Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN - Pdf 81


Chương 1: 
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG BÁN LẺ 
1.1. Tổng quan về tín dụng ngân hàng 
1.1.1. Khái niệm 
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị được 
biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật, từ người sở hữu sang người sử dụng 
trong một khoảng thời gian nhất định và khi đến thời hạn của khoảng thời gian trên, 
người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn. Phần 
tăng thêm về giá trị được gọi là phần lời hay phần lợi tức. Đây chính là cái giá mà 
người sử dụng phải trả cho người sở hữu để được quyền sử dụng một lượng tiền tệ 
hay hiện vật nhất định. 
Thuật  ngữ  “tín dụng”  xuất  phát  từ  gốc  La  tinh,  có nghĩa  là  lòng  tin,  sự  tín 
nhiệm; tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan tồn tại qua nhiều hình thái kinh 
tế xã hội khác nhau. Quan hệ tín dụng thời sơ khai chủ  yếu bằng hiện vật và dưới 
hình thức cho vay nặng lãi trên cơ sở của nền sản xuất hàng hóa nhỏ, kém phát triển 
ở các thời kỳ Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến và phát triển mạnh mẽ vào thời kỳ đại 
công  nghiệp  của  phương  thức  sản  xuất  Tư  bản  chủ  nghĩa.  Và  quan  hệ  tín  dụng 
không chỉ bằng hiện vật mà còn phát triển bằng hiện kim, với các hình thức tín dụng 
tiến bộ hơn: tín dụng ngân hàng, tín dụng chính phủ… 
Tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín 
dụng với các công ty, doanh nghiệp và cá nhân,… được thực  hiện dưới hình thức 
ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với các đối 
tượng nói trên. 
Như vậy trong mối quan hệ trên, ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người 
cho vay. Với tư cách là người đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi hoặc phát hành các 
chứng chỉ tiền gửi để tập trung các nguồn  vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội làm 
nguồn vốn hoạt động của mình. Ngược lại, với tư cách là người cho vay, ngân hàng

cung cấp vốn tín dụng cho các thành phần kinh tế dưới nhiều hình thức khác nhau 
như cho vay, chiết khấu chứng từ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính,… Thông qua 

cầu về vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu được đặt ra. Bởi lẽ để đẩy 
nhanh tiến  độ  phát triển sản xuất không chỉ chờ  vốn tự có mà doanh nghiệp phải 
biết tận dụng những dòng chảy khác của vốn xã hội. Từ đó, tín dụng với tư cách là 
nơi tập trung đại bộ phận vốn nhàn rỗi sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung 
cho đầu tư phát triển. Qua đó cho thấy vốn tín dụng luôn chiếm vị trí đáng kể trong 
kết  cấu vốn  lưu  động và  vốn  cố định của  doanh nghiệp.  Nói  cách khác, tín dụng 
luôn luôn là người trợ thủ đắc lực cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, là người bạn 
đường trong tiến trình phát triển kinh tế. 
1.1.3.2. Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả 
Trong khi thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại tiền tệ, tín dụng đã 
góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế, đặc biệt là tiền mặt 
trong tay các tầng lớp dân cư, làm giảm áp lực lạm phát, nhờ vậy góp phần ổn định 
tiền tệ. Mặt khác, do cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các 
doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh, làm cho sản xuất ngày càng 
phát triển, sản phẩm hàng hóa dịch vụ làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng được nhu 
cầu ngày càng gia tăng của xã hội, chính nhờ đó mà tín dụng góp phần làm ổn định 
thị trường giá cả trong nước. 
1.1.3.3. Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã 
hội 
Một mặt,  do  tín dụng  có  tác dụng  thúc đẩy  nền  kinh  tế phát  triển,  sản  xuất 
hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn nhu cầu đời sống của người 
lao động. Mặt khác, do vốn tín dụng cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai 
thác các tiềm năng sẵn có trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên, về lao động,…, do 
đó có thể thu hút nhiều lực lượng lao động của xã hội để tạo ra lực lượng sản xuất 
mới nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Một xã hội phát triển lành mạnh, đời sống được ổn định, ai cũng có việc làm, 
đó là tiền đề quan trọng để ổn định trật tự xã hội. 
1.1.3.4. Tạo điều kiện để phát triển mối quan hệ kinh tế với nước ngoài 
Tín dụng còn có vai trò quan trọng để mở rộng và phát triển các mối quan hệ 

