Mở đầu
Trong vòng 10 năm (1988-1998) thực hiện đờng lối của Đảng, kiên trì phơng
châm chiến lợc: coi trọng hợp tác quốc tế theo xu thế hội nhập, khu vực hoá và toàn
cầu hoá nền kinh tế, tranh thủ mọi khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả hơn nữa
các nguồn lực từ bên ngoài, bao gồm cả vốn, công nghệ, thị trờng và trình độ quản lý.
Việt nam đã thu hút đợc hơn 2400 dự án đầu t nớc ngoài với tổng số vốn gần 36 tỷ
USD, trong đó có khoảng 13 tỷ USD đã đợc thực hiện (chiếm gần 90% tổng vốn đăng
kỳ)
Cùng với các nguồn tài trợ khác, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thực (ODA)
và đầu t trực tiếp của nớc ngoài (FDI) thật sự đang là một nguồn lực tài chính quan
trọng thúc đẩy sự phát triển đất nớc, góp phần cho mức tăng trởng GDP trong những
năm qua đạt trên 8% giải quyết việc làm cho hơn 27 vạn lao động trực tiếp và hàng
chục vạn lao động gián tiếp.
Tuy nhiên, Đảng và Nhà nớc Việt Nam vẫn khẳng định nguồn lực trong nớc mới
là nhân tố quyết định cho quá trình tăng trởng và phát triển bền vững. Nguồn lực nội
sinh là một khái niệm rất rộng, là tổng hợp toàn bộ các nguồn lực trong nớc, không chỉ
có ở vốn tài sản cơ sở vật chất - kỹ thuật đã tích luỹ đợc mà còn là tài nguyên cha đa
vào sử dụng, lợi thế về địa lý kinh tế, chính trị, trong đó quan trọng nhất là nguồn lực
con ngời bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thầy gắn với truyền thống văn hoá
của dân tộc.
Thời gian qua, bằng một loạt các giải pháp đồng bộ đổi mới, điều chỉnh và hoàn
thiện chính sách, cơ chế môi trờng sản xuất kinh doanh, nguồn lực của đất nớc đã có sự
khởi động và bớc đầu phát huy tác dụng. Thế nhng hiệu quả đạt đợc còn cha lớn, nhiều
tiềm năng còn bị lãng phí. Việc huy động nguồn lực tài chính nhàn rỗi trong dân c cho
đầu t tăng trởng còn cha nh mong muốn. Ước tính còn có 5-6 tỷ USD vốn nhà rỗi
trong dân c nhng việc huy động vẫn gặp khó khăn, vì nhân dân còn e ngại, các cơ chế,
chính sách còn có trói buộc và nhất là cha xây dựng đợc mô hình huy động vốn hợp lý.
Một trong các nguồn lực nội sinh nữa còn để lãng phí là nguồn lực lao động,
nguồn lực trí tuệ, đặc biệt là của đội ngũ trí thức, dẫn đến tình trạng "chảy máu chất
xám" mà cha có một giải pháp nào khắc phục hữu hiệu. Những hạn chế này trong việc
phát huy nguồn lực nội sinh sẽ là nguyên nhân làm suy giảm dòng chaỷ đầu t từ nớc
trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nớc. Rất mong đợc bạn đọc gần xa góp ý kiến để đề án
của tôi đợc hoàn thiện hơn.
2
Phần I: Những vấn đề chung
I/ Lịch sử hình thành thị trờng chứng khoán và chứng khoán
1. Thị trờng chứng khoán trớc công ty cổ phần.
Vào khoảng thế kỷ thứ 15-16, với sự xuất hiện của ngành hàng hải, thơng mại thế
giới bớc vào một kỷ nguyên phát triển dữ dội. Có thể nói đó là thế kỷ của thơng mại,
Frankfut ở nớc Đức và Amstecdam thủ đô của Hà Lan, là hai thơng cảng lớn nhất thời
bấy giờ. Cũng chính tại đây ngời ta tụ tập nhau lại để buôn bán các chứng từ văn tự nợ
(debenture).
