Bài giảng BAI THI CAI CACH HANH CHINH - Pdf 81

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Buôn Ma Thuột, ngày 20 tháng 01 năm 2011

BÀI DỰ THI
Cuộc thi tìm hiểu kết quả thực hiện cải cách hành chính
giai đoạn 2001 – 2010 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Họ tên: NGUYỄN HỮU DƯƠNG
Năm sinh : 19.09.1978
Giới tính : NAM
Nghề nghiệp: GIÁO VIÊN
Thành phần dân tộc : KINH
Tôn giáo : KHÔNG
Đảng viên : ĐẢNG VIÊN
Đơn vị công tác : TRƯỜNG THCS HUỲNH THÚC KHÁNG
Nơi thường trú : 155/19A MAI HẮC ĐẾ-TÂN THÀNH-TP BMT
Số điện thoại :09772.01234
Câu 1: Hãy nêu mục tiêu tổng quát và cụ thể, những ý chính nội dung,
chương trình hành động và giải pháp thực hiện được xác định tại Chương trình
tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001- 2010 của Thủ tướng Chính phủ?
Chương trình tổng thể cải cách hành chính được chia bao nhiêu giai đoạn, khâu
nào được lựa chọn là khâu đột phá trong cải cách hành chính?
Mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà
nước giai đoạn 2001 - 2010 là :
- Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên
nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công
cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp
với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

và Ủy ban nhân dân (sửa đổi). Xác định rõ tính chất, cơ cấu tổ chức, chế độ làm
việc của chính quyền cấp xã.
Đến năm 2010, đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý,
chuyên nghiệp, hiện đại. Tuyệt đại bộ phận cán bộ, công chức có phẩm chất tốt
và đủ năng lực thi hành công vụ, tận tụy phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước
và phục vụ nhân dân.
Đến năm 2005, tiền lương của cán bộ, công chức được cải cách cơ bản,
trở thành động lực của nền công vụ, bảo đảm cuộc sống của cán bộ, công chức
và gia đình.
Đến năm 2005, cơ chế tài chính được đổi mới thích hợp với tính chất của
cơ quan hành chính và tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công.
Nền hành chính nhà nước được hiện đại hóa một bước rõ rệt. Các cơ
quan hành chính có trang thiết bị tương đối hiện đại phục vụ yêu cầu quản lý
nhà nước kịp thời và thông suốt. Hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ
được đưa vào hoạt động.
Nội dung của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước
giai đoạn 2001 - 2010
1. Cải cách thể chế
Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế kinh tế của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế về tổ chức và hoạt động
của hệ thống hành chính nhà nước.
Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà
nước, của cán bộ, công chức
Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính
2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính
Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp
với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới
2

nhiệm của địa phương và các ngành trong việc điều hành tài chính và ngân
sách.
Bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân
các cấp, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động xử lý các công
việc ở địa phương; quyền quyết định của các Bộ, Sở, Ban, ngành về phân bổ
ngân sách cho các đơn vị trực thuộc; quyền chủ động của các đơn vị sử dụng
ngân sách trong phạm vi dự toán được duyệt phù hợp với chế độ, chính sách.
Trên cơ sở phân biệt rõ cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự
nghiệp, dịch vụ công, thực hiện đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan
hành chính, xoá bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng
cách tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào
kiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu của cơ quan hành chính, đổi
mới hệ thống định mức chi tiêu cho đơn giản hơn, tăng quyền chủ động của cơ
quan sử dụng ngân sách.
3
Đổi mới cơ bản cơ chế tài chính đối với khu vực dịch vụ công Xây dựng
quan niệm đúng về dịch vụ công. Nhà nước có trách nhiệm chăm lo đời sống
vật chất và văn hoá của nhân dân, nhưng không phải vì thế mà mọi công việc
về dịch vụ công đều do cơ quan nhà nước trực tiếp đảm nhận.
+ Xoá bỏ cơ chế cấp phát tài chính theo kiểu “xin - cho”, ban hành các
cơ chế, chính sách thực hiện chế độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp
có điều kiện như trường đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu v.v... trên cơ sở
xác định nhiệm vụ phải thực hiện, mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước
và phần còn lại do các đơn vị tự trang trải.
Thực hiện thí điểm để áp dụng rộng rãi một số cơ chế tài chính mới, như:
+ Cho thuê đơn vị sự nghiệp công, cho thuê đất để xây dựng cơ sở nhà
trường, bệnh viện; chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với cán bộ, công
chức chuyển từ các đơn vị công lập sang dân lập;
+ Cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư
phát triển các cơ sở đào tạo dạy nghề, đại học, trên đại học, cơ sở chữa bệnh có