như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. 
1.1.4.4.  Căn  cứ  vào  phương thức  cho vay: Theo  tiêu  thức  này,  tín dụng  có thể 
phân chia thành các loại sau: 
­ Cho vay theo món vay; 
­ Cho vay theo hạn mức tín dụng; 
­ Cho vay theo hạn mức thấu chi. 
1.1.4.5. Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay: Theo tiêu thức này, tín dụng 
có thể phân chia thành các loại sau: 
­ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi 
đáo hạn; 
­ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp; 
­ Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tuỳ vào khả 
năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào. 
1.2. Tín dụng bán lẻ 
1.2.1. Khái niệm 
Hiện  nay,  ở  nước  ta  vẫn  chưa  có  khái  niệm  thống  nhất  về  tín dụng  bán  lẻ. 
Trong Luật các tổ chức tín dụng, các loại hình cấp tín dụng được quy định chung, 
chưa có định nghĩa và giải thích rõ ràng. Tại khoản 2 Điều 50 Luật các tổ chức tín 
dụng có ghi “Tổ chức tín dụng cho các tổ chức, cá nhân vay ngắn hạn, trung dài hạn 
nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống” được bao 
hàm cả hai nội dung: tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ. 
Xuất phát từ cách hiểu truyền thống trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, bán 
buôn là hình thức mua bán hàng hoá thông qua các trung gian, đại lý, để bán với 
khối lượng lớn; ngược lại, bán lẻ là hình thức bán hàng mà người bán trực tiếp bán 
cho người mua  là người  sử dụng, tiêu dùng với khối lượng  nhỏ,  lẻ.  Khi  áp  dụng

trong hoạt động tín dụng, hiện nay trên thế giới có hai cách hiểu khác nhau về bán 
buôn, bán lẻ tín dụng. 
Thứ nhất, tín dụng bán buôn được hiểu là tất cả các khoản cho vay thông qua 
thị trường  tài  chính  (thị  trường  tiền  tệ  liên  ngân hàng) hoặc cho  vay  đối  với  các 

xử lý cơ sở dữ liệu tập trung… 
Theo Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV, cấp tín dụng bán lẻ 
là việc cấp tín dụng cho khách hàng bán lẻ bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, 
bảo lãnh và các nghiệp vụ khác. Trong đó, khách hàng bán lẻ là cá nhân (cá nhân 
Việt Nam và cá nhân nước ngoài), hộ gia đình có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch 
vụ của BIDV. 
Tóm lại, kết hợp các quan điểm trên, và theo quan điểm học viên có thể rút ra 
khái niệm về tín dụng bán lẻ như sau: tín dụng bán lẻ là hình thức cung cấp trực tiếp 
các sản phẩm tín dụng, bảo lãnh có quy mô nhỏ cho các khách hàng là cá nhân, hộ 
gia đình và các doanh nghiệp nhỏ  và vừa. Đây là khái niệm được đa số  các ngân 
hàng thương mại cổ phần sử dụng hiện nay. 
1.2.2. Đặc điểm 
­  Đối  tượng  được  cung  cấp sản phẩm tín  dụng  bán  lẻ  rất  rộng  và  số  lượng 
khách hàng vô cùng lớn, bao gồm các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ 
và vừa trong nền kinh tế, nhưng giá trị của các khoản vay thông thường nhỏ. 
­  Chất  lượng các  thông  tin tài  chính của  các  khách hàng  vay thông  thường 
không cao, đối với các khách hàng cá nhân và hộ gia đình khó xác định, đối với các 
doanh nghiệp nhỏ và vừa các báo cáo tài chính thường không được kiểm toán. 
­ Tỷ trọng cho vay trung dài hạn đối với tín dụng bán lẻ có xu hướng cao hơn 
mức bình quân chung, do các nhu cầu vay trung dài hạn mua nhà ở, đất ở, mua sắm 
tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn; bên cạnh đó, khách hàng vay thường không chủ 
động kế hoạch hoá về dòng tiền, các nhu cầu vay  tiêu dùng thông thường có  thời 
hạn trên 12 tháng. 
­ Nhu cầu được cấp tín dụng bán lẻ của khách hàng chịu tác động mạnh và phụ 
thuộc lớn vào chu kỳ kinh tế; tăng mạnh trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng tốt,

thu nhập cao, chi tiêu tăng, đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhỏ lẻ sinh lời 
cao; ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng, rất nhiều cá nhân, hộ gia 
đình, hạn chế chi tiêu, vay mượn, tiêu dùng, các doanh nghiệp nhỏ  và vừa nhanh 
chóng thu hẹp sản xuất. 