Trong buôn bán nợ nần lẫn nhau là chuyện phổ biến. Các chứng từ ghi nợ
(debentủe) là những giấy tờ đợc coi là những giấy tờ có giá trị nh tiền vâỵ. Các chứng
từ nợ này lại đợc chia làm hai loại. Các kỳ phiếu (bill) và các hối phiếu (bill of
exchange). Các kỳ phiếu là các giấy nợ có ghi kỳ hạn thanh toán mà con nợ phải trả
cho chủ nợ một số tiền nhất định. Các hối phiếu là một lệnh trả mà con nợ yêu cầu một
ngời thứ ba nào đó trả hộ mình một món nợ cho chủ nợ (có thể có kỳ hạn hoặc không
có kỳ hạn thanh toán). Nh vậy, kỳ phiếu ứng với loại thanh toán trực tiếp giữa chủ nợ
và con nợ; hối phiếu ứng với loại thanh toán gián tiếp thông qua ngời thứ ba. Ví dụ,
nếu bạn phải trả một món tiền cho ngời nào đó khi bạn không còn tiền trong túi hoặc
bạn không muốn dùng tiền trong túi để trả, trong khi đó lại có một ngời khác đang nợ
bạn, bạn có thể yêu cầu ngời đó trả hộ bạn món nợ đó.
Việc chuyển nhợng các văn tự nợ trớc thời hạn thanh toán để đổi lấy tiền mặt cho
các vụ buôn bán trớc mắt là chuyện thờng trong buôn bán. Ví dụ bạn cần tiền mặt là 1
triệu đồng cho một vụ buôn bán ngày mai, trong khi đó bạn chỉ có các khoản nợ (ví dụ
cũng là 1 triệu) mà ngời khác nợ bạn, những khoản nợ này lại cha đến kỳ hạn thanh
toán. Vì vậy bạn phải nhợng lại văn tự nợ đó cho một ngời khác để có tiền mặt tức thì
cho vụ buôn bán hôm sau. Tất nhiên khi chuyển nhợng lại khoản nợ nh vậy bạn sẽ
không thể nhận đợc trọn cả 1 triệu đồng mà thay vào đó là một khoản dới 1 triệu đồng,
bởi vì bạn phải trả một khoản lãi suất nhất định cho ngời mua do phải chờ đến kỳ hạn
động vốn (trong trờng hợp của trái phiếu) hoặc do kỹ thuật của việc mua bán trao đổi
(trong trờng hợp của thơng phiếu). Và các hoạt động mua bán trao đổi các giấy tờ này
hình thành nên TTCK. Đó là TTCK trớc khi có công ty cổ phần.
2. Thị trờng chứng khoán sau công ty cổ phần.
a) Công ty cổ phần:
Thế kỷ 19 là thế kỷ xuất hiện nhiều ngành công nghiệp nhờ sự xuất hiện của máy
móc. Nhiều ngành công nghiệp tiếp tục phát triển từ những ngành truyền thống với
việc ứng dụng máy móc mới, ví dụ ngành dệt. Trong những ngành đó, vốn liếng của
gia đình, giòng họ của ngời chủ có thể đủ để mua máy móc thiết bị mới để tăng năng
suất, phát triển doanh nghiệp. Nhng mặt khác, có những ngành công nghiệp mới xuất
hiện lại đòi hỏi rất nhiều vốn liếng mới có thể mở đợc doanh nghiệp, ví dụ điển hình
trong thời kỳ này là ngành đờng sắt. Để có thể mở đợc doanh nghiệp, không một ngời
nào có thể tự đảm bảo đợc đủ số vốn ban đầu để mở mang doanh nghiệp. Trong khi đó
sự phát triển đầy triển vọng phát đạt của ngành này là rất rõ rệt và hấp dẫn đối với việc
đầu t. Trớc đây, nh đã đề cập ở phần trên, phát hành công trái là một sáng kiến từ thế
kỷ 15 và 16 để huy động vốn xây dựng các công trình lớn đòi hỏi nhiều vốn. Giờ đây,
ở vào thế kỷ 19, một sáng kiến nữa dờng nh đợc mô phỏng từ sáng kiến đó trong kinh
doanh là sáng kiến thành lập công ty cổ phần (stock company).
