Thực trạng và giải pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Techcombank chi nhánh Đông Đô - Pdf 88

LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất và tiêu dùng là hai mặt rất quan
trọng. Sản xuất chính là đại diện của lượng cung, còn tiêu dùng chính là đại
diện của lượng cầu. Giữa sản xuất và tiêu dùng có mối quan hệ rất khăng khít
và có tác động qua lại lẫn nhau. Tiêu dùng là điều kiện cơ bản cho sự tồn tại
của sản xuất, vì có nhu cầu thì mới có nguồn cung. Còn sản xuất cũng góp
phần tạo nên sự phát triển của tiêu dùng, vì nhu cầu có được sự thoả mãn hiện
tại bởi cung thì mới có thể nảy sinh thêm các nhu cầu tiêu dùng mới.
Mối tương quan giữa sản xuất và tiêu dùng nằm ở trạng thái nào thì nó
sẽ tạo ra ảnh hưởng tương ứng cho nền kinh tế. Vì sản xuất quá nhiều mà
không có được nhu cầu tiêu dùng tương xứng thì sẽ tạo nên tình trạng khủng
hoảng thừa, giá cả sản phẩm trên thị trường sẽ giảm sút gây thiệt hại cho các
nhà sản xuất, quy mô sản xuất sẽ bị thu hẹp lại. Còn nhu cầu tiêu dùng quá
nhiều mà sản xuất không đáp ứng nổi sẽ gây nên tình trạng lạm phát cho nền
kinh tế. Vì vậy,đối với tổng thể nền kinh tế thị trường,để thúc đẩy nền kinh tế
ổn định và phát triển thì việc giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu, hay
chính là sản xuất và tiêu dùng là rất quan trọng. Sản xuất và tiêu dùng cần
được quan tâm như nhau để tạo nên sự cân bằng kinh tế.
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế của ngành ngân hàng nước ta hiện nay, với
vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, thì việc hỗ trợ giải quyết mối quan hệ
giữa sản xuất và tiêu dùng là chưa xứng đáng với khả năng. Tổng dư nợ cho
vay tiêu dùng của các ngân hàng còn thấp, chỉ chiếm khoảng 20-30% tổng dư
nợ cho vay. Trong khi tỷ lệ này ở các nước có nền kinh tế phát triển như
Mỹ,Nhật và các nước châu Âu luôn là 40-50%.Điều đó cũng nói lên rằng tiềm
năng cho vay tiêu dùng trong nước còn rất lớn, trong khi đó khả năng khai
thác khu vực tín dụng tiêu dùng của các ngân hàng còn hạn chế hoặc chưa có
sự quan tâm xứng đáng cho lĩnh vực này.
Theo lộ trình cam kết gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO, sắp
tới chúng ta sẽ phải mở cửa toàn bộ hệ thống ngân hàng, đón nhận sự cạnh
tranh gay gắt từ ngân hàng nước ngoài vốn là các ngân hàng có nguồn vốn
lớn,khoa học công nghệ hiện đại và đặc biệt là kinh nghiệm hoạt động lâu

vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới tiêu dùng như khách hàng tiềm
năng. Đặc biệt, sau chiến tranh thế giới thứ hai, cho vay tiêu dùng đã trở
thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước
có nền kinh tế phát triển. Hiện nay, thị trường cho vay tiêu dùng ở các quốc
gia phát triển đã đạt đến đỉnh điểm trong khi các quốc gia phát triển thì mảng
thị trường này vẫn còn tiềm năng.
1.1.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng.
Quá trình hình thàng và phát triển cho vay tiêu dùng.
Cho vay là hoạt động cơ bản của các ngân hàng thương mại nhưng từ
xưa đến nay, các ngân hàng mới chỉ quan tâm đến cho vay các doanh nghiệp
sản xuầt kinh doanh hàng hoá mà chưa thực sự chú ý tới nhu cầu cho vay tiêu
dùng của người dân.
Cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu vay tiêu dùng gia tăng mạnh
gắn liền với nhu cầu về hàng tiêu dùng lâu bền như nhà, xe, đồ gỗ sang trọng,
nhu cầu du lịch... Tuy nhiên, không phải cứ có nhu cầu là ta đáp ứng đúng lúc
đúng thời điểm bởi nó còn phụ thuộc vào một nhân tố quan trọng đố là khả
năng thanh toán. Đây thực sự là một vấn đề quan trọng. làm thế nào để giải
quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán ?
Trên thực tế có hai cách giải quyết. Thứ nhất là mua bán chịu – cách
này chỉ có lợi cho người mua, còn bất lợi với người bán. Người mua sẽ được
sử dụng hàng hoá trước khi có đủ số tiền cần thiết,nhưng người bán sẽ thu hồi
vốn chậm, thậm chí bị người mua quỵt tiền. Khi cần tiền để nhận hàng hoặc
mở rộng sản xuất kinh doanh thì đến người bán dễ rơi vào tình trạng thiếu
phương tiện thanh toán. Vì vậy, cách mua bán chịu không phổ biến, không
khả thi gặp nhiều rủi ro. Thứ hai là người mua vay đi vay tiền, họ sẽ cảm giác
là đủ phương tiện thanh toán. Cách này của thoả mãn nhu cầu của người tiêu
dùng và nhà sản xuất cũng bán được hàng.
Như vậy, cần đến một tổ chức thứ ba hỗ trợ cả người mua và người bán
và không một tổ chức nào đảm nhiệm được vị trí này tốt bằng cách trung gian
tài chính, mà quan trọng nhất là các ngân hàng thương mại. Do đó, sự ra đời

khá phổ biến do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã
hội từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình
và thấp với nhiều nhu cầu phong phú và đa dạng.
Nguồn trả nợ: khách hàng trích nguồn thu nhập từ lương, thu nhập từ
hoạt động kinh doanh của mình (không phải là từ kết quả sử dụng những
khoản vay đó).
Mục đích vay: Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia
đình không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh. Nhu cầu đó có thể xuất
phát từ việc: mua nhà, sửa chữa nhà, xây dựng, mua sắm phương tiện, đồ
dùng, hay các nhu cầu du lịch, học hành hoặc giải trí...
Về rủi ro: Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao vì bên cạnh sự
ảnh hưởng của các yếu tố khách quan như môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội
nó còn phải chịu tác động của những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân
khách hàng.
Trong cuộc sống, chúng ta không thể lường trước được hết hậu quả do
những rủi ro khách quan như suy thoái kinh tế, mất mùa, thiên tai… Đặc biệt,
hoạt động cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế, nhất là khi nền
kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái. Khi đó, người tiêu dùng sẽ không thấy tin
tưởng vào tương lai và cùng với những lo lắng về nguy cơ thất nghiệp, họ sẽ
hạn chế việc vay mượn từ ngân hàng.
Ngoài ra, cho vay tiêu dùng còn chịu một số rủi ro chủ quan như tình
trạng sức khoẻ, khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình…Điều đó tạo nên
rủi ro lớn cho ngân hàng, hơn nữa thông tin tài chính của đối tượng này rất
khó đầy đủ và chính xác hoàn toàn. Mặt khác yếu tố đạo đức của cá nhân
người tiêu dùng cũng là nhân tố tác động trực tiếp vào việc trả nợ cho ngân
hàng, hay số lượng các khoản vay tiêu dùng là rất lớn trong khi đó số lượng
Cán bộ tín dụng ngân hàng lại có hạn cũng sẽ tạo nên rủi ro cho ngân hàng.
Chi phí mỗi khoản cho vay tiêu dùng là khá lớn.
Do thông tin về nhân thân, lai lịch và tình hình tài chính của khách
hàng thường không đầy đủ và khó thu thập, ngân hàng phải bỏ nhiều chi phí

điểm của những khoản tín dụng này thường có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ
ngắn.
1.1.3.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả.
