Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mở đầu
Trong vòng 10 năm (1988-1998) thực hiện đờng lối của Đảng, kiên trì phơng
châm chiến lợc: coi trọng hợp tác quốc tế theo xu thế hội nhập, khu vực hoá và toàn
cầu hoá nền kinh tế, tranh thủ mọi khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả hơn nữa
các nguồn lực từ bên ngoài, bao gồm cả vốn, công nghệ, thị trờng và trình độ quản lý.
Việt nam đã thu hút đợc hơn 2400 dự án đầu t nớc ngoài với tổng số vốn gần 36 tỷ
USD, trong đó có khoảng 13 tỷ USD đã đợc thực hiện (chiếm gần 90% tổng vốn đăng
kỳ)
Cùng với các nguồn tài trợ khác, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thực (ODA)
và đầu t trực tiếp của nớc ngoài (FDI) thật sự đang là môtj nguồn lực tài chính quan
trọng thúc đẩy sự phát triển đất nớc, góp phần cho mức tăng trởng GDP trong những
năm qua đạt trên 8% giải quyết việc làm cho hơn 27 vạn lao động trực tiếp và hàng
chục vạn lao động gián tiếp.
Tuy nhiên, Đảng và Nhà nớc Việt Nam vẫn khẳng định nguồn lực trong nớc mới
là nhân tố quyết định cho quá trình tăng trởng và phát triển bền vững. Nguồn lực nội
sinh là một khái niệm rất rộng, là tổng hợp toàn bộ các nguồn lực trong nớc, không chỉ
có ở vốn tài sản cơ sở vật chất - kỹ thuật đã tích luỹ đợc mà còn là tài nguyên cha đa
vào sử dụng, lợi thế về địa lý kinh tế, chính trị, trong đó quan trọng nhất là nguồn lực
con ngời bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thầy gắn với truyền thống văn hoá
của dân tộc.
Thời gian qua, bằng một loạt các giải pháp đồng bộ đổi mới, điều chỉnh và hoàn
thiện chính sách, cơ chế môi trờng sản xuất kinh doanh, nguồn lực của đất nớc đã có
sự khởi động và bớc đầu phát huy tác dụng. Thế nhng hiệu quả đạt đợc còn cha lớn,
nhiều tiềm năng còn bị lãng phí. Việc huy động nguồn lực tài chính nhàn rỗi trong dân
c cho đầu t tăng trởng còn cha nh mong muốn. Ước tính còn có 5-6 tỷ USD vốn nhà
rỗi trong dân c nhng việc huy động vẫn gặp khó khăn, vì nhân dân còn e ngại, các cơ
chế, chính sách còn có trói buộc và nhất là cha xây dựng đợc mô hình huy động vốn
hợp lý.
Một trong các nguồn lực nội sinh nữa còn để lãng phí là nguồn lực lao động,
nguồn lực trí tuệ, đặc biệt là của đội ngũ trí thức, dẫn đến tình trạng "chảy máu chất
này sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Nhng với trách nhiệm là một nhà
kinh tế tơng lai trớc vận hội mới của đất nớc, tôi mong muốn đợc tiếp tục nghiên cứu
để có thêm những tri thức đúng đắn và hoàn thiện hơn nữa, góp phần nhỏ bé của mình
trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nớc. Rất mong đợc bạn đọc gần xa góp ý kiến để đề
án của tôi đợc hoàn thiện hơn.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần I: Những vấn đề chung
I/ Lịch sử hình thành thị trờng chứng khoán và chứng khoán
1. Thị trờng chứng khoán trớc công ty cổ phần.
Vào khoảng thế kỷ thứ 15-16, với sự xuất hiện của ngành hàng hải, thơng mại thế
giới bớc vào một kỷ nguyên phát triển dữ dội. Có thể nói đó là thế kỷ của thơng mại,
Frankfut ở nớc Đức và Amstecdam thủ đô của Hà Lan, là hai thơng cảng lớn nhất thời
bấy giờ. Cũng chính tại đây ngời ta tụ tập nhau lại để buôn bán các chứng từ văn tự nợ
(debenture).