Để mở mang một doanh nghiệp lớn và mới, một nhóm ngời có cùng chung ý t-
ởng đầu t kiếm lời trong một hoạt động kinh doanh nào đó đã cùng nhau góp vốn để
mở doanh nghiệp. Phần đóng góp về tài chính của mỗi ngời trong công ty đó gọi là cổ
phần (share). Và mỗi ngời đều giữ một hoặc nhiều văn tự chứng thực cho sự đóng góp
cổ phần của mình, những văn tự này gọi là các cổ phiếu (shares). Điều đó có nghĩa là
ngời ta có thể chia một cổ phần ra thành nhiều cổ phiếu với một giá trị đơn vị nhất
định. Ví dụ bạn có cổ phần đóng góp trong công ty xà phòng Daso là một triệu đồng,
4
và trong tay bạn cầm một trăm cổ phiếu, mỗi cổ phiếu trị giá (ghi trên cổ phiếu đó) là
10 nghìn đồng. Nói một cách khác 100 cổ phiếu trong tay của bạn chứng thực bạn có
một cổ phần trị giá 1 triệu đồng trong công ty bột giặt Daso. Những ngời có cổ phần
đóng góp này gọi là những cổ đông (share holders).
chúng những khoản hoa lợi nhất định. Và nh thế có nghĩa là ngời ta có thể chuyển nh-
ợng (bán) chúng cho ngời khác tơng tự nh trong trờng hợp của trái phiếu và thơng
phiếu nói ở trên.
5
b. Sự bùng nổ của thị trờng chứng khoán.
Trớc khi có công ty cổ phần, việc bán các trái phiếu và các thơng phiếu thờng chỉ
xuất hiện khi các chủ sở hữu chúng có nhu cầu cần tiền mặt. Việc di chuyển đầu t kiếm
lời từ đầu t vào loại công trái hay thơng phiếu này sang loại công trái hay thơng phiếu
khác là rất hãn hữu vì mức lãi suất các loại trái phiếu về cơ bản là tơng đơng nhau, và
độ an toàn cũng vậy, TTCK do đó chỉ hoạt động ở quy mô nhỏ.
Trái lại, với sự xuất hiện công ty cổ phần việc giao dịch mua bán chứng khoán đã
bùng nổ, và bớc sang một giai đoạn hoàn toàn mới mẻ. Điều này bắt nguồn từ nhiều lý
do. Thứ nhất, các lĩnh vực đầu t trở nên vô cùng đa dạng, bao gồm toàn bộ các hoạt
động sản xuất kinh doanh . Ngời đầu t lúc này đứng trớc hàng loạt lựa chọn đầu t. Thứ
hai, mức độ kiếm lời và rủi ro của các lĩnh vực này lại khác nhau, do đó mức sinh lời
cho đầu t các lĩnh vực hay công ty khác nhau cũng khác nhau; thậm chí mức sinh lãi
của đầu t còn phụ thuộc vào cả tình hình chính trị hay sự sống còn của một cá nhân có
uy tín trong chính trờng hay trong kinh doanh (xem phần các yếu tố ảnh hởng đến
TTCK). Nói cách khác, ngời đầu t đứng trớc hàng loạt các tình huống lựa chọn đầu t,
và do đó tạo ra nhiều khả năng cho việc di chuyển đầu t từ lĩnh vực này sang lĩnh vực
khác. Và tiếp theo đó, thứ ba, tính chất đầu cơ trong giao dịch mua bán loại chứng
khoán này xuất hiện. Kết quả là, thứ t một khối lợng lớn giao dịch mua bán chuyển nh-
ợng chứng khoán trên thị trờng trở nên thờng xuyên với sự tham gia hết sức đông đảo
của hầu hết các tầng lớp trong xã hội. TTCK đến lúc đó thực sự bớc sang một giai đoạn
phát triển hoàn toàn mới với sự phát triển mới cả về lợng cũng nh về chất.
Nh vậy công ty cổ phần có một ảnh hởng có tính chất cách mạng làm thay đổi
toàn bộ hoạt động của thị trờng chứng khoán. Nếu nh trớc đây TTCK chỉ là nơi giao
dịch các trái phiếu và thơng phiếu, thì giờ đây nó gồm thêm cả một loại chứng khoán
có sức hấp dẫn đầu t hơn gấp nhiều lần, đó là các cổ phiếu. Từ đây trở đi, cổ phiếu
chiếm tỷ trọng áp đảo trong giao dịch mua bán tại TTCK.