Theo tiêu thức này thì cho vay tiêu dùng được phân thành:
-Cho vay tiêu dùng trả góp:
Theo hình thức tài trợ này, thì người đi vay trả nợ cho ngân hàng (gồm
cả gốc và lãi) theo nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định do ngân hàng quy
định (tháng, quý...). Hình thức này áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn
hoặc với những khách hàng mà thu nhập định kỳ của họ không đủ để thanh
toán hết một lần số nợ vay. Đối với loại cho vay này ngân hàng cần chú ý đến
những vấn đề cơ bản sau:
- Loại tài sản được tài trợ:
- Số tiền phải trả trước:
- Điều khoản thanh toán.
-Cho vay tiêu dùng trả một lần.
Đây là hình thức tài trợ mà theo đó số tiền vay của khách hàng sẽ được
thanh toán một lần khi hợp đồng tín dụng đến hạn. Đặc điểm của các khoản
tín dụng này thường có quy mô nhỏ, thời hạn cho vay ngắn. Ngân hàng áp
dụng hình thức này bởi đây là biện pháp sẽ giúp ngân hàng không mất nhiều
thời gian như khi phải tiến hành thu nợ làm nhiều kỳ. Trong thực tế, khoản
cho vay tiêu dùng cấp theo hình thức này là rất ít.
1.1.3.3. Căn cứ vào phương thức cho vay giữa ngân hàng và khách hàng
vay vốn.
Theo đó cho vay tiêu dùng được phân thành:
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp:
Đây là hình thức trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng
của mình, việc thu nợ cũng được tiến hành trực tiếp bởi chính ngân hàng.
- Cho vay tiêu dùng gián tiếp:
Đây là hình thức ngân hàng không trực tiếp ký hợp đồng với người tiêu
dùng, mà theo hình thức này ngân hàng sẽ ký kết hợp đồng với chính nhà

mang lại cho ngân hàng một tỷ suất lợi nhuận tương đối lớn trong tổng lợi
nhuận của ngân hàng. Đặc biệt, với ngân hàng có quy mô nhỏ, uy tín chưa
cao...vv, khó có thể cạnh tranh được với các ngân hàng có quy mô lớn, uy tín
cao trong việc giành những khách hàng lớn (thường là các tổ chức mà nhu cầu
vay vốn đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh), hoặc có những khi nhờ
những mối quan hệ tốt có thể giành được khách hàng, nhưng ngân hàng lại
không thể đáp ứng được quy mô khoản vay của họ thì thị trường cho vay tiêu
dùng là vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng này.
1.1.4.2 Đối với người tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng có tác dụng đặc biệt với những người có thu nhập
thấp và trung bình. Thông qua nghiệp vụ cho vay tiêu dùng, họ sẽ được
hưởng các dịch vụ, tiện ích trước khi có đủ khả năng về tài chính như mua
sắm các hàng hoá thiết yếu có giá trị cao như nhà cửa, xe hơi… hay trong
trường hợp chi tiêu cấp bách như nhu cầu về y tế.
Có thể nói rằng bất cứ một người nào đều mong muốn được thoả mãn
những nhu cầu của riêng mình bắt đầu từ những hàng hoá tất yếu rồi đến
những hàng hoá xa xỉ hơn. Tuy nhiên thực tế là một người trẻ lại chưa có đủ
khả năng chi trả cho những nhu cầu của mình do đó họ cần thời gian tích luỹ
tiền, người tiêu dùng sẽ khéo léo phối hợp giữa thoả mãn ở hiện tại với khẳ
năng thanh toán ở hiện tại và tương lai. Có thể nói người tiêu dùng là người
được hưởng trực tiếp và nhiều nhất lợi ích mà hình thức cho vay này mang lại
trong điều kiện họ không lạm dụng chi tiêu vào những việc không chính đáng
vì khi đó sẽ làm giảm khả năng tiết kiệm và chi tiêu trong tương lai.
1.1.4.3 Đối với nền kinh tế -xã hội
Sự sung túc của một nền kinh tế được thể hiện rõ qua mức cầu về hàng
hoá tiêu dùng của dân cư. Mức cầu đó chính là số lượng và mức độ của các
nhu cầu có khả năng thanh toán. Việc phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng
của các NHTM sẽ làm tăng đáng kể những nhu cầu có khả năng thanh toán đó
hay nói cách khác đây chính là một giải pháp hữu hiệu để kích cầu và qua đó
làm cho nền kinh tế trở nên năng động hơn.

kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
Mở rộng TDTD phản ánh sự phát triển của tín dụng tiêu dùng trong
một môi trường tài chính cạnh tranh mạnh mẽ.
Mở rộng TDTD được xác định trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá khách
hàng, các loại hình dịch vụ ngân hàng cũng như các đối tượng cho vay.
Mở rộng TDTD chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và khách
quan trong nền kinh tế.
Mở rộng TDTD là một khái niệm cụ thể, song không vì thế mà giới hạn
cách hiểu của vấn đề này. Điều đó có nghĩa là mở rộng TDTD không chỉ là sự
tăng trưởng về quy mô tín dụng mà còn phải được hàm ý hiểu là sự nâng cao
chất lượng TDTD. Xuất phát từ cách hiểu trên, nên mở rộng TDTD đòi hỏi
phải được đánh giá theo những chỉ tiêu nhất định cũng như khi đánh giá phải
đặt trong mối quan hệ tổng thể với các chỉ tiêu tài chính khác. Có như vậy
mới giúp ngân hàng xác định nguyên nhân và những tồn tại trong việc mở
rộng TDTD để từ đó ngân hàng có những giải pháp cho việc mở rộng
TDTDcũng như nâng cao chất lượng TDTD tại chính ngân hàng.
1.2.2 Sự cần thiết của việc mở rộng tín dụng tiêu dùng.
* Đối với người tiêu dùng.
Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, cùng với nó là sự cải
thiện đáng kể trong mức sống của dân cư, thì nhu cầu tiêu dùng của phần lớn
bộ phận dân cư, đặc biệt là dân cư thành thị đang tăng lên rất nhiều với nhiều
hình thức tiêu dùng khác nhau. Thông qua nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng, các
ngân hàng đã đáp ứng phần nào nhu cầu chi tiêu của người dân, giúp cho họ
được hưởng những tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền và đặc biệt quan trọng
hơn nó rất cần thiết cho các trường hợp khi cá nhân có nhu cầu chi tiêu mang
tính cấp bách.
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển đời sống ngày càng được
nâng cao thì con người càng có quyền đòi hỏi cao hơn trong việc cải thiện
cuộc sống của mình.Nếu trước kia, chỉ cần “ăn no mặc ấm” thì ngày nay
chúng ta ai cũng mong muốn được “ăn ngon, mặc đẹp”.Đây là một yêu cầu

Mở rộng TDTD không chỉ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng mà còn
mang lại lợi ích cho nền kinh tế. Nếu TDTD được tài trợ cho những nhu cầu
chi tiêu hàng hoá, dịch vụ trong nước thì nó có tác dụng kích cầu, một mặt cải
thiện đời sống dân cư, mặt khác tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Hơn nữa, nó còn góp phần giảm chi phí giao dịch trong toàn xã hội. Đó
là chưa kể đến việc dịch vụ này với những tiện ích thanh toán không dùng
tiền mặt sẽ cải thiện môi trường tiêu dùng, xây dựng nền văn minh thanh toán,
góp phần tạo cơ sở để Việt Nam hoà nhập với cộng đồng phát triển quốc tế.
Xuất phát từ những lý do trên, có thể thấy được rằng mở rộng tín dụng
tiêu dùng là một yêu cầu khách quan của nền kinh tế.
1.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh mở rộng tín dụng tiêu dùng
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, mục tiêu của
ngân hàng là tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tối đa hoá lợi ích của khách hàng.