trưởng tín dụng và đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho các ngân hàng. Tín dụng 
bán lẻ là một trong hai bộ phận trong nghiệp vụ cho vay của ngân hàng thương mại 
bên  cạnh  cho  vay  bán  buôn, tốc  độ  cho vay  bán  lẻ  tăng nhanh  sẽ  góp  phần  đẩy 
nhanh dư nợ, đồng thời cho vay bán lẻ thường có lãi suất cao hơn, đồng nghĩa với 
tăng nguồn thu nhập cho ngân hàng. 
­ Phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói chung và tín dụng bán 
lẻ nói riêng yêu cầu các ngân hàng đầu tư mạnh vào hạ tầng công nghệ thông tin, 
cải tiến  chất lượng sản phẩm, xây dựng mạng lưới kênh phân phối đa dạng, rộng 
khắp làm nền tảng để phát triển sác sản phẩm, dịch  vụ ngân hàng bán lẻ, phục vụ 
một lượng khách hàng bán lẻ đông đảo. 
1.2.3.3. Đối với khách hàng 
­ Phát huy tối đa nội lực khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ 
và  vừa,  khai  thác  hết  tiềm  năng  về  lao  động,  đất  đai,  hàng  hóa,  máy  móc,  nhà 
xưởng… một cách hợp lý và có hiệu quả nhất. 
­ Góp phần nâng cao đời sống vật  chất và  tinh thần của người dân, tạo điều 
kiện nâng cao dân trí, hình thành những thói quen sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân 
hàng hiện đại, phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 
1.2.4. Phân loại 
Bên cạnh các hình thức phân loại chung, tín dụng bán lẻ có một số hình thức 
phân loại đặc thù: 
1.2.4.1. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay 
­ Tín dụng cho sản xuất, lưu thông hàng hóa; 
­ Tín dụng tiêu dùng.
10 
1.2.4.2. Căn cứ vào đối tượng cấp tín dụng 
­ Cho vay cá nhân; 
­ Cho vay hộ gia đình; 
­ Cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa. 
1.2.5. Các sản phẩm tín dụng bán lẻ chủ yếu hiện nay 
Trên cơ sở các hình thức cấp tín dụng cơ bản, cùng với sự phát triển của nền 

kinh nghiệm cho Việt Nam 
1.3.1. Một số kinh nghiệm về hoạt động tín dụng bán lẻ trên thế giới 
Tín dụng bán lẻ là một sản phẩm nằm trong gói sản phẩm dịch vụ bán lẻ của 
các ngân hàng, để phát triển tín dụng bán lẻ, cần phải có sự phát triển về tất cả các 
sản phẩm  dịch  vụ ngân hàng bán  lẻ. Những nghiên cứu  gần đây đã cho thấy rằng 
các dịch vụ tài chính của 118 ngân hàng bán lẻ hàng đầu ở Mỹ, Châu Âu, Châu Á 
rất lạc quan về triển vọng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ trên thế giới, dưới tác 
động của quá trình toàn cầu hoá, đặc biệt ở các thị trường mới nổi, nơi có sự tăng 
trưởng kinh tế cao và sự cải thiện không ngừng môi trường kinh tế vĩ mô. Việc mở 
rộng và phát triển các sản phẩm dịch vụ bán lẻ nói chung phụ thuộc vào các yếu tố 
chính là: thị trường, sản phẩm, các kênh phân phối, mức độ thoả mãn, tiện ích đối 
với khách hàng. Bên cạnh đó, việc phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng các sản phẩm 
dịch vụ ngân hàng bán lẻ cũng có những rủi ro đặc thù, đặc biệt là trong tín dụng 
bán lẻ. Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu kinh nghiệm về hoạt động tín dụng bán lẻ ở 
một số nước trên thế giới: 
1.3.1.1. Citibank với kinh nghiệm hoạt động tại Australia 
Citibank N.A. là công ty trực thuộc Citicorp được thành lập vào năm 1812 tại 
United States, với 3.400 chi nhánh, có trụ sở trên 100 nước, và hơn 160.000  nhân 
viên  trên  toàn  thế  giới.  Năm  1977,  Citibank  bắt đầu hoạt  động  tại  Australia,  trở 
thành một trong những ngân hàng quốc tế dẫn đầu tại Australia với hơn 10 tỉ tổng 
sở hữu và 1.500 nhân viên. Citibank thành công do khả năng tận dụng mạng lưới 
rộng khắp toàn cầu và những kinh nghiệm chuyên môn quốc tế.
12 
Các sản phẩm được thiết kế trên nguyên tắc hướng đến khách hàng, sáng tạo, 
và khác biệt so các sản phẩm cùng loại. Một ví dụ điển hình là Citibank’s Mortgage 
Power,  hình  thức  vay  tín  dụng  tuần  hoàn  đầu  tiên  của  Australia  giúp  cho  khách 
hàng có thể tăng lợi nhuận; hay Business Power cung cấp khả năng linh hoạt cho 
phép kết nối tài chính cá nhân và tài chính kinh doanh cho những nhà quản lý kinh 
doanh nhỏ và tư nhân. Citibank’s Global Consumer Bank cung cấp cho khách hàng 
một hệ thống các dịch vụ ngân hàng cá nhân hoàn thiện, gồm có thế chấp tài chính 

