Nguyễn Tuân: Nghề văn - nghề chữ
30-12-2010
NGUYỄN THỊ HỒNG HÀ
Trong một bài giảng bồi dưỡng người viết trẻ, Nguyễn Tuân đã bộc bạch
quan niệm về nghề: “Nghề văn là nghề của chữ (1)… Nó là cái nghề dùng chữ
nghĩa mà “sinh sự” [...] [1/tr.715,716]. Theo ông, đánh giá một nhà văn, đúng về
mặt chuyên môn nghề nghiệp mà bàn, thì giá trị của người đó “là những công đức
lập ngôn”, là ở chỗ ông ta “đã mở mang thêm vốn liếng dân tộc về tiếng nói được
tới mức nào, và đã góp phần sáng tạo của mình vào ngôn ngữ Việt Nam như thế
nào” [1/tr.239].
Đọc Nguyễn Tuân, thấy rõ ở ông một ý thức
trách nhiệm
hoàn toàn tự giác và một
tình yêu
sâu đậm hết sức nhạy cảm với những gì liên quan đến ngôn ngữ, đặc biệt là đến tiếng mẹ đẻ.
Nguyễn Tuân không phải là nhà ngôn ngữ học, không phải là người lập thuyết. Ông là nhà thực
hành tài hoa và sáng tạo với một ý thức rất cao về vai trò, trách nhiệm của nhà văn với ngôn ngữ
mẹ đẻ, đúng như ông tự nhận trong mục chuyên môn của bản khai lí lịch ở Hội nhà văn:
Chuyên
viên tiếng Việt
. Trong bài viết này, người viết cố gắng ghi nhận một số thủ pháp tạo từ, dựng câu
của Nguyễn Tuân.
1. TỪ NGỮ
1.1.
Chữ đặt đúng chỗ, mở rộng hiệu năng:
Có những
chữ
(2) rất bình thường, quen
thuộc; nhưng nhà văn đặt nó vào trong một quan hệ mới, lập tức tạo ra một ý vị bất ngờ, và hình
như đã giải phóng những tiềm năng bấy lâu vẫn ngủ im trong con chữ.
Có cảm tưởng như Nguyễn Tuân đã đi vào tận ruột từ, tận đáy nghĩa; tạo điều kiện thích
tượng mạnh hơn. “Tuổi
măng trứng
”, “cái phẩm chất
thơ ngộ
”, “cái buổi
thơ nhiên
”… là những sự
kết ghép như thế. Chữ
sông mỏi
tả con sông Hương của một thời xa cũ: “Sáu nhịp cầu Tràng Tiền
rạng dần lên như ba cặp lông mày trắng thần lãng mạn nào đang soi vào mặt
sông mỏi
”
[IV/tr.777].
Nó đã lột tả tài tình đến thế, không chỉ dòng sông đọa lạc, mà cả cái không khí rời rã ám
ảnh trong lòng cũng như ngoài đời cái xã hội thuộc địa cuối mùa hồi đó. Hình dung cái học vị tú
tài của Tú Xương, Nguyễn Tuân viết: nó “
me mé ghe ghé
bể hoạn mà lại chưa đủ tiêu chuẩn bằng
cấp để vào quan chế.” [4/tr.261]. Chữ
“me mé ghe ghé”
đã diễn tả được cả vị trí éo le mấp mé
trên bậc thang xã hội, lẫn tâm trạng bực thân giận đời của ông Tú. Nó là sáng tạo độc đáo của
Nguyễn Tuân - độc đáo cả từ vị lẫn ngữ âm.
Cùng một thủ pháp kết ghép mới lạ như trên, bằng nhiều dạng khác nhau, nhưng đều thể
hiện được cái “nhỡn quan riêng” độc đáo của tác giả: “Tôi
cắm
một điếu thuốc […]
vào mồm
thằng giặc […] Tôi bật diêm
đò người Thái […] từ nay Sông Đà càng ngày càng
xanh ve
mãi lên một niềm hoài vọng!”
[IV/tr.464].
1.4. Dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, ngôn ngữ được xếp đặt, kết hợp hết sức linh hoạt, táo
bạo, đôi khi dụng ý chệch chuẩn để lạ hóa ngôn từ, nhằm đạt những hiệu quả chữ nghĩa mới mẻ.
