cho bộ phận dân c khác, nâng cao uy tín của BHXH
và các chế độ khác. Có thể nói trong hệ thống các chế độ BHXH, chế độ hu trí là
chế độ quan trọng hàng đầu. Nó đã, đang và sẽ là một chế độ BHXH có quy mô
hoạt động to lớn về cả số lợng và chất lợng.
Chính sách BHXH nói chung và chế độ hu trí nói riêng khi áp dụng ở nớc ta đã
có vai trò rất to lớn nhng cũng bộc lộ một số nhợc điểm qua các thời kỳ.
1. Giai đoạn trớc năm 1995.
Điều lệ tạm thời về BHXH năm 1961
Ngay sau cách mạng tháng tám năm 1945 , nhà nớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, lúc đó là nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thực hiện các chế độ
BHXH cho công nhân viên chức. Điều đó đợc thể hiện qua việc ban hành sắc lệnh
số 29/SL ngày 12/3/1947 thực hiện bảo hiểm ốm đau, bảo hiểm tai nạn lao động và
bảo hiểm hu trí .Cùng với sắc lệnh 29/SL, một số sắc lệnh khác nh sắc lệnh 76/SL
ngày 20/5/1950 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 cũng đợc ban hành sau đó,
nhằm thực hiện tốt hơn các chế độ cho ngời tham gia bảo hiểm xã hội.

thì thời gian công tác của họ đợc quy đổi theo hệ số.
Chế độ hu trí trong giai đoạn này chỉ đợc thực hiện cho cán bộ công nhân viên
chức làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nớc và quân nhân trong lực lợng vũ
trang.
Qua đó ta có thể thấy : việc ban hành nghị định 218/CP kèm theo điều lệ tạm
thời về BHXH là một bớc ngoặc lớn trong sự nghiệp BHXH ở nớc ta. Lần đầu tiên
quyền lợi và nghĩa vụ của ngời lao động đợc quy định cụ thể trong chế độ hu trí.
Từ đây, bảo hiểm hu trí đợc thống nhất và có đầy đủ tính pháp lý. Điều lệ đã giải
quyết đợc vấn đề tính toán thời gian của ngời lao động cho phù hợp với tình hình
23

thực tế. Từ đó đánh giá đúng mức đóng góp của ngời lao động cho xã hội và đa ra
các mức lơng tơng ứng.
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số điểm tồn tại:
- Thời gian công tác nói chung là tất cả thời gian mà ngời công nhân viên
chức làm việc lấy lơng hay sinh hoạt phí. Nếu thời gian công tác nói chung
đối với nam là 25 năm và với nữ là 20 năm mà không có thời gian công tác
liên tục trong 5 năm thì họ không đợc hu trí trợ cấp hu trí. Nh vậy thì rất
thiệt thòi cho ngời lao động. Đối với lao động nữ khi đủ 5 năm công tác liên
tục và có thời gian công tác nói chung nhiều hơn 25 năm nhng họ cũng chỉ
đợc hởng 45% lơng chính. Ngoài ra, do việc quy đổi hệ số thời gian công tác
lên đã dẫn đến tình trạng số ngời về hu có độ tuổi về hu thực tế thấp hơn
nhiều so với quy định. Thậm chí có ngời số năm công tác quy đổi gần bằng
tuổi đời.
- Điều lệ này vẫn còn nhiều hạn chế trong chính sách BHXH nói chung và
chế độ hu trí nói riêng. Nh trong quy định về thu chi thì điều lệ không gắn
thu với chi. Thu chi đều do quy ớc không có quỹ BHXH riêng mà chỉ có quỹ
BHXH độc lập trong ngân sách. Trên thực tế khi bắt đầu thực hiện điều
lệ này, cơ quan chủ quản về BHXH đã phải tiến hành chi ngay cho chế độ h-
u trí đối với nhiều ngời từ trớc năm 1962. Do đó ngân sách dành cho chi lại

+ Có đủ 25 năm công tác đợc hởng trợ cấp 2 tháng lơng
+ Có đủ 30 năm công tác đợc hởng trợ cấp 3 tháng lơng
+ Có đủ 35 năm công tác đợc hởng trợ cấp 4 tháng lơng
Lơng hu hàng tháng đối với nam có đủ 30 năm công tác, nữ có đủ 25 năm công
tác thì đợc tính bằng 75% lơng chính và phụ cấp thâm niên ( nếu có ) ngoài ta cứ
thêm 1 năm công tác đợc tính thêm 1% nhng tối đa không quá 95% lơng chính và
phụ cấp thâm niên.
Nh vậy, việc thực hiện chế độ hu trí theo nghị định này về cơ bản cũng giống
nh giai đoạn trớc đó là còn nhiều hạn chế về tuổi đời, hệ số, phạm vi thực hiện.
Cụ thể là :
- Phơng pháp tính thời gian quy đổi tuy có nhiều điểm chặt chẽ song đã gây ra
một số vớng mắc cho ngời lao động trong việc dò tìm hồ sơ khi về nghỉ hu.
Việc tính thời gian quy đổi đôi khi gây ra sự mất cân đối.
- Trong thực tế, tuổi nghỉ hu trung bình vẫn còn thấp do đợc cộng cả hệ số u
đãi xã hội về thời gian và năm làm việc thực tế thành số năm đợc nhận lơng
hu. Mặt khác lại còn chế độ u đãi với những đối tợng có sức khoẻ giảm sút
từ 18% trở lên.
- Phạm vi thực hiện chế độ vẫn còn hạn hẹp, chỉ áp dụng đối vói công nhân
viên chức Nhà nớc, chiếm xấp xỉ 12% tổng số lao động của cả nớc nhng lại
rất tràn lan. Chế độ bị lẫn lộn giữa bảo hiểm và u đãi. Cơ quan quản lý
không thống nhất bao gồm cả Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội, tổng liên
đoàn Lao động Việt Nam và Bộ y tế phụ trách việc giám định khả năng lao
động. Còn xét một cách tổng hợp để cho công nhân viên chức về nghỉ mất
sức lao động hoặc về hu, do các cơ quan xí nghiệp, các bộ ngành, các đoàn
thể các cơ quan đảng đoàn thể chính quyền và các cấp ra quyết định cơ quan
phụ trách theo dõi lại không ký quyết định cho nghỉ hu là điều bất hợp lý.
25

Trích đoạn Hoàn thiện bộ máy hoạt động của BHXH. Nâng cao hiệu quả đầu t quĩ nhàn rỗi.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status