việc chuẩn bị và thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra.
Nâng cao năng lực nghiên cứu và chỉ đạo của các cơ quan có trách nhiệm
giúp Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải
cách hành chính.
Bố trí nguồn lực tài chính cần thiết từ ngân sách nhà nước để xây dựng
và thực hiện các chương trình hành động cụ thể đã xác định.
5.Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền
Cải cách hành chính không chỉ là công việc riêng của hệ thống hành
chính, mà là yêu cầu chung của toàn xã hội. Vì vậy, cần tăng cường công tác
tuyên truyền, phổ biến thông tin để mọi cán bộ, công chức và người dân nhận
thức đúng về cải cách bộ máy nhà nước và cải cách hành chính.
Cần có những biện pháp thiết thực để thực hiện quyền giám sát của nhân
dân đối với hoạt động của bộ máy hành chính.
Các giai đoạn thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà
nước giai đoạn 2001 - 2010
Giai đoạn 1 (2001 - 2005) : nhiệm vụ trọng tâm là:
Xác định rành mạch chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của
các cơ quan hành chính từ Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ tới Ủy ban nhân dân các cấp;
Thực hiện xong về cơ bản việc phân cấp chức năng và thẩm quyền về
quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương; giữa các cấp chính quyền địa
phương;
Đổi mới cơ chế hoạt động và quản lý tài chính công đối với các cơ quan
hành chính, đơn vị sự nghiệp;
Thực hiện xong về cơ bản việc cải cách chế độ tiền lương cán bộ, công
chức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng.
Giai đoạn 2 (2006 - 2010) : Trên cơ sở các kết quả đã đạt được trong
giai đoạn 1, tiếp tục điều chỉnh, hoàn chỉnh, làm cho bộ máy của Chính phủ và
toàn bộ hệ thống quản lý hành chính nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội, thực hiện được mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải

nghiệp như: thu hút đầu tư, thuế, đất đai, nhà ở, hải quan, giải phóng đền bù...
Từ năm 2001 đến nay, tỉnh đã ban hành 800 văn bản quy phạm pháp luật, trong
đó có 58 văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý đầu tư xây dựng, gồm lĩnh
vực xây dựng, vật liệu xây dựng, nhà ở công sở, kiến trúc, quy hoạch xây dựng
đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, hạ tầng kỹ thuật đô thị (hè
đường đô thị, cấp nước thoát nước, chiếu sáng, công viên cây xanh, rác thải đô
thị, nghĩa trang, bãi đỗ xe trong đô thị); 27 văn bản quy phạm pháp luật trong
lĩnh vực tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi
trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ; 10 văn bản quy phạm pháp luật
trong lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham
nhũng...
Thể chế hành chính trên địa bàn tỉnh được hoàn thiện, đổi mới theo
Quyết định số 207/1999/QĐ-TTg ngày 25/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ,
về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khóa VIII), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân, Luật Thanh tra, Luật Cán bộ, công chức, Nghị định số
171,172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ quy định các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ
quan chuyên môn thuộc UBND quận, huyện, thị xã trực thuộc tỉnh, Nghị định
số 13,14/2008/NĐ-CP, ngày 04/02/2008 của Chính phủ, quy định tổ chức các
cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và
các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh. Thể chế hành chính đã làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách
nhiệm của từng cơ quan trong hệ thống hành chính để thực hiện tốt chức năng,
nhiệm vụ được giao sau khi chia tách, sáp nhập, từng bước thể hiện sự phân
cấp trong quản lý, loại bỏ phần lớn chồng chéo và trùng lắp về chức năng,
nhiệm vụ và bước đầu phân biệt rõ hoạt động của cơ quan hành chính với
6
doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; các văn bản pháp luật về công
vụ, cán bộ, công chức đã quy định khá cụ thể các quyền, nghĩa vụ của các cán