Một trong những thủ pháp ngôn từ đó, là nhà văn đã tạo nên những kết hợp mới vẫn dựa trên
nghĩa gốc của từ, nhưng trong quan hệ ngang với từ khác cùng câu, đã nảy sinh một sắc thái ý
nghĩa mới cho một đối tượng, một trường hợp, một lĩnh vực nào đó. Với thủ pháp
chuyển hóa
từ nghĩa
ấy, nhà văn đã làm nổi bật lên cái nhìn hết sức độc đáo đối với gia đình của một lãng
tử, bằng một chữ “quàn” mà trước Nguyễn Tuân chắc hẳn không ai dám dùng như thế. “Tôi vẫn
nhớ đến cái tiểu gia đình tôi
quàn
tạm ở một cái tỉnh nhỏ miền trong nọ.” [II/tr.656]. Nguyễn
Tuân có hàng loạt những từ được dùng đắc địa trong ngữ cảnh đã chuyển hóa nghĩa như thế:
- “Có những đêm mưa to gió lớn làm
nhòe
những tiếng trống phủ cầm canh” [I/tr.513].
- “Gian nào cũng
tô hô
ra mặt phố” [III/tr.240].
- “Cái giọng hát […]
rót cong
được câu văn chầu vào tai người gần mình” [II/tr.242].
1.5. Nguyễn Tuân đặc biệt ưa dùng lối
điệp dồn cộng hưởng
. Thủ pháp này làm ý nghĩa,
cảm xúc dồn dập tăng cấp; vừa khắc sâu tô đậm, vừa mở rộng trường cảm nhận cho người đọc.
- “Quanh chị Dậu, quanh cái thẻ sưu thuế người, cả một hệ thống thiên la địa võng
bóc lột
sự sống, ăn hiếp sự sống, bức tử sự sống
.” [V/tr.733].
Có khi điệp cộng hưởng cùng một chữ, để ấn tượng thật đậm nét, tập trung:
- “
Thầu
cứt,
thầu
cơm,
thầu
rượu,
thầu
tất, cái gì có người gọi một cái là xin
thầu
ngay.”
[1/tr.591].
1.6. Không ít trường hợp, nhà văn dùng hình thức xâu chuỗi (thường được hình thức hóa
bằng những gạch nối) nhiều khái niệm liên quan hữu cơ với nhau thành một
chữ gộp
, để thể hiện
một khái niệm đặc thù nào đó:
- “Cái kiểu
thơ - mìn - nổ - chậm
của B.Bretch” [V/tr.634].
- “Bà
Tương - Phố - giọt - lê - thu
” [II/tr.259].
- “Chị Dậu hai lần bị cưỡng dâm ở mấy cái
tư - thất - công - đường - nhà - thổ
ăn mày
được ít chữ của thầy” [II/tr.750]; “Cụ
Kép
đãi
đứa cháu ngây thơ một nụ cười rất độ lượng.” [I/tr.198] hay “mời đi về quê
phúc
lại cho
một ngôi mộ.” [I/tr.198] khác nào những mảnh gốm di chỉ, dựng lại cho ta không chỉ lời ăn tiếng
nói, mà cả lề thói sinh hoạt, lễ giáo giao tiếp của một thời quá vãng. Lối đo đếm ước lượng thời
gian trong câu thoại “
Chừng vàng mặt giời
thì võng Cậu Lãnh tôi sẽ có người cáng tới đây."
[III/tr.88] in dấu tư duy của một xã hội nông nghiệp thô sơ.
Đọc
Chùa Đàn
, ta biết đến tên của những động tác đánh đàn như “
vê, lẩy, chụp, vuốt,
nhấn
; những tiếng
thoảng
, tiếng
xòe
”. Đọc
Chiếc va li mới
, ta làm quen với tiếng dân nghề sông
nước:
“sóng gối róc”
, rồi
“sóng vã tai”
, buồm
- chẳng nhẽ chỉ biết có văn chương?
và làm văn thôi?” [II/tr.433].