Chính vì vậy, trong quá trình cung ứng sản phẩm, dịch vụ của mình cho
khách hàng, một việc làm quan trọng và cần thiết là xác định được mục đích
cung ứng sản phẩm, dịch vụ và đồng thời phải đánh giá được sản phẩm và
dịch vụ mà mình cung ứng thông qua các chỉ tiêu đánh giá cụ thể. Do đó, mở
rộng TDTD có thể được phản ánh qua các chỉ tiêu sau:
1.2.3.1 Chỉ tiêu phản ánh doanh số tín dụng tiêu dùng:
Doanh số cho vay: Là tổng số tiền ngân hàng cho vay trong kỳ, nó phản
ánh một cách khái quát về hoạt động tín dụng của ngân hàng trong một thời
kỳ nhất định, thường tính theo năm tài chính.
- Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số tuyệt đối
Giá trị tăng trưởng = Tổng doanh số - Tổng doanh số
doanh số tuyệt đối TDTD năm t TDTD năm (t-1)
ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết doanh số TDTD năm t tăng so với năm
(t-1) về số tuyệt đối là bao nhiêu.
- Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số tương đối
Giá trị tăng trưởng doanh số tuyệt đối x 100%
Giá trị tăng trưỏng=

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng dư nợ TDTD năm t
so với năm (t-1)
- Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về tỷ trọng
Tổng dư nợ TDTD x 100%
Tỷ trọng =
Tổng dư nợ hoạt động tín dụng
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết dư nợ hoạt động TDTD chiếm tỷ lệ bao
nhiêu trong dư nợ của toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng, đồng thời so
sánh tỉ trọng này năm sau so với năm trước. Từ đó giúp cho ngân hàng có
những định hướng cụ thể trong việc mở rộng TDTD
1.2.3.3 Chỉ tiêu phản ánh số lượng và số lượt khách hàng
- Số lượng khách hàng: Là tổng số khách hàng thực hiện giao dịch với
ngân hàng. Trong hoạt động TDTD, số lượng khách hàng thể hiện ở số các
khoản vay tiêu dùng mà ngân hàng cấp cho khách hàng.
- mChỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về số lượng khách hàng
Mức tăng giảm = số lượng khách hàng - số lượng khách hàng số
luợng khách hàng nămt năm (t-1)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết số lượng khách hàng năm t tăng giảm
bao nhiêu so với năm (t-1). Qua đó giúp cho việc đánh giá khả năng mở rộng
quy mô và đối tượng khách hàng tại ngân hàng.
- Chỉ tiêu số lượt khách hàng:
Số lượt khách hàng là số lần một khách hàng đến giao dịch với ngân
hàng trong một năm. Trong hoạt động TDTD, số lượt khách hàng thể hiện ở
số lần khách hàng đến ngân hàng thực hiện vay tiêu dùng. Chỉ tiêu này cho
biết mực độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng.
1.2.3.4 Chỉ tiêu phản ánh sự mở rộng loại hình TDTD
Chỉ tiêu này phản ánh sự đa dạng về loại hình TDTD tại ngân hàng, qua
đó cho thấy khả năng mở rộng quy mô cũng như phạm vi hoạt động TDTD tại
ngân hàng. Đây đồng thời cũng là một chỉ tiêu quan trọng, phản ánh sự đa dạng
về đối tượng khách hàng đến thực thực hiện giao dịch TDTD tại ngân hàng.

tiêu dùng
• Môi trường công nghệ
Môi trường công nghệ kỹ thuật bao gồm các nhân tố gây tác động ảnh
hưởng đến công nghệ mới, sáng tạo sản phẩm và cơ hội thị trường mới. Đây
được coi là yếu tố tạo khả năng cạnh tranh cho các ngân hàng, do vậy cần
phải nắm bắt nhanh chóng xu hướng công nghệ để không bị lạc hậu và mất
lợi thế trong cạnh tranh.
• Môi trường chính trị pháp lý
Hoạt động ngân hàng liên quan tới hệ thống lưu chuyển tiền tệ quốc
gia, do đó cần có sự kiểm soát chặt chẽ hơn về phương diện pháp luật và
chính sách.Chính yếu tố này có tác động mạnh tới tín dụng tiêu dùng của
ngân hàng, bởi một môi trường chính trị ổn định sẽ tạo ra một môi trường đầu
tư an toàn, tạo lòng tin cho dân chúng. Hơn nữa, một môi trường pháp lý với
các chính sách hợp lòng dân sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế trong
nước diễn ra một cách nhanh chóng và thuận tiện, cụ thể là hoạt động tiêu
dùng của dân chúng và hoạt động tín dụng của ngân hàng.