chất đã phần nào trở thành ngời đầu t rồi. Bởi vì khi mua cổ phiếu họ đã có những lựa
chọn và toan tính đầu t vào lĩnh vực nào thì có lợi hơn. Đứng trớc hàng loạt những lựa
chọn và những biến đổi thờng xuyên của nền kinh tế trong đó một số ngành phát đạt
trong thời kỳ này và ngành khác lại trì trệ, những ngời đầu t này phải đa ra các quyết
định về việc họ có nên duy trì đầu t của họ trong lĩnh vực cũ hay di chuyển đầu t sang
lĩnh vực khác. Để làm đợc việc đó họ phải quyết định xem có nên giữ loại cổ phiếu nào
và bán loại cổ phiếu nào. Đó chính là chức năng quan trọng của TTCK giúp các nhà
đầu t có thể di chuyển vốn đầu t một cách dễ dàng hơn.
4. Chức năng khuyến khích cạnh tranh
TTCK là nơi hội tụ các loại cổ phiếu và trái phiếu của các công ty, trong đó giá
cổ phiếu và trái phiếu của một công ty có thể lên hoặc xuống tại một thời điểm nào đó.
Đồng thời, nếu so sánh với giá cổ phiếu và trái phiếu của công ty khác cùng lĩnh vực
đầu t, có thể giá cổ phiếu và trái phiếu của công ty này cao hơn của công ty khác. Điều
đó thúc đẩy các công ty có giá cổ phiếu hoặc trái phiếu hạ hoặc thấp hơn phải tự xem
xét laị hoạt động của công ty mình xem đã hiệu quả hay cha, từ đó phải liên tục tổ chức
lại để nâng cao hiệu quả sản xuất nhằm cạnh tranh với các đối thủ trên thơng trờng.
5. Chức năng thời biểu kinh tế
Các chỉ số chứng khoán đợc tạo ra bằng nhiều cách khác nhau nhằm cung cấp
những thông tin về tình trạng tốt hay xấu của TTCK. Ví dụ chỉ số Down Jhon tăng có
nghĩa là giá trung bình của các chứng khoán ở TTCK New york tăng, và ngợc lại. Tuy
nhiên chỉ số đó không chỉ phản ánh động thái của TTCK. Chỉ số chứng khoán tăng có
nghĩa là giá trung bình các cổ phiếu tăng; giá các cổ phiếu tăng có nghĩa là tình trạng
của nền kinh tế đang khích lệ. Bởi vì khi tình trạng sản xuất của các công ty, các hãng
sản xuất có cổ phiếu đợc tính trong chỉ số chứng khoán đang phát đạt thì sẽ có nhiều
ngời muốn mua cổ phiếu của các công ty đó, hay nói cách khác là muốn đầu t vào lĩnh
vực đó, cuối cùng khi nhu cầu mua cổ phiếu đó tăng lên giá cả các cổ phiếu tăng và do
7
đó chỉ số chứng khoán tăng. Nh vậy chỉ số chứng khoán theo lô gích đó là một hàn
thời biểu phản ánh tình trạng của toàn bộ nền kinh tế .
6. Là công cụ để hoà nhập vào nền kinh tế thế giới
Đến năm 1987 và năm 1989 TTCK New York và tiếp theo đó là hàng loạt TTCK
khác trên thế giới lại rơi vào tình trạng hỗn loạn không thể kiểm soát đợc. Giá cổ phiếu
tụt giảm khủng khiếp. Có những cổ phiếu giá 20.000 Đô la sau một ngày chỉ bán đợc
với cái giá 200 Đô la trên Sở giao dịch chứng khoán New york. Tuy nhiên lý do của
cuộc đổ bể này không giống với năm 1929-1933. Nguyên nhân của hai cuộc đổ bể này
là vấn đề kỹ thuật giao dịch của Sở giao dịch chứ không phải là nguyên nhân kinh tế.