Và ở một tùy bút khác: “Tôi tương tư con sông Hương -
một con sông không có sóng,
nhưng hay chuyên chở những ngọn sóng của lòng người lỡ chơi trên mặt nước nó
.” [I/tr.250], rõ
ràng ở đây, thông báo quan trọng và ý vị đậm đà nhất của câu văn không phải ở cụm chủ vị đi
trước, mà ở vế giải ngữ đi sau.
Vào chặng đường sáng tác sau này, khi nói đến kẻ thù, với cảm thức dân tộc nhạy sắc và
tầm văn hóa uyên bác, Nguyễn Tuân còn sử dụng giải ngữ như một ngón đòn lợi hại, bằng một
dạng giải ngữ hiếm có, tràn bờ ranh cú pháp thông thường, sang hẳn một câu khác: trước mặt
mỗi thằng (4), trên nền nhà hỏi cung, lòi ra đôi dép trắng Thái Lan -
Thái Lan, cái nơi đã cho
không lực Hoa Kỳ mượn đất dựng sáu chục căn cứ để bay sang đánh Việt Nam. Thái Lan, cái xứ
xa bị Mỹ ăn hiếp, mà các nhà báo Pháp vẫn gọi mỉa là “cái bang thứ năm mươi mốt của Hoa Kỳ”
hoặc là chiếc hàng không mẫu hạm trên cạn của hạm đội VII.”
[IV/tr.663].
Với bản lĩnh dày công tích lũy khổ luyện, Nguyễn Tuân đã nâng bậc, đổi ngôi cho giải ngữ
từ địa vị một thành phần phụ thuộc trong cú pháp quy phạm, lên thành một nét trữ tình man
mác, một vế chính luận sắc bén trong câu văn.
1.10. Nguyễn Tuân còn đặc biệt hay dùng
định ngữ
(5) và rất sở trường lấy nó để diễn tả
vô cùng biến hóa, tinh tế về đủ mọi cảnh trạng, tình huống, tính chất, sắc độ... của sự vật khách
quan cũng như của tâm tư chủ quan.
Ông có cách riêng để gọi một loại màu rất khó gọi tên: “Gió, rêu, mưa suốt năm đem lại
cho tường gạch cái màu
uyển chuyển của thời gian
” [IV/tr.526]. Với định ngữ, Nguyễn Tuân còn
thể hiện được những sắc thái, ý nghĩa bất ngờ nhất: “Một cái ngã tư
của ông. Có một số người nhấn mạnh đến lời văn cầu kì, kênh
kiệu, miên man như vào mê trận của ông.
Thật ra, câu văn Nguyễn Tuân không chỉ có thế, cũng không phải phần lớn là thế. Và ngay
những câu phức hợp, nhiều vế đó cũng thường có lí do nghệ thuật của nó; hơn nữa, không phải
cứ khúc mắc, khó hiểu là kém giá trị đi.
Sau đây là một số dạng câu thường gặp trên các trang tùy bút Nguyễn Tuân:
2.1. CÂU DÂN DÃ
1. “Thuốc phiện làm cho Đinh lạnh như tiền và còn làm cho Đinh dài hẳn người ra nữa. Hun
đốt mãi thì còn gì mà chả!” [8/tr.144].
2. “Vào các thư viện bảo tàng khắp các nước mà tìm lấy. Khối”. [2/tr.5].
3. “Nhất nhẽ là phải làm thứ ma đói, anh cũng đành lòng.” [8/tr.104].
4. “Còm cọm mãi.” [II/tr.641].
5. “Tâm lại dám xưng chị! Và lại dám gọi những người ở đây là người Hời! Láo đến thế thì
thôi.” [I/tr.378].
Những câu trên trước hết đúng là lối nói “đặc Việt Nam”, rất kiệm lời mà vẫn rõ tình thái
phát ngôn. Có nhiều câu tưởng chừng nghe được cả ngữ điệu. Có khi như một lời chia sẻ thân
tình. Nhà văn đã không nệ những quy phạm hàn lâm, để cho ngôn từ sống động mà tung cánh.
Có câu nôm na suồng sã như lời buột miệng tự nhiên, nhưng vẫn là lời văn, không thể thêm bớt
hoặc thay thế một chữ.