đến 73.000 tài khoản. 
Bên cạnh đó, BNP Paribas là ngân hàng Pháp đầu tiên thực hiện một hệ thống 
internet  toàn  quốc,  tháng  12/2000,  công  ty  nghiên  cứu  Forrester  xếp  hạng  BNP 
Paribas là ngân hàng trực tuyến tốt thứ tư ở Châu Âu. 
Để có thể tối đa hóa hiệu quả dịch vụ ngân hàng bán lẻ và đáp ứng nhu cầu 
khách hàng tốt hơn, PNB Paribas đã tái cơ cấu tổ chức gồm có ba nhóm cốt lõi. 
­ Nhóm 1: Phân phối và phát triển sản phẩm (chú trọng liên kết giữa bán hàng 
và tiếp thị). Nhóm này tập  trung  vào doanh số và chiến lược phát triển  sản phẩm 
trên cơ sở mối quan hệ khách hàng bao gồm nghiên cứu hành vi và mong đợi của 
khách  hàng, theo dõi  thị trường  cũng như đối  thủ  cạnh  tranh  và  tạo ra  sản phẩm 
mới. Doanh số bán sẽ giúp nhóm xác định làm thế nào những sản phẩm và dịch vụ 
được bán,  từ đó nhóm  có thể đề  ra những  mục tiêu  và  biện pháp  thực hiện.  Một 
trong  những  ưu tiên  hàng đầu  của nhóm là  thường  xuyên điều  chỉnh  các  loại  sản 
phẩm và dịch vụ cho nhiều kênh phân phối khác nhau của ngân hàng, mở rộng cung 
cấp các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Pháp và thúc đẩy cơ hội bán chéo sản phẩm 
cho các tập đoàn và bộ phận đầu tư khác của ngân hàng. 
­ Nhóm 2: Thực hiện nghiệp vụ và chăm sóc khách hàng (đặc biệt lưu ý dịch 
vụ hậu mãi). Nhóm này có hai nhiệm vụ chính là tổ chức và thực hiện các công việc 
hàng ngày. Mục tiêu của nhóm là xử lý các giao dịch một cách chuyên môn hóa để
14 
đạt  chất lượng  tốt  nhất.  Nền  tảng đặc  biệt này được  thiết  kế  cho từng  sản phẩm 
riêng biệt chứ không phụ thuôc vào vùng địa lý. 
­ Nhóm 3: Phân tích và nghiên cứu chiến lược phát triển. BNP Paribas muốn 
các khách hàng của họ tiếp cận ngân hàng không chỉ qua các chi nhánh mà còn với 
các điểm giao dịch khác, cũng như việc cung cấp sản phẩm của họ không chỉ bó hẹp 
trong phạm vi quốc gia. Công việc chính của nhóm 3 là đưa ra cách thức thực hiện 
các dự án theo đúng chiến lược của ngân hàng. Trong quá trình thực hiện, nhóm có 
hai cách: Trước mắt, họ sẽ cung cấp dịch vụ qua mạng lưới các chi nhánh, sau đó 
họ mới thiết kế và triển khai hệ thống các kênh phân phối khác. Ngược lại, họ sẽ tái 
cơ cấu toàn bộ các kênh phân phối sản phẩm. 