dựng văn bản quy phạm pháp luật hàng năm. Tỉnh chỉ đạo tập trung soạn thảo
văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc phối hợp hoạt động giữa các cơ
quan Nhà nước để giải quyết yêu cầu của người dân và doanh nghiệp như:
Sở Nội vụ xây dựng Quy định liên thông về trình tự tiếp nhận, giải quyết
hồ sơ, thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai tại UBND xã, phường, thị trấn;
Ban quản lý các khu công nghiệp xây dựng Quy chế phối hợp giữa Ban
và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh;
Sở Ngoại vụ xây dựng Quy chế thống nhất quản lý các hoạt động đối
ngoại trên địa bàn tỉnh;
Sở Xây dựng soạn thảo Quy định về phân cấp quản lý, sử dụng và đầu tư
xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị ;
7
Sở Công Thương xây dựng Quy chế trách nhiệm trong quản lý, cơ chế
phối hợp trong công tác quản lý vật liệu nổ công nghiệp...
UBND các huyện, thị xã, thành phố đã ban hành nhiều văn bản quy
phạm pháp luật, nội dung tập trung vào việc chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội,
đảm bảo quốc phòng an ninh ở địa phương. Các Nghị quyết, quyết định, chỉ thị,
kế hoạch, phương án, đề án đã được các ngành chức năng xây dựng đúng trình
tự thủ tục, thẩm quyền, thời gian ban hành; nội dung được dựa trên các văn bản
quy định hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền, đồng thời xem xét, đánh
giá đưa ra các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ phù hợp với thực tiễn của địa
phương.
- Tỉnh tiến hành 16 đợt rà soát văn bản quy phạm pháp luật do HĐND,
UBND tỉnh ban hành. Kết quả đã rà soát 39.356 văn bản, trong đó có 2.246 văn
bản quy phạm pháp luật đã được nghiên cứu, đánh giá...Qua đó, HĐND,UBND
tỉnh đã công bố hết hiệu lực và bãi bỏ 630 văn bản, gồm : 56 Nghị quyết của
HĐND và 574 văn bản của UBND, trong đó có hàng trăm văn bản có liên quan
đến thủ tục hành chính, đồng thời sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đối với hàng
chục văn bản khác; in hơn 3.000 tập “Văn bản quy phạm pháp luật hiện hành
của UBND tỉnh” và gần 2.000 đĩa CD Rom “Hệ thống văn bản quy phạm pháp

quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân; trong đó:
cấp Sở, ban, ngành có 44/960 TTHC chiếm 4,5%, cấp huyện 10/236 chiếm
4,2%, cấp xã 75/216 chiếm 34,7%.
Bước vào giai đoạn 2, tỉnh chỉ đạo quyết liệt tập trung triển khai công tác
rà soát thủ tục hành chính; tổ chức tập huấn hướng dẫn cho các Sở, ban, ngành,
UBND huyện, xã chọn điểm về phương thức rà soát các thủ tục hành chính,
mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, các yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ
tục hành chính nhằm đảm bảo chất lượng và đúng thời gian theo kế hoạch của
tỉnh đề ra. Trong quá trình tổ chức thực hiện, Tổ công tác tỉnh tiến hành kiểm
tra công tác rà soát thủ tục hành chính tại 22 đơn vị, tổng hợp sơ bộ số lượng
thủ tục hành chính, số lượng mẫu đơn, mẫu tờ khai (biểu mẫu 2a), số lượng yêu
cầu, điều kiện (biểu mẫu 2b) được rà soát của các Sở, ban, ngành, huyện, xã
chọn điểm; trên cơ sở đó kịp thời hướng dẫn, chấn chỉnh tình hình triển khai
công tác rà soát thủ tục hành chính tại cơ quan, đơn vị thực hiện chưa đúng
theo yêu cầu đề ra, định hướng xây dựng phương án kiến nghị sửa đổi, bổ sung,
bãi bỏ thủ tục hành chính đảm bảo đơn giản hóa tối thiểu 30% những quy định
về thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Giai đoạn 2, tỉnh
đã tiến hành rà soát 1.377 thủ tục hành chính hành chính thuộc thẩm quyền giải
quyết của các Sở, ngành và của UBND cấp huyện, cấp xã; trong đó, tổ chức lấy
ý kiến các cơ quan, tổ chức, người dân và doanh nghiệp đối với 239 thủ tục
hành chính thuộc 14 lĩnh vực phức tạp, gây phiền hà cho người dân, doanh
nghiệp bằng các hình thức như: thông qua các cuộc hội thảo tham vấn, bằng
văn bản, qua các kênh thông tin và tổ chức rà soát độc lập thủ tục hành chính…
Tỉnh đã thông qua phương án đơn giản hoá thủ tục hành chính, trong đó kiến
nghị giữ nguyên 494 thủ tục (chiếm 35,87%), có 812 thủ tục kiến nghị thay thế,
bãi bỏ (đạt 64,12% trên tổng số thủ tục hành chính của tỉnh có kiến nghị đơn
giản hóa các quy định về thủ tục hành chính) đảm bảo vượt chỉ tiêu của Thủ
tướng Chính phủ giao đơn giản hóa tối thiểu 30% các quy định về thủ tục hành
chính và ban hành các Quyết định thực thi Phương án đơn giản hóa thủ tục
hành chính do tỉnh quy định, được Trung ương đánh giá cao là 1 trong 10 đơn