Thoạt đầu các nhà quản lý sở giao dịch nghĩ rằng họ có thể kiểm soát đợc các hoạt
động giao dịch trên Sở giao dịch, nên đã cho phép tiến hành một khối lợng giao dịch
8
khổng lồ vợt quá khả năng của hệ thống Computer làm nhiệm vụ tiến hành giao dịch
dẫn đến hệ thống Computer ngừng hoạt động và gây ra hoang mang cho những ngời
giữ cổ phiếu và chứng khoán. Kết quả là họ đều mang bán tháo tất cả những cổ phiếu
và chứng khoán có trong tay và lẽ dĩ nhiên điều đó làm cho giá chứng khoán tụt giảm
một cách thảm hại. Trong trờng hợp này mực dù TTCK sụp đổ nhng nền kinh tế không
bị đình đốn nh hồi những năm 1929-1933. Chỉ có những ai mua bán cổ phiếu và chứng
khoán vào thời điểm đó là bị thua thiệt thôi. Nh vậy sự sụp đổ của TTCK năm 1929-
1933 bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế, còn hai lần năm 1987 và 1989 là do nguyên
nhân về kỹ thuật. Từ đây chúng ta có thể thấy đợc bản chất quan hệ giữa TTCK và nền
kinh tế trong đó, nếu nền kinh tế sụp đổ tất yếu dẫn đến sự sụp đổ của TTCK, nhng
điều ngợc lại thì cha chắc, mặc dù có ảnh hởng nào đó.
Bên cạnh những cuộc khủng hoảng có tính chất kinh điển nh vậy, lịch sử cũng đã
chứng kiến không biết bao nhiêu những cuộc rối loạn do những trò gian lận, biển thủ
gây ra cho TTCK. Một ví dụ khá lý thú và điển hình là ở TTCK Tokyo năm 1986 bỗng
nhiên ngời ta thấy giá cổ phiếu của một cổ phiếu lên tới 10.000 Yên, rồi bỗng dng
không có một ai muốn mua cổ phiếu đó nữa, và ngay sau đó tất cả cổ phiếu đó, khi đã
nằm trong tay các khách hàng mua, đều trở thành giấy lộn. Chuyện là ở chỗ, một số
công ty chứng khoán lớn nhất TTCK Tokyo quyết định giúp một công ty thân quen của
họ có đợc một chút ít tài chính sau khi phá sản. Khi biết công ty đó sắp phá sản các
công ty chứng khoán "chiến hữu" này quyết định vừa bán ra đồng thời vừa mua vào
các cổ phiếu của công ty kia. Điều đó tạo ra một ấn tợng giả tạo là công ty kia đang
bằng trong buôn bán tránh những vụ đầu cơ và thôn tính lẫn nhau thông qua việc mua
bán chứng khoán. ở Mỹ trớc cuộc khủng hoảng năm 1987, TTCK New york vẫn nằm
ngoài sự kiểm soát của chính phủ. Rút kinh nghiệm từ các cuộc khủng hoảng và những
lộn xộn do những trò gian lận trong lịch sử, chính phủ Mỹ đã quyết định đặt thị trờng
chứng khoán dới sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ. Một tiểu ban của Bộ tài chính đ-
ợc lập ra để kiểm soát hoạt động của TTCK. Một đạo luật đáng lu ý đợc đa ra là, nếu
trong vòng một ngày làm việc chỉ số Dowjones lên hoặc xuống 10%, tiểu ban này có
quyền quyết định tạm thời đóng cửa TTCK cho tới khi nào họ cảm thất khoong còn sự
lộn xộn không thể kiểm soát đợc trên TTCK. Đạo luật này về căn bản dựa trên nguyên
lý vừa nêu ở trên là nền kinh tế có ảnh hởng quyết định đến sự ổn định của TTCK nhng
chiều ngợc lại thì cha chắc. Nhiều khi những khủng hoảng ở TTCK là do lý do kỹ thuật
tiến hành giao dịch (nh cuộc khủng hoảng 1987 và 1989), và do những yếu tố khác.
Những biến động loại này không phản ánh đúng động thái thực của nền sản xuất , nh-
ng nếu để chúng tiếp diễn sẽ gây thiệt hại cho công chúng và nền kinh tế theo cái nghĩa
là các chức năng của TTCK không đợc thực hiện trôi chảy. Khi TTCK bị đóng cửa tạm
thời, các bên tham gia thị trờng có đủ thời gian để kiểm tra lại các thông tin và lấy lại
bình tĩnh sau những biến động không kiểm soát đợc. Khi họ nhận thấy là những biến
động giá cả cổ phiếu mạnh nh thế không phải bắt nguồn từ những vấn đề đình đốn hay
hỗn loạn trong các công ty có cổ phiếu đó, họ sẽ đa ra những quyết định hợp lý hơn,
ngừng bán những cổ phiếu mà họ tởng lầm là sẽ không còn giá trị trong tơng lai nữa.