Trong buôn bán nợ nần lẫn nhau là chuyện phổ biến. Các chứng từ ghi nợ
(debentủe) là những giấy tờ đợc coi là những giấy tờ có giá trị nh tiền vâỵ. Các chứng
từ nợ này lại đợc chia làm hai loại. Các kỳ phiếu (bill) và các hối phiếu (bill of
exchange). Các kỳ phiếu là các giấy nợ có ghi kỳ hạn thanh toán mà con nợ phải trả
cho chủ nợ một số tiền nhất định. Các hối phiếu là một lệnh trả mà con nợ yêu cầu một
ngời thứ ba nào đó trả hộ mình một món nợ cho chủ nợ (có thể có kỳ hạn hoặc không
có kỳ hạn thanh toán). Nh vậy, kỳ phiếu ứng với loại thanh toán trực tiếp giữa chủ nợ
và con nợ; hối phiếu ứng với loại thanh toán gián tiếp thông qua ngời thứ ba. Ví dụ,
nếu bạn phải trả một món tiền cho ngời nào đó khi bạn không còn tiền trong túi hoặc
bạn không muốn dùng tiền trong túi để trả, trong khi đó lại có một ngời khác đang nợ
bạn, bạn có thể yêu cầu ngời đó trả hộ bạn món nợ đó.
Việc chuyển nhợng các văn tự nợ trớc thời hạn thanh toán để đổi lấy tiền mặt cho
các vụ buôn bán trớc mắt là chuyện thờng trong buôn bán. Ví dụ bạn cần tiền mặt là 1
triệu đồng cho một vụ buôn bán ngày mai, trong khi đó bạn chỉ có các khoản nợ (ví dụ
cũng là 1 triệu) mà ngời khác nợ bạn, những khoản nợ này lại cha đến kỳ hạn thanh
hoạt động đó đợc gọi là các sở giao dịch chứng khoán (the stock exchange). Đến thế
kỷ 15,16 TTCK đợc hình thành nh thế ở Frankfurt và Amstecdam, và những chứng
khoán đầu tiên là những thơng phiếu (gồm các kỳ phiếu và hối phiếu) và các trái phiếu
(chính phủ trung ơng và địa phơng).
Nh vậy chứng khoán nh là các giấy tờ có giá trị nảy sinh do đòi hỏi của việc huy
động vốn (trong trờng hợp của trái phiếu) hoặc do kỹ thuật của việc mua bán trao đổi
(trong trờng hợp của thơng phiếu). Và các hoạt động mua bán trao đổi các giấy tờ này
hình thành nên TTCK. Đó là TTCK trớc khi có công ty cổ phần.
2. Thị trờng chứng khoán sau công ty cổ phần.
a) Công ty cổ phần:
Thế kỷ 19 là thế kỷ xuất hiện nhiều ngành công nghiệp nhờ sự xuất hiện của máy
móc. Nhiều ngành công nghiệp tiếp tục phát triển từ những ngành truyền thống với
việc ứng dụng máy móc mới, ví dụ ngành dệt. Trong những ngành đó, vốn liếng của
gia đình, giòng họ của ngời chủ có thể đủ để mua máy móc thiết bị mới để tăng năng
suất, phát triển doanh nghiệp. Nhng mặt khác, có những ngành công nghiệp mới xuất
hiện lại đòi hỏi rất nhiều vốn liếng mới có thể mở đợc doanh nghiệp, ví dụ điển hình
trong thời kỳ này là ngành đờng sắt. Để có thể mở đợc doanh nghiệp, không một ngời
nào có thể tự đảm bảo đợc đủ số vốn ban đầu để mở mang doanh nghiệp. Trong khi đó
sự phát triển đầy triển vọng phát đạt của ngành này là rất rõ rệt và hấp dẫn đối với việc
đầu t. Trớc đây, nh đã đề cập ở phần trên, phát hành công trái là một sáng kiến từ thế
kỷ 15 và 16 để huy động vốn xây dựng các công trình lớn đòi hỏi nhiều vốn. Giờ đây,
ở vào thế kỷ 19, một sáng kiến nữa dờng nh đợc mô phỏng từ sáng kiến đó trong kinh
doanh là sáng kiến thành lập công ty cổ phần (stock company).