1.2.4.2 Những nhân tố vi mô
Bao gồm các nhân tố khách quan từ phía khách hàng và các nhân tố
chủ quan từ phía ngân hàng, cụ thể:
Những nhân tố khách quan
Một là: Năng lực pháp lý:
Uy tín của khách hàng đóng vai trò quan trọng, bởi nó có thể quyết
định sự sẵn lòng trả nợ của khách hàng,là cơ sở tạo lòng tin đối với ngân
hàng. Với khách hàng là cá nhân, uy tín được quyết định bởi tư cách đạo đức.
Tư cách đạo đức của khách hàng phản ánh sự trung thực, lòng tin và đặc biệt
là thiện chí trả nợ của khách hàng.Mặc dù đây là yếu tố khó xác định nhưng
luôn được các ngân hàng quan tâm và tìm hiểu cặn kẽ.
Hai là: Khả năng tài chính
Là ảnh hưởng quan trọng đến quyết định tín dụng của ngân hàng, bởi lẽ
khả năng tài chính của khách hàng cho biết độc lập,tự chủ của của khách hàng

Hai là: Về mặt kỹ thuật nghiệp vụ
Một chính sách tín dụng phù hợp chưa đủ mà bản thân ngân hàng cần thực
hiện tốt các quy định, quy chế trong hệ thống như việc thực hiện các biện pháp
hạn chế rủi ro, thực hiện tốt việc đảm bảo tín dụng, các quy định về cho vay vốn
đối với khách hàng, tổ chức tốt công tác giám sát tín dụng và thu thập thông tin.
Ngoài ra ngân hàng cần chú ý tới việc giảm thiểu những thủ tục rườm rà, phức tạp
trong kỹ thuật và thủ tục thẩm định, nhằm tạo điều kiện cho khách hàng nhanh
chóng thực hiện khoản vay, cũng như tạo điều kiện nâng cao tính hiệu quả và chất
lượng của quy trình tín dụng trong ngân hàng.
Ba là: Thông tin tín dụng
Đối với hoạt động tín dụng, lòng tin đóng vai trò rất quan
trọng, nó được coi là một trong những cơ sở để thiết lập mối quan hệ
tín dụng. Chính vì lẽ đó, việc tìm hiểu những thông tin liên quan đến
khách hàng là rất cần thiết. Một mặt, nó giúp ngân hàng nhanh chóng
nắm bắt các nhu cầu của khách hàng, mặt khác nó giúp ngân hàng
hạn chế được các khoản vay có nguy cơ vỡ nợ tiềm ẩn. Trong hoạt
động TDTD, thông tin về khách hàng luôn được ngân hàng quan tâm
và đánh giá cao. Do đó, thông tin tín dụng phải nhanh chóng, kịp thời
và ở mức độ chính xác cao.
Bốn là: Đạo đức của cán bộ tín dụng
Ngân hàng cần chú trọng đến việcđào tạo và nâng cao trình độ
nghiệp vụ của các cán bộ tín dụng, đặc biệt là luôn đề cao đạo đức nghề
nghiệp của các cán bộ tín dụng. Bởi lẽ, một cán bộ tín dụng không có đạo
đức nghề nghiệp thì dù trình độ nghiệp vụ của họ có cao đến mấy cũng trở
thành vô nghĩa
Đây là một yếu tố rất quan trọng, bởi lẽ hình ảnh cũng nhưng uy tín
của mỗi ngân hàng được thể hiện qua văn hoá kinh doanh của ngân hàng
mà cụ thể ở đây là hình ảnh đạo đức của nhân viên ngân hàng, các cán bộ
tín dụng. Chính họ mới là người trực tiếp làm việc với khách hàng và cũng
chính họ là người gây nên ấn tượng về ngân hàng với khách hàng. Một đội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status