2.2. Câu có phong vị cổ kính, giao hòa cũ mới.
Đây vẫn là những câu ta thường nói, thường nghe hiện nay, nhưng nó xen vào ít nhiều chữ
nghĩa hay lối diễn đạt cổ. Có khi ngay trong một câu, một chữ rất xưa cũ (“giấc hương quan”) lại
hòa hợp với những chữ in rõ dấu nỗi khủng hoảng “tân thời”: “Hồn quê lại giục khách tha hương
nhớ tử phần. [...] Giấc hương quan làm cho người ta khổ sở oằn oại đến thế là cùng.” [I/tr.280].
Có trường hợp, chỉ trong một đoạn văn, ta gặp cả mấy dạng câu - đối xứng cổ kính (câu a),
khẩu ngữ dân gian (câu b), cấu trúc hiện đại (câu c): “
[a]
Đã một đĩa ớt xanh, lại một đĩa ớt đỏ.
[b]
Trông vui mắt lạ.
Lại có những câu quá tây, mặc dù không phải vụng về, mà rõ ràng có dụng ý của tác giả;
nhưng đối với lỗ tai trung bình của công chúng Việt Nam ngay những năm hai ngàn này, nó cũng
khó nghe lọt: “Tôi nhận thấy keo bẩn mấy hào chỉ trong lúc này là một lỗi lớn.
Đối với phong
nhã!
” [I/tr.255].
Thế nhưng, hơn hai chục năm sau, khi bình truyện Tắt đèn, cũng là một vế trạng ngữ bắt
đầu bằng giới từ “với”, đem tách ra, tôn lên thành câu như thế, do Nguyễn Tuân đã “thuần hóa”
được nó, ta lại thấy sắc sảo, gây được ấn tượng: “Một cuộc sinh li (giống như tử biệt) bên một cái
rá khoai nghèo và khói cứ loãng dần trên củ khoai nguội.
Với bao nhiêu câu lục vấn của trẻ
.”
[1/tr.440].
Cùng loại câu nhiều vế nhiều tầng ấy, cần ghi nhận thêm câu Nguyễn Tuân tả cơn bão lũ
nội tâm của tấn “thảm kịch trường thiên” cuộc đời một phụ nữ. Mặc dù tác giả viết hoa chữ “chị”
sau dấu cảm - có thể theo một thói quen quy ước chính tả nào đó - nhưng xét cả về diễn tiến
mạch văn, lẫn cái đà ngữ điệu, đây chỉ có thể là
một câu
(6).
Câu văn dài hơi, gồm cả một giải
ngữ trùm lớp đồng thời một so sánh chứa chất nỗi niềm ấy, càng nổi bật sức nặng, dư âm của
nó, nhờ câu sau ngắn gọn, khẳng định chắc nịch thêm. Tác giả Tóc chị Hoài
đã kết hợp thật đẹp
cả “hoành” lẫn “tung” để lột tả cho kì được sự phong phú, phức tạp của đối tượng.
Đây chính là kiểu câu đặc trưng nhất của cú pháp Nguyễn Tuân: “Chị Hoài là một cái thảm
kịch trường thiên, là một nguồn sống bồng bột tắc lối thoát, là một dòng nước lũ tháng bảy và
ghê khiếp thay! Chị lại nín lặng tự đem cái thân mình ra làm con đê - một con đê dài dằng dặc
chạy song song bên con sông ì ầm vỗ vô khối con sóng tình cảm phiền phức, một con đê đắp
bằng những năm tháng âm thầm của một tuổi hoa niên thiếu ánh sáng, thiếu khí lành - để giữ
vững dòng nước nguồn tâm đừng tràn lan ra. Dòng nước lũ ấy mạnh lắm.” [II/tr.650].
từng thẩm thơ rất tinh tế. Và trên nhiều trang viết Nguyễn Tuân, có những đoạn văn xuôi đầy thi
vị. Xin dẫn ra vài ví dụ:
- “Con Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời
Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.”
[IV/tr.452].
- “Và thời gian của đồng hồ thủy tiên đêm Tết xa như không ngớt thánh thót vương
hương.” [IV/tr.587].