cửa” tại 11 UBND huyện và 03 Sở, bao gồm: UBND huyện EaH’leo, UBND
huyện Lắk, UBND huyện Krông Búk, UBND huyện Buôn Đôn, UBND huyện
Krông Bông, UBND huyện Ea Súp, UBND huyện Krông Ana, UBND huyện
Cư M’Gar, UBND huyện M’Drắk, UBND huyện Krông Năng, Sở Xây dựng,
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư, nâng tổng số
cơ quan thực hiện cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh là 18 đơn vị, địa
phương, đồng thời, 14/14 huyện, thành phố nhân rộng mô hình “một cửa” đến
các xã, phường, thị trấn trên địa bàn. Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Xây
dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thông và
14/14 huyện, thành phố và một số xã được chọn thí điểm hình thành bộ phận
tiếp nhận và trả kết quả, bố trí phòng làm việc, đầu tư xây dựng trụ sở làm việc,
mua sắm trang thiết bị cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, bước đầu thay đổi
phương thức hoạt động hành chính trên cơ sở tách bạch giữa khâu tiếp nhận hồ
sơ và khâu giải quyết, xử lý hồ sơ, tạo ra một cơ chế chủ động phối hợp dọc
(giữa các cấp) và phối hợp ngang (giữa các ngành) một cách hiệu quả hơn trong
nội bộ các cơ quan hành chính nhà nước.
Ngày 22/6/2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
93/2007/QĐ-TTg, ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa
liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (gọi tắt là Quyết định
93 thay cho Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 của Thủ tướng
Chính phủ). Trên cơ sở đó, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 3360/KH-UBND
ngày 11/9/2007 về việc thực hiện Quyết định 93 của Thủ tướng Chính phủ; phê
duyệt đề án cải cách hành chính theo cơ chế một cửa trong việc cung cấp dịch
vụ công tại 11 Sở và Ban quản lý các khu công nghiệp thuộc tỉnh.
Đến nay, có 20/27 cơ quan cấp tỉnh (8 đơn vị ngành dọc) được cơ quan
có thẩm quyền phê duyệt Đề án cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “một
cửa”, trong đó có 15 Sở, 01 Ban và 4 đơn vị ngành dọc đóng trên địa bàn tỉnh;
gồm: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở
10
Lao động - Thương binh và xã hội, Sở Giao thông vận tải, Sở Nông nghiệp và

hồ sơ, Phiếu trả kết quả, Sổ theo dõi giải quyết hồ sơ của công dân, tổ chức tại
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, bảng niêm yết thủ tục hành chính cấp huyện
và cấp xã, mẫu báo cáo nhanh hàng tháng, mẫu tổng hợp của UBND cấp
huyện; các cơ quan, đơn vị đã triển khai thực hiện tốt các quy định thống nhất
trên theo hướng dẫn của Sở Nội vụ.
Hầu hết các đơn vị, địa phương đã xác lập mối quan hệ phối hợp khoa
học, hợp lý trong giải quyết công việc giữa các phòng ban chuyên môn, thường
xuyên soát xét lại hệ thống trang thiết bị và cơ sở vật chất, đánh giá năng lực
giao tiếp của cán bộ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đảm bảo quy tắc ứng
xử văn hóa nơi công sở theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg, tổ chức làm
việc vào ngày thứ bảy hàng tuần để tiếp nhận, giải quyết hồ sơ, thủ tục hành
chính và rà soát, điều chỉnh các Quy chế để đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ
trong việc thực hiện công tác cải cách hành chính, hạn chế tối đa tình trạng tiêu
cực, nhũng nhiễu gây mất thời gian của tổ chức, công dân đến liên hệ giải quyết
công việc, tăng cường chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công, góp phần
11
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Một số đơn vị đã ứng dụng phần
mềm trong việc tiếp nhận hồ sơ, thủ tục hành chính và mẫu hóa các loại phiếu
theo đặc thù riêng của đơn vị nhưng vẫn đảm bảo các nội dung theo hướng dẫn
để theo dõi, kiểm tra và tổng hợp như UBND thành phố Buôn Ma Thuột, Sở
Giáo dục và Đào tạo. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường,
Sở Xây dựng, Sở Tư pháp niêm yết công khai quy trình Hệ thống quản lý chất
lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 lĩnh vực đăng ký kinh doanh, thẩm định
dự án và cấp giấy chứng nhận đầu tư, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy phép hoạt động khoáng sản, cấp phép hoạt
động tài nguyên nước, cấp phép hoạt động đo đạc bản đồ, cấp phép xây dựng,
thẩm định văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Các cơ quan, đơn vị đã áp dụng hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng trong
giải quyết dịch vụ hành chính công, tăng cường công tác phối hợp nội bộ giữa
bộ phận một cửa và các phòng chuyên môn, từng bước nâng cao chất lượng xử