động sản và bán lại cho các nhà đầu tư khác. 
Chính vì vậy khi thị trường cho vay thế chấp nhà ở của Mỹ gặp khủng hoảng 
đã tạo ra hiệu ứng dây chuyền ảnh hưởng đến thị trường tài chính tiền tệ, thị trường 
chứng khoán của Mỹ và lan rộng ra toàn cầu. Ban đầu, bong bóng bất động sản nổ 
bục ra từ cuối năm 2006, đã dẫn đến một làn sóng mất khả năng chi trả và giải chấp 
các tài sản thế chấp; đến lượt nó lại dẫn đến sự sụt giảm giá cả của các loại chứng 
khoán có bất động sản; tổn thất tài chính này đã làm cho nhiều tổ chức tài chính lâm 
vào tình trạng có quá ít tiền vốn; các tổ chức tài chính có quá ít vốn so với các nghĩa 
vụ nợ của họ nên họ đã bán đi các tài sản có, làm cho giá cả của các loại tài sản này 
giảm sút thêm và làm cho trạng thái tài chính của các tài chính xấu thêm và phá sản 
hàng loạt. 
1.3.1.4. Khủng hoảng thẻ tín dụng ở Mỹ 
Hiện nay, 73% tổng sản phẩm quốc nội Mỹ là đến từ tiêu dùng người dân, chỉ 
số tiết kiệm thực của họ đã xuống dưới mức 1%. Đây là hiện tượng chưa từng thấy 
kể từ cuộc đại khủng hoảng những năm 1930. 
Sau nhiều năm phát hành thẻ tín dụng với hạn mức  tín dụng  cao,  điều kiện 
thông thoáng tràn  ngập  thị trường Mỹ,  nhiều tổ chức  tín dụng  đã cắt giảm mạnh 
hoạt động  này,  trong  điều  kiện  nền  kinh  tế  suy  thoái, thất nghiệp  tăng  cao, ngày 
càng có nhiều người không trả được nợ, nợ xấu tăng cao, các ngân hàng phải đương
16 
đầu với làn sóng thua lỗ sau thời kỳ hoàng kim hưởng lợi từ việc cấp tín dụng dễ 
dàng. 
Đầu năm 2008, tổng số nợ trên thẻ tín dụng ở Mỹ đã lên đến 875 tỉ USD. Các 
khoản  nợ  xấu  của  thẻ  tín  dụng  đã  lên  tới  21  tỷ  USD  trong  nửa  đầu  năm  2008. 
Nguyên nhân do ngày càng nhiều người mất khả năng trả nợ, các công ty đang sa 
thải hàng chục nghìn công nhân. Dự báo, thua lỗ liên quan đến thẻ tín dụng sẽ tăng 
thêm khoảng 55 tỷ USD trong 1 năm rưỡi tới. Hiện nay, tổng thua lỗ đứng ở mức 
5,5% tổng số nợ chưa trả của thẻ tín dụng, và số thua lỗ này có thể lên tới 7,9%, 
mức đỉnh cao sau cuộc khủng hoảng dot­com những năm 2000. 
Những  tổ  chức  cho  vay  lớn  như  American  Express,  Bank  of  America, 