Để mở mang một doanh nghiệp lớn và mới, một nhóm ngời có cùng chung ý tởng
đầu t kiếm lời trong một hoạt động kinh doanh nào đó đã cùng nhau góp vốn để mở
doanh nghiệp. Phần đóng góp về tài chính của mỗi ngời trong công ty đó gọi là cổ
phần (share). Và mỗi ngời đều giữ một hoặc nhiều văn tự chứng thực cho sự đóng góp
cổ phần của mình, những văn tự này gọi là các cổ phiếu (shares). Điều đó có nghĩa là
ngời ta có thể chia một cổ phần ra thành nhiều cổ phiếu với một giá trị đơn vị nhất
định. Ví dụ bạn có cổ phần đóng góp trong công ty xà phòng Daso là một triệu đồng,
tình trạng thiếu vốn để mở hoặc phát triển các doanh nghiệp đòi hỏi vốn lớn mà một cá
nhân không đủ khả năng tài chính cho việc đó. Những cổ đông tham gia kinh doanh hy
vọng sẽ kiếm đợc lợi nhuận từ việc kinh doanh đó. Và trong tay họ có các cổ phiếu
chứng thực cho sự đóng góp cổ phần của họ. Nói cách khác cổ phiếu là những giấy tờ
có giá trị. Mặc dù về quy định ngời ta không thể đòi đợc các khoản đầu t đó theo ý
muốn, trong chừng mực công ty còn tồn tại những giấy tờ này đem lại cho ngời sở hữu
chúng những khoản hoa lợi nhất định. Và nh thế có nghĩa là ngời ta có thể chuyển nh-
ợng (bán) chúng cho ngời khác tơng tự nh trong trờng hợp của trái phiếu và thơng
phiếu nói ở trên.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
b. Sự bùng nổ của thị trờng chứng khoán.
Trớc khi có công ty cổ phần, việc bán các trái phiếu và các thơng phiếu thờng chỉ
xuất hiện khi các chủ sở hữu chúng có nhu cầu cần tiền mặt. Việc di chuyển đầu t
kiếm lời từ đầu t vào loại công trái hay thơng phiếu này sang loại công trái hay thơng
phiếu khác là rất hãn hữu vì mức lãi suất các loại trái phiếu về cơ bản là tơng đơng
nhau, và độ an toàn cũng vậy, TTCK do đó chỉ hoạt động ở quy mô nhỏ.
Trái lại, với sự xuất hiện công ty cổ phần việc giao dịch mua bán chứng khoán đã
bùng nổ, và bớc sang một giai đoạn hoàn toàn mới mẻ. Điều này bắt nguồn từ nhiều lý
do. Thứ nhất, các lĩnh vực đầu t trở nên vô cùng đa dạng, bao gồm toàn bộ các hoạt
động sản xuất kinh doanh . Ngời đầu t lúc này đứng trớc hàng loạt lựa chọn đầu t. Thứ
hai, mức độ kiếm lời và rủi ro của các lĩnh vực này lại khác nhau, do đó mức sinh lời
cho đầu t các lĩnh vực hay công ty khác nhau cũng khác nhau; thậm chí mức sinh lãi
của đầu t còn phụ thuộc vào cả tình hình chính trị hay sự sống còn của một cá nhân có
uy tín trong chính trờng hay trong kinh doanh (xem phần các yếu tố ảnh hởng đến
TTCK). Nói cách khác, ngời đầu t đứng trớc hàng loạt các tình huống lựa chọn đầu t,
và do đó tạo ra nhiều khả năng cho việc di chuyển đầu t từ lĩnh vực này sang lĩnh vực
khác. Và tiếp theo đó, thứ ba, tính chất đầu cơ trong giao dịch mua bán loại chứng
khoán này xuất hiện. Kết quả là, thứ t một khối lợng lớn giao dịch mua bán chuyển nh-
ợng chứng khoán trên thị trờng trở nên thờng xuyên với sự tham gia hết sức đông đảo
nhau với những lãi suất khác nhau của các cổ phiếu và trái phiếu( mỗi công ty có thể
có những loại cổ phiếu và trái phiếu khác nhau và tơng ứng với những lãi suất khác
nhau). Vì phải chịu rủi ro hơn so với lãi suất ngân hàng (vì là những khoản có tính chất
đầu t )lãi suất các chứng khoán thờng cao hơn lãi xuất ngân hàng, nên nó có tác dụng
khuyến khích tiết kiệm để đầu t.