12
- Tổng số hồ sơ tồn đến ngày 08/5/2010: 31 hồ sơ
Đây là mô hình cải cách thủ tục hành chính liên thông theo hướng đơn
giản, công khai, minh bạch, giảm thiểu các giấy phép “con” và thời gian đi lại
của tổ chức, cá nhân tạo điều kiện thuận lợi cho công dân và doanh nghiệp khi
có nhu cầu đăng ký kinh doanh (ĐKKD); thời gian giải quyết hồ sơ ĐKKD
giảm từ 7 ngày xuống còn 5 ngày, doanh nghiệp không phải làm thủ tục đăng
ký thuế tại cơ quan thuế, không phải trực tiếp làm thủ tục đăng ký dấu tại cơ
quan Công an (chỉ đến nhận dấu và Giấy chứng nhận mẫu dấu tại cơ quan
Công an theo thời gian hẹn của cơ sở khắc dấu), thời gian khắc dấu, đăng ký
dấu rút ngắn còn tối đa 04 ngày; một số vướng mắc, sai sót trong quá trình thực
hiện liên thông được các cơ quan có liên quan phối hợp giải quyết kịp thời,
nhanh chóng. Đồng thời, các doanh nghiệp có thể gửi hồ sơ đăng ký tới phòng
Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư qua mạng điện tử (Website:
http://www.daklakdpi.gov.vn), phòng Đăng ký kinh doanh sẽ thông báo và
hướng dẫn sửa đổi, bổ sung (nếu có) cho người thành lập doanh nghiệp qua
mạng điện tử.
Tuy nhiên, còn một số tồn tại: do thời gian rút ngắn chỉ còn 05 ngày, cán
bộ trực tiếp xử lý hồ sơ phải làm việc ngoài giờ để đảm bảo thời gian theo quy
định; việc giao, nhận hồ sơ giữa Tổ 1 cửa của Sở KH&ĐT và Cục Thuế tỉnh
phải thực hiện thường xuyên hàng ngày (vào lúc 16h 30) nên thời gian người
trực tiếp giao, nhận hồ sơ và chi phí (xăng xe) tăng thêm; Cục Thuế tỉnh cấp sai
mã số cho 1 số DN, dẫn đến phòng ĐKKD phải xử lý lại, doanh nghiệp phải
tốn kém thời gian, tiền bạc trong việc làm lại con dấu; trường hợp người kinh
doanh đã có mã số thuế trước khi thành lập DN, Sở KH&ĐT nhận hồ sơ
ĐKKD và chuyển đến Cục Thuế để cấp mã số doanh nghiệp, thời gian cấp mã
số DN phải phụ thuộc vào việc Chi Cục thuế quản lý thuế trực tiếp xử lý đóng
mã số thuế cũ.
Cục thuế tỉnh đã phối hợp với Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện liên thông về việc xác định nghĩa

Chi tiết Nhận xét tổng thể về chất lượng của dịch vụ một cửa cấp huyện
Thực hiện cơ chế một cửa tại các cơ quan, đơn vị trong tỉnh đã đạt được
những kết quả, giúp cho công dân, tổ chức hiểu rõ được các trình tự, thủ tục
hành chính khi có nhu cầu giao dịch hành chính công với các cơ quan Nhà
nước. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế tồn tại cần quan tâm tháo gỡ trong
thời gian tới:
2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính:
Kết quả chủ yếu đã đạt được:
- Năm 2001, thực hiện Quyết định số 207/1999/QĐ-TTg ngày
25/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch thực hiện
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII),
UBND tỉnh đã thực hiện việc kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên
môn cấp tỉnh và cấp huyện. Trên cơ sở sắp xếp tổ chức bộ máy gọn nhẹ theo
14

Trích đoạn Một số hình thức, biện pháp chung tuyên truyền về chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status