Đây là cách cắt cơn sốt ở TTCK.
Nh vậy, không thể có một TTCK hoạt động công bằng nếu không có một khuôn
khổ luật pháp cho các hoạt động của nó. Một TTCK hoạt động ổn định , đảm bảo công
bằng cho các bên tham gia thị trờng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo và phát huy các
chức năng và vai trò của nó trong nền kinh tế. Nói cách khác nhà nớc phải đóng vai trò
nh ngời trọng tài đa ra những quy chế đạo luật quy định các hoạt động của TTCK để
đảm bảo đợc việc đó.
10
IV. Những yếu tố ảnh hởng đến TTCK
Có thể nói không thể kể hết những yếu tố tác động đến động thái của TTCK. Nh
ngời đầu t đứng trớc một lựa chọn là tiếp tục đầu t vào chứng khoán để kiếm lợi tức từ
chứng khoán hay bỏ tiền vào ngân hàng để kiếm lãi suất hấp dẫn hơn và ít ruỉ ro hơn.
Điều đó có nghĩa là các chứng khoán muốn cạnh tranh đợc thì ngời bán chứng khoán
phải giảm giá các chứng khoán tới mức sao cho với mức lãi tức cũ ngời mua cảm thấy
hấp dẫn hơn lãi suất ngân hàng. Nói gọn lại, lãi suất ngân hàng tăng sẽ dẫn đến giảm
giá chứng khoán.
11
2. Yếu tố chính trị:
Chính trị tởng chừng nh không có gì quan hệ đến các hoạt động của TTCK, trên
thực tế lại có ảnh hởng rất nhạy đến động thái của TTCK. Chúng ta đã từng thấy chiến
tranh vùng vịnh đã gây ra những biến động trong giá cả tại các TTCK nh thế nào.
Những tác động từ chiến tranh có thể diễn ra bằng nhiều con đờng. Ví dụ, khi chiến
tranh vùng vịnh xảy ra nhiều ngời dự đoán giá dầu sẽ tăng và nền kinh tế thế giới có
thể sẽ rơi vào tình trạng trì trệ. Một phán đoán nh vậy tất sẽ dẫn đến sự giảm giá các
chứng khoán. Nhng mặt khác ngời ta lại phán đoán rằng giá các cổ phiếu của các công
ty dầu mỏ rất có thể laị tăng lên. Do đó xảy ra một cuộc bán tháo các cổ phiếu của các
công ty nào bị dự đoán là sẽ thua thiệt do gía dầu tăng, và mọi ngời đổ xô vào mua cổ
phiếu của các công ty dầu mỏ và của những công ty liên quan có lợi thế tơng tự. Điều
đó thờng dẫn đến những xáo trộn trong hoạt động của TTCK.
Tình trạng quan hệ giữa hai quốc gia có buôn bán với nhau cũng hoàn toàn có thể
dẫn đến những biến động tại TTCK. Ví dụ, sự bất hoà trong quan hệ buôn bán giữa
Nhật và Mỹ về vấn đề mở cửa thị trờng ô tô Nhật Bản theo đòi hỏi của Mỹ đã ảnh hởng
không ít đến TTCK. Mỹ đe doạ rằng nếu những yêu cầu của Mỹ đối với Nhật về việc
Nhật phải nhập khẩu một khối lợng phụ tùng ô tô của Mỹ mỗi năm không đợc thoả
mãn, Mỹ có thể sẽ tăng thuế đánh vào ô tô của Nhật nhập khẩu vào Mỹ tới 100% (từ
30%). Điều đó sẽ làm cho cổ phiếu của các công ty ô tô Nhật bản bị giảm giá vì với
mức thuế nh vậy, các công ty ô tô Nhật bản sẽ rơi vào tình trạng khólàm ăn, khi đó tất
yếu dẫn tới ít lợi nhuận để chia cho các cổ đông; và ít lợi nhuận chia cho cổ đông có
nghĩa là cổ phiếu đó trở nên ít hấp dẫn hơn và giá các cổ phiếu đó bị sụt.
Ngoài ra còn vô số lý do khác về chính trị đều có thể ảnh hởng đến động thái của