3. Chức năng công cụ di chuyển đầu t
Với sự ra đời của TTCK, khoảng cách giữa ngời tiết kiệm và ngời đầu t đợc xoá
bỏ. Bản thân cái gọi là ngời tiết kiệm, xét theo giác độ là ngời mua cổ phiếu, về thực
chất đã phần nào trở thành ngời đầu t rồi. Bởi vì khi mua cổ phiếu họ đã có những lựa
chọn và toan tính đầu t vào lĩnh vực nào thì có lợi hơn. Đứng trớc hàng loạt những lựa
chọn và những biến đổi thờng xuyên của nền kinh tế trong đó một số ngành phát đạt
trong thời kỳ này và ngành khác lại trì trệ, những ngời đầu t này phải đa ra các quyết
định về việc họ có nên duy trì đầu t của họ trong lĩnh vực cũ hay di chuyển đầu t sang
lĩnh vực khác. Để làm đợc việc đó họ phải quyết định xem có nên giữ loại cổ phiếu nào
và bán loại cổ phiếu nào. Đó chính là chức năng quan trọng của TTCK giúp các nhà
đầu t có thể di chuyển vốn đầu t một cách dễ dàng hơn.
4. Chức năng khuyến khích cạnh tranh
TTCK là nơi hội tụ các loại cổ phiếu và trái phiếu của các công ty, trong đó giá
cổ phiếu và trái phiếu của một công ty có thể lên hoặc xuống tại một thời điểm nào đó.
Đồng thời, nếu so sánh với giá cổ phiếu và trái phiếu của công ty khác cùng lĩnh vực
đầu t, có thể giá cổ phiếu và trái phiếu của công ty này cao hơn của công ty khác. Điều
đó thúc đẩy các công ty có giá cổ phiếu hoặc trái phiếu hạ hoặc thấp hơn phải tự xem
xét laị hoạt động của công ty mình xem đã hiệu quả hay cha, từ đó phải liên tục tổ
chức lại để nâng cao hiệu quả sản xuất nhằm cạnh tranh với các đối thủ trên thơng tr-
ờng.
5. Chức năng thời biểu kinh tế
Các chỉ số chứng khoán đợc tạo ra bằng nhiều cách khác nhau nhằm cung cấp
những thông tin về tình trạng tốt hay xấu của TTCK. Ví dụ chỉ số Down Jhon tăng có
nghĩa là giá trung bình của các chứng khoán ở TTCK New york tăng, và ngợc lại. Tuy
nhiên chỉ số đó không chỉ phản ánh động thái của TTCK. Chỉ số chứng khoán tăng có
hành đợc nữa và lâm vào khủng hoảng. Sự bi quan và đen tối của của nền kinh tế đã
dẫn đến tình trạng là ai cũng muốn đem bán tháo tất cả những cổ phiếu có trong tay.
Kết quả là giá tất cả các cổ phiếu giảm xuống một cách thảm hại, và TTCK ở hầu hết
các nớc t bản đều sụp đổ, dẫn đến nhiều thiệt hại cho những ngời giữ các chứng khoán
nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Một vấn đề ở đây là khi giá chứng khoán tăng trong những năm trớc cuộc khủng
hoảng đã làm cho moị ngời lầm tởng rằng nền kinh tế tiếp tục tốt đẹp, mà không nhận
thấy những dấu hiệu nguy hiểm trên thực tế của nền sản xuất . Từ đó có ngời cho rằng
TTCK có khuynh hớng phản ánh sai động thái của nền kinh tế và gây ra những tổn thất
cho những ngời mua cổ phiếu và chứng khoán.