- “Sê-khốp là cái sáo diều vĩ đại, trên đôi cánh âm vang tiếng nói của hiện thực và nhịp thơ
của lãng mạn.” [V/tr.544].
Ngoại trừ một số (rất ít) câu quá Tây khó lọt tai người Việt, những câu lan man rườm rậm,
tật lặp chữ - những “của”, “là”… mà Thạch Lam đã nhắc đến từ bài viết về
Vang bóng một thời
(1940) - làm nặng nề câu cú; phải thừa nhận Nguyễn Tuân đã sáng tạo được những câu văn xuôi
thật uyển chuyển.
Xét về cấu trúc, câu văn Nguyễn Tuân rất đa dạng, không bị gò bó bởi những qui phạm hàn
lâm. Nhà văn cốt diễn tả sao cho lột được thần thái của đối tượng hay của cảm nhận cá nhân,
bằng cách nói riêng, tự mình tìm tòi, khai phá lấy. Ông sở trường nhất loại
câu thể hiện các diễn
biến ngóc ngách của nội tâm (Một chuyến đi, Tóc chị Hoài...)
, loại
câu cảm nhận bình phẩm độc
đáo về văn chương, thế sự (Thời và thơ Tú Xương, Tình rừng...)
và loại
câu đặc tả đầy ấn tượng
về cảnh vật (Người lái đò sông Đà, Cốm...).
***
Đi dọc hành trình sáng tác của Nguyễn Tuân, nhận thấy rất rõ sự vận động phát triển về
ngôn từ. Ở vài tác phẩm đầu tay của ông, câu văn hơi văn còn phảng phất cổ và sáo (với những
từ mòn và lối văn biền ngẫu). Liền sau đó diện mạo ngôn từ Nguyễn Tuân biến đổi, ông nhanh
chóng định hình phong cách và khẳng định phong độ của mình.
vô số qua các thiên tùy bút từ
Một chuyến đi
trước kia đến những trang kí chống Mỹ sau này -
những câu văn có nhạc điệu trữ tình giàu chất thơ của phương Đông truyền thống, lại cũng có cái
lôgic sắc sảo trập trùng sự kiện của phương Tây hiện đại; ta sẽ thấy Nguyễn Tuân đã mở rộng bờ
cõi ngôn từ văn chương làm giàu thêm cho lời ăn tiếng nói dân tộc như thế nào.
Cái giọng “đặc Việt Nam” ấy, thật ra đã được hiện đại hóa, nảy nở thêm nhiều sức diễn tả
mới với những câu văn xuôi “có một không hai” mà Phan Ngọc đã đem sánh với câu thơ Nguyễn
Du, câu đối Nguyễn Khuyến (7).
Với Nguyễn Tuân, ngôn từ không chỉ là chất liệu, phương tiện, mà còn là đối tượng của văn
chương, là chính văn chương; và nhà văn đã có ý thức lạ hóa nó, để tạo được dấu ấn độc đáo cho
mình và hấp dẫn độc giả. Ý thức này ở Nguyễn Tuân có gì đó gợi nhớ đến hình bóng của những
người theo trường phái chủ nghĩa hình thức Nga thế kỉ XIX. Con đường ngôn từ mà Nguyễn Tuân
khai phá có lẽ chỉ dành cho ông. Trên độc đạo ấy ông là khách độc hành. Nhưng rõ ràng, ở đây,
Nguyễn Tuân đã để lại tấm gương lớn về lao động sáng tạo và dũng khí mở đường.
Nguyễn Tuân - người lữ hành không mỏi của tiếng Việt - hồn Việt (*)
07-07-2010
GS MAI QUỐC LIÊN
Ngày 5/7/2010 tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức
trọng thể Lễ kỷ niệm 100 năm sinh nhà văn Nguyễn Tuân. Đến dự có Chủ tịch
nước Nguyễn Minh Triết, GS Phùng Hữu Phú - Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ
tịch Hội đồng Lý luận phê bình Văn học Trung ương và nhiều vị lãnh đạo Đảng,
Nhà nước. Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Hữu Thỉnh, đã đọc diễn văn
khai mạc, nhiệt liệt biểu dương sự nghiệp văn học đồ sộ, tâm huyết đối với đất
nước và nhân dân của nhà văn Nguyễn Tuân. Các GS Phùng Hữu Phú, Phong Lê,
nhà văn trẻ Võ Thị Xuân Hà đã đọc tham luận. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu
tham luận của GS Mai Quốc Liên - GĐ Trung tâm Nghiên cứu Quốc Học, Tổng
biên tập Tạp chí Hồn Việt.