thương mại Việt Nam, đó là: 
1.3.2.1. Bài học về phát triển ngân hàng bán lẻ 
Để phát triển mạnh các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói chung và tín 
dụng bán lẻ nói riêng, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần xác định chiến lược 
và lộ trình cụ thể cho ngân hàng mình, trong đó cần lưu ý một số mặt cụ thể như 
sau: 
­ Mở rộng và đa dạng hoá kênh phân phối nhằm tăng tiện ích, tăng khả năng 
tiếp cận khách hàng và ngược lại, bao gồm mở  rộng mạng lưới các chi nhánh, và 
đặc biệt là các kênh phân phối điện tử, công nghệ cao, qua internet, qua điện thoại, 
hệ thống các máy  ATM,  điểm  chấp nhận  thẻ rộng  khắp. Mở rộng mạng lưới cần 
thiết dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, khả năng tiếp cận công nghệ thông tin 
của khách hàng; đi đôi với chiến lược phát triển khách hàng, phân khúc khách hàng 
tiềm năng, khả năng khai thác hiệu quả thị trường. Việc phát triển mạng lưới cũng 
song  song với  quá trình  rà  soát mạng lưới,  rà soát  và đóng cửa những điểm giao 
dịch hoạt động không hiệu quả để bố trí lại. 
­ Đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ: Đa dạng hoá sản phẩm là điểm mạnh và 
mũi nhọn để phát triển dịch vụ ngân hàng cá nhân. Hình thành bộ phận nghiên cứu 
chuyên trách phát triển sản phẩm. Trong đó tập trung vào những sản phẩm có hàm 
lượng công nghệ cao, có đặc điểm nổi trội, tiện ích khác biệt so các sản phẩm trên
18 
thị trường nhằm tăng tính cạnh tranh. Đặc biệt thiết kế sản phẩm phải dựa trên quan 
điểm hướng đến  khách hàng, dựa trên các  yêu cầu  khách hàng và thị trường, các 
quy trình thủ tục đơn giản, tiện ích, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận. 
­ Tăng cường công tác quảng bá thương hiệu, tăng cường hoạt động tiếp thị, 
chăm sóc khách hàng và  hậu mãi nhằm tăng cường chuyển tải thông tin tới công 
chúng nhằm giúp khách hàng có thông tin cập nhật về năng lực và uy tín của ngân 
hàng, hiểu biết cơ bản về sản phẩm dịch vụ, nắm được cách thức sử dụng và lợi ích 
của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, tạo mối gắn kết đa chiều giữa ngân hàng và 
khách hàng. 
­ Thực hiện chuyên môn hoá và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hoạt động 

Sau khi đưa ra được khái niệm tín dụng bán lẻ phổ biến, tác giả đồng thời trình 
bày đặc điểm, vai trò của tín dụng bán lẻ theo logic chung và từ quan sát thực tiễn, 
đồng thời trình bày một  số sản phẩm tín dụng bán lẻ phổ biến trong thực tế hiện 
nay. 
Trong chương 1, ngoài việc trình bày những lý luận chung về tín dụng và tín 
dụng bán lẻ, tác giả còn tìm hiểu thực tế hoạt động ngân hàng bán lẻ nói chung và 
tín  dụng  bán  lẻ  nói  riêng  của  một  số  ngân  hàng  của  một  số  nước  trên  thế  giới, 
nghiên cứu cuộc khủng hoảng tín dụng bất động sản và thẻ tín dụng ở Mỹ nhằm rút 
ra các bài học kinh nghiệm cho quá trình phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ và một 
số bài học về rủi ro nhìn trên giác độ tín dụng bán lẻ áp dụng cho thực tế hoạt động 
tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Chương 1 của luận văn có thể xem là một 
tiền đề quan trọng để có thể đi sâu phân tích thực trạng tín dụng bán lẻ và đưa ra 
một số giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ tại BIDV.
20 
Chương 2: 
THỰC TRẠNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI BIDV 
2.1. Giới thiệu chung về sự hình thành và phát triển của BIDV 
2.1.1. Giới thiệu chung 
BIDV  thành  lập  ngày  26/04/1957  theo  Quyết  định  177/TTg  của  Thủ  tướng 
Chính phủ; là một trong  những Ngân hàng Thương mại Nhà nước lớn và lâu đời 
nhất Việt Nam, là Doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, tổ chức và hoạt động theo 
mô hình Tổng công ty Nhà nước. 
BIDV kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực về tài chính, tiền tệ, tín dụng, dịch vụ 
ngân hàng và phi ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật, không ngừng nâng 
cao lợi nhuận của ngân hàng, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục 
vụ phát triển kinh tế đất nước. 
BIDV là một trong những ngân hàng có mạng lưới phân phối lớn nhất trong hệ 
thống các ngân hàng tại Việt Nam với trên 12.000 cán bộ nhân viên, chia thành hai 
khối: 
Khối  kinh  doanh  bao  gồm:  Hệ  thống  ngân  hàng  thương  mại  trên  108  chi 