Đến năm 1987 và năm 1989 TTCK New York và tiếp theo đó là hàng loạt TTCK
khác trên thế giới lại rơi vào tình trạng hỗn loạn không thể kiểm soát đợc. Giá cổ phiếu
tụt giảm khủng khiếp. Có những cổ phiếu giá 20.000 Đô la sau một ngày chỉ bán đợc
với cái giá 200 Đô la trên Sở giao dịch chứng khoán New york. Tuy nhiên lý do của
cuộc đổ bể này không giống với năm 1929-1933. Nguyên nhân của hai cuộc đổ bể này
là vấn đề kỹ thuật giao dịch của Sở giao dịch chứ không phải là nguyên nhân kinh tế.
Thoạt đầu các nhà quản lý sở giao dịch nghĩ rằng họ có thể kiểm soát đợc các hoạt
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
động giao dịch trên Sở giao dịch, nên đã cho phép tiến hành một khối lợng giao dịch
khổng lồ vợt quá khả năng của hệ thống Computer làm nhiệm vụ tiến hành giao dịch
dẫn đến hệ thống Computer ngừng hoạt động và gây ra hoang mang cho những ngời
giữ cổ phiếu và chứng khoán. Kết quả là họ đều mang bán tháo tất cả những cổ phiếu
và chứng khoán có trong tay và lẽ dĩ nhiên điều đó làm cho giá chứng khoán tụt giảm
một cách thảm hại. Trong trờng hợp này mực dù TTCK sụp đổ nhng nền kinh tế không
bị đình đốn nh hồi những năm 1929-1933. Chỉ có những ai mua bán cổ phiếu và chứng
khoán vào thời điểm đó là bị thua thiệt thôi. Nh vậy sự sụp đổ của TTCK năm 1929-
1933 bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế, còn hai lần năm 1987 và 1989 là do nguyên
nhân về kỹ thuật. Từ đây chúng ta có thể thấy đợc bản chất quan hệ giữa TTCK và nền
kinh tế trong đó, nếu nền kinh tế sụp đổ tất yếu dẫn đến sự sụp đổ của TTCK, nhng
mua bán, thông tin về tình hình tài chính của các công ty có cổ phiếu đợc mua bán ở
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sở giao dịch chứng khoán. Chẳng hạn ở TTCK New York theo luật định một Uỷ ban
đợc thành lập để giám sát tất cả các giao dịch mua bán trên Sở giao dịch. Tất cả các vụ
mua bán đều phải có sự đồng ý của các nhân viên của Uỷ ban này mới đợc phép thực
hiện. Nếu nhân viên của uỷ ban này nhận thấy có một vụ mua bán cổ phiếu lớn của
một công ty nào đó, ông ta có trách nhiệm phải thẩm định tất cả các thông tin liên
quan để xem có sự gian lận nào trong vụ mua bán này không. Tới khi nào ông ta khẳng
định là không có sự gian lận, ông ta sẽ ra lệnh cho phép tiến hành vụ mua bán đó. ở
TTCK Tokyo, một nguyên tắc hàng đầu trong buôn bán là các lệnh mua ít và lệnh bán
nhiều cổ phiếu đợc u tiên tiến hành trớc. Nguyên tắc này đảm bảo tính công bằng trong
buôn bán tránh những vụ đầu cơ và thôn tính lẫn nhau thông qua việc mua bán chứng
khoán. ở Mỹ trớc cuộc khủng hoảng năm 1987, TTCK New york vẫn nằm ngoài sự
kiểm soát của chính phủ. Rút kinh nghiệm từ các cuộc khủng hoảng và những lộn xộn
do những trò gian lận trong lịch sử, chính phủ Mỹ đã quyết định đặt thị trờng chứng
khoán dới sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ. Một tiểu ban của Bộ tài chính đợc lập
ra để kiểm soát hoạt động của TTCK. Một đạo luật đáng lu ý đợc đa ra là, nếu trong
vòng một ngày làm việc chỉ số Dowjones lên hoặc xuống 10%, tiểu ban này có quyền
quyết định tạm thời đóng cửa TTCK cho tới khi nào họ cảm thất khoong còn sự lộn
xộn không thể kiểm soát đợc trên TTCK. Đạo luật này về căn bản dựa trên nguyên lý
vừa nêu ở trên là nền kinh tế có ảnh hởng quyết định đến sự ổn định của TTCK nhng
chiều ngợc lại thì cha chắc. Nhiều khi những khủng hoảng ở TTCK là do lý do kỹ
thuật tiến hành giao dịch (nh cuộc khủng hoảng 1987 và 1989), và do những yếu tố
khác. Những biến động loại này không phản ánh đúng động thái thực của nền sản
xuất , nhng nếu để chúng tiếp diễn sẽ gây thiệt hại cho công chúng và nền kinh tế theo
cái nghĩa là các chức năng của TTCK không đợc thực hiện trôi chảy. Khi TTCK bị
đóng cửa tạm thời, các bên tham gia thị trờng có đủ thời gian để kiểm tra lại các thông
tin và lấy lại bình tĩnh sau những biến động không kiểm soát đợc. Khi họ nhận thấy là
những biến động giá cả cổ phiếu mạnh nh thế không phải bắt nguồn từ những vấn đề
Do đó chỉ số xem xét động thái của những công ty này cũng phản ánh khá đầy đủ tình
trạng đang học sẽ diễn ra của nền kinh tế. Trên thực tế, các vấn đề của các công ty th-
ờng nảy sinh từ các vấn đề về tài chính nh nợ nần, khả năng thanh toán của công ty,
tình trạng bán hàng và khả năng cạnh tranh...