Trong những ngày Hà Nội đánh Mỹ, ta có thể nhìn thấy Nguyễn Tuân mặc một bộ đồ lụa
nâu, thong thả giở tờ báo tiếng Pháp trên một chiếc nắp hầm trú ẩn cá nhân ở bái bia Cổ Tân
nhà Nho phong kiến như uống trà, viết chữ, thả thơ, ả đào… Tiếng vọng của một quá khứ văn
hóa đến từ những câu chuyện đó. Nó đem lại một niềm luyến tiếc khôn nguôi cho những tâm hồn
còn nặng nợ với văn hóa ta, đối lập với cái nhố nhăng, bát nháo của văn hóa thực dân đang du
nhập ồ ạt. Đó là sự níu kéo mỏng manh, một “tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa” như một
nhận định của một nhà văn hóa Cách mạng về văn chương lãng mạn 30 - 45.
Vang bóng một thời
còn là một tình điệu, một phong cách văn chương, một chiều sâu nội tâm ít có, uẩn áo… của một
chàng trai mới ngoài 30 tuổi.
Day dứt vì “thiếu quê hương”, Nguyễn muốn làm một lãng tử lãng du, nhưng những chuyến
đi sẽ đem lại gì ngoài sự chán nản sâu sắc hơn, sự bất mãn và bất lực trước cuộc đời và trước
chính mình. Nguyễn chưa kịp trở thành một “con người phản kháng”, “con người vô luân”…,
nhưng cái mầm của các thứ chủ nghĩa cá nhân hiện đại ấy của phương Tây đã thấp thoáng trên
trang sách. Rồi Nguyễn đi vào “tàn đèn dầu lạc”, vào “hát ả đào”, một chút “Liêu Trai” ma quái
mê sảng như trong “Chùa Đàn”. Cách mạng Tháng Tám đã đến cuốn bay tất cả những bế tắc đó,
và Nguyễn đi kháng chiến.
Cuộc đổi đời say mê tận tụy dâng hiến ấy, nhờ vào làn sóng của thời đại, nhờ vào lòng yêu
nước yêu dân tộc đã ăn sâu bén rễ từ trước ở một con người thanh niên trí thức thuộc địa, đã
đem đến cho Nguyễn một chân trời mênh mông, phong phú của sáng tạo văn học, từ chân trời
Việt Bắc – Cà Mau đến chân trời Lêningrat, Bắc Âu, Trung Hoa…
Người ta nói Nguyễn Tuân có phần “lập dị”, khinh bạc. Không, có lẽ Nguyễn Tuân là người
muốn yêu, muốn tận hưởng tình yêu cuộc sống, tình yêu cái Đẹp, tình yêu tiếng Việt trong cái tận
cùng của nó, và ông không thỏa mãn, coi thường những kẻ nửa vời… Cái Đẹp đối với ông là tất
cả, cái Đẹp ngàn năm, cái Đẹp mới mẻ, cái Đẹp của ngày mới Cách mạng, cái Đẹp của cuộc chiến
đấu kiên trì anh hùng vô song, cái Đẹp của những đời thường ở cả hai miền Nam Bắc. Trong văn
của ông đã đạt tới đích của Tư tưởng, của Sự thật, của Nghệ thuật.
Có điều là Nguyễn Tuân vẫn là Nguyễn Tuân.
Ông không thấy cần thiết mình phải biến thành người khác, hòa giọng đồng ca “thổi sáo ở
lẫn giữa ba trăm người” như người xưa nói. Ông bao giờ cũng trăn trở, tìm tòi, tỉ mỉ, nghĩ lớn
đồng thời nghĩ tinh tế… trên từng dòng, từng chữ để diễn đạt mình cho hết. Ông đã vắt cạn tài
năng này, tâm huyết cho từng trang văn, không bao giờ dám không gắng sức.