thành Ngân hàng  Đầu tư  và Phát triển  Việt  Nam  theo  Quyết định số 401­CT  của 
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. 
Đây là thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, chuyển đổi 
từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Do 
vậy, nhiệm vụ của BIDV được thay đổi cơ bản: tiếp tục nhận vốn ngân sách để cho 
vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước; huy động các nguồn vốn trung dài 
hạn để cho vay đầu tư phát triển; kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng 
chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển. 
Từ  1/1/1995, đây là  mốc  đánh dấu  sự chuyển  đổi cơ bản, BIDV được phép 
kinh doanh đa năng tổng hợp với chức năng đầy đủ của một ngân hàng thương mại, 
phục vụ chủ yếu cho đầu tư phát triển của đất nước.
22 
Ghi nhận những đóng góp của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam qua 
các  thời  kỳ,  Đảng  và  Nhà  nước  Cộng  hoà  Xã  hội  Chủ  nghĩa  Việt  Nam  đã  tặng 
BIDV nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng Nhất, 
hạng Ba; Huân  chương Lao động hạng  Nhất, hạng Nhì, hạng  Ba; Danh hiệu Anh 
hùng Lao động thời kỳ đổi mới, Huân chương Hồ Chí Minh,… 
Các chỉ tiêu tài chính của BIDV giai đoạn 5 năm gần đây, cho thấy hoạt động 
của BIDV hiệu quả, an toàn, bền vững, tăng trưởng đều trên các mặt hoạt động: 
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu tài chính của BIDV giai đoạn 2004 – 6/2009 
ĐVT: tỷ đồng. 
Chỉ tiêu  2004  2005  2006  2007  2008  6/2009 
Tổng tài sản  99.660  117.976  158.165  201.382  242.316  263.976 
Vốn chủ sở hữu  3.062  3.150  4.428  8.405  9.969  ­ 
Cho vay và ứng trước 
khách hàng (ròng) 
67.244  79.383  93.453  126.616  154.176  186.347 
Tiền gửi và các 
khoản phải trả 
67.262  85.747  106.496  138.233  166.291  215.631 


200,000 
400,000 
600,000 
800,000 
1,000,000 
1,200,000 
1,400,000 
2004  2005  2006  2007  2008  T6/2009 
Dư nợ
24 
2.2.2. Hoạt động tín dụng BIDV giai đoạn 5 năm 2004 – 2008 
2.2.2.1. Đánh giá chung 
Với mục tiêu phát triển an toàn ­ chất lượng ­ hiệu quả ­ bền vững, hướng dần 
theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế, hoạt động tín dụng của BIDV giai đoạn 5 năm 
2004 ­ 2008 tập trung vào việc tái cơ cấu và kiểm soát chất lượng tín dụng. 
Về khách hàng, tập  trung mở rộng quan hệ toàn diện với các tập đoàn, tổng 
công ty lớn là các khách hàng truyền thống có tiềm lực tài chính thực sự mạnh, hoạt 
động  trong  các  lĩnh  vực  kinh  tế  đóng  vai  trò  mũi  nhọn,  có  hiệu  quả  như:  năng 
lượng, sản xuất vật liệu, công nghiệp tàu thuỷ,… Bên cạnh đó, trong giai đoạn này 
BIDV ưu tiên phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc  khu vực kinh tế 
ngoài quốc doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thuỷ sản, gỗ, các 
mặt hàng xuất khẩu khác,… 
Các cơ cấu chuyển dịch theo hướng giảm dần dư nợ cho vay trung dài hạn, 
tăng tỷ trọng cho vay có tài sản đảm bảo và tăng tỷ trọng cho vay khu vực kinh tế 
ngoài quốc doanh. 
BIDV  luôn  kiểm  soát  chặt  chẽ  và  tuân  thủ các  giới  hạn an  toàn  trong  hoạt 
động  tín  dụng  theo  quy  định  của  Luật  các  Tổ  chức  Tín  dụng,  quyết  định 
457/2005/QĐ­NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, kiểm soát tốt tỷ lệ cho 
vay đầu tư chứng khoán theo quyết định 03/2007/QĐ­NHNN của Thống đốc Ngân 

100,000 
120,000 
140,000 
160,000 
180,000 
200,000 
2004  2005  2006  2007  2008  T6/2009 
Dư nợ BIDV 

Trong giai đoạn 5 năm 2004 – 2008, quy mô cấp tín dụng của BIDV cho nền 
kinh tế không ngừng gia tăng từ 67.831 tỷ đồng năm 2004 lên đến 149.418 tỷ đồng 
vào năm 2008 và 186.347 tỷ đồng vào tháng 6/2009, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status