Khác với các yếu tố cục bộ bắt nguồn từ phía các công ty có cổ phiếu trên thị tr-
ờng chứng khoán rồi gây ảnh hởng dây chuyền sang các lĩnh vực khác. Các yếu tố kinh
tế vĩ mô có một ảnh hởng bao trùm lên hoạt động của TTCK. Chẳng hạn, tình trạng
lạm phát gia tăng và khó kiểm soát đa đến những thiệt hại trong nhiều lĩnh vực kinh tế
khác nhau đồng thời tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng giá cổ phiếu sẽ có khuynh hớng giảm
xuống. Mặt khác lạm phát cũng có ảnh hởng trực tiếp đến sự giảm giá các chứng
khoán, bởi vì giá mua lúc đó phải thấp hơn trong khi lãi tức từ các chứng khoán vẫn
giữ nguyên để bù laị những mất mát do lạm phát gây ra. Lãi suất ngân hàng là một yếu
tố kinh tế vĩ mô có ảnh hởng lớn đến giá cả chứng khoán. Khi lãi suất ngân hàng tăng
ngời đầu t đứng trớc một lựa chọn là tiếp tục đầu t vào chứng khoán để kiếm lợi tức từ
chứng khoán hay bỏ tiền vào ngân hàng để kiếm lãi suất hấp dẫn hơn và ít ruỉ ro hơn.
Điều đó có nghĩa là các chứng khoán muốn cạnh tranh đợc thì ngời bán chứng khoán
phải giảm giá các chứng khoán tới mức sao cho với mức lãi tức cũ ngời mua cảm thấy
hấp dẫn hơn lãi suất ngân hàng. Nói gọn lại, lãi suất ngân hàng tăng sẽ dẫn đến giảm
giá chứng khoán.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Yếu tố chính trị:
Chính trị tởng chừng nh không có gì quan hệ đến các hoạt động của TTCK, trên
thực tế lại có ảnh hởng rất nhạy đến động thái của TTCK. Chúng ta đã từng thấy chiến
tranh vùng vịnh đã gây ra những biến động trong giá cả tại các TTCK nh thế nào.
Những tác động từ chiến tranh có thể diễn ra bằng nhiều con đờng. Ví dụ, khi chiến
tranh vùng vịnh xảy ra nhiều ngời dự đoán giá dầu sẽ tăng và nền kinh tế thế giới có
thể sẽ rơi vào tình trạng trì trệ. Một phán đoán nh vậy tất sẽ dẫn đến sự giảm giá các
chứng khoán. Nhng mặt khác ngời ta lại phán đoán rằng giá các cổ phiếu của các công
ty dầu mỏ rất có thể laị tăng lên. Do đó xảy ra một cuộc bán tháo các cổ phiếu của các
hoặc mâu thuẫn nội bộ, tất cả những suy tính và phán đoán đó đều dẫn đến những thay
đổi ở TTCK theo một lôgích tơng tự nh trên.
12