Luận văn tốt nghiệp 1 Khoa Kế toán
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, khi nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, cùng với sự tham gia
thị trường của rất nhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt với sự ra
đời của thị trường chứng khoán và sự gia nhập WTO - Tổ chức Thương mại Quốc tế -
thì nhu cầu kiểm toán đang phát triển rất nhanh. Nhu cầu kiểm toán chủ yếu của các
doanh nghiệp là kiểm toán báo cáo tài chính. Trên báo cáo tài chính của bất kỳ doanh
nghiệp nào, đặc biệt trong các doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp sản xuất,
hàng tồn kho luôn chiếm tỷ trọng lớn và nếu có sai phạm xảy ra đối với khoản mục này
thì thường ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Chính vì vậy,
trong kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán khoản mục hàng tồn kho không thể thiếu
và luôn được coi trọng, đòi hỏi kiểm toán viên thực hiện phải là người có nhiều kinh
nghiệm. Nhận thức được tầm quan trọng của việc kiểm toán khoản mục hàng tồn kho,
nên em đã quyết định viết luận văn tốt nghiệp của mình với đề tài “Hoàn thiện kiểm
toán chu trình hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm
toán và Tư vấn Tài chính ACAGroup thực hiện”.
Sau thời gian nghiên cứu, học tập tại trường và thực tập tại Công ty ACAGroup,
với nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn - Th.S. Tạ Thu
Trang - và các anh, chị trong Công ty, em đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Ngoài
phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba phần chính sau:
Chương 1 - Lý luận chung về chu trình kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm
toán báo cáo tài chính
Chương 2 - Thực trạng kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài
chính do Công ty Kiểm toán và Tư vấn Tài chính ACAGroup thực hiện
Chương 3 - Hoàn thiện kiểm toán chu trình hàng tồn kho trong kiểm toán
báo cáo tài chính do Công ty ACAGroup thực hiện
Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu, song do hạn chế về kiến thức cũng như về thời gian
thực tập ngắn nên luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất
Đào Thị Nhung Lớp Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp 2 Khoa Kế toán
mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các anh chị Công ty ACAGroup để
-HTK thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số tài sản lưu động, có vai trò rất
quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, liên quan đến nhiều chỉ tiêu trên báo cáo
tài chính (BCTC) và rất dễ bị xảy ra các sai sót hoặc gian lận lớn;
-Trong kế toán, có nhiều phương pháp định giá HTK và đối với mỗi loại HTK,
DN có thể lựa chọn những phương pháp khác nhau. Tuy nhiên, DN phải đảm bảo tính
nhất quán trong việc sử dụng phương pháp định giá HTK giữa các kỳ.
-Việc xác định giá trị HTK ảnh hưởng trực tiếp tới giá vốn hàng bán và do vậy có
ảnh hưởng trọng yếu tới lợi nhuận thuần trong năm.
Đào Thị Nhung Lớp Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp 4 Khoa Kế toán
-HTK có tính đa dạng bao gồm nhiều loại khác nhau, có công dụng và đặc điểm khác
nhau. Vì vậy, yêu cầu quản lý đối với HTK cũng khác nhau và tạo ra sự phức tạp, khó khăn
cho hoạt động quản lý cũng như cho hoạt động kiểm tra, kiểm soát.
-HTK là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể nhưng lại bao gồm nhiều loại
khác nhau trong những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác nhau. Do vậy, việc xác định
chất lượng, tình trạng và giá trị HTK luôn là công việc khó khăn và phức tạp hơn hầu hết
các tài sản khác.
HTK có vai trò quan trọng không những chỉ đối với hoạt động kinh doanh của DN
mà xét trên phương diện kiểm toán, HTK có vai trò quan trọng đáng kể đến việc trình
bày các khoản mục khác trên BCTC như khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền,
các khoản phải trả, thuế giá trị gia tăng đầu vào, giá vốn hàng bán (GVHB), chi phí sản
xuất… Vì vậy, kiểm toán HTK có ý nghĩa quan trọng trong kiểm toán BCTC.
1.1.3. Tổ chức hạch toán hàng tồn kho
Hệ thống chứng từ
Hệ thống chứng từ kế toán về HTK sử dụng trong DN nhằm theo dõi tình hình
nhập, xuất, tồn kho vật tư, công cụ, dụng cụ, sản phẩm, hàng hoá, làm căn cứ kiểm tra
tình hình sử dụng, dự trữ vật tư, công cụ, dụng cụ, sản phẩm, hàng hoá và cung cấp thông
tin cần thiết cho việc quản lý HTK.
Theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính về Chế độ kế toán DN, kế toán HTK thường sử dụng các loại chứng từ sau:
thống này bao gồm các sổ, thẻ kế toán chi tiết, sổ phụ, các sổ nhật ký, sổ cái để theo dõi
HTK kể từ khi mua, đem nhập kho, rồi qua chế biến trở thành thành phẩm và đem đi tiêu
thụ.
Một hệ thống sổ kế toán đơn giản có thể chỉ theo dõi HTK về mặt số lượng. Còn
đối với hệ thống kế toán phức tạp hơn đòi hỏi phải theo dõi HTK cả về mặt giá trị đối
với tất cả các loại HTK; phải có đầy đủ hệ thống sổ chi tiết, sổ tổng hợp và phải thường
xuyên được đối chiếu định kỳ giữa sổ sách chi tiết với tổng hợp cũng như giữa sổ sách
với thực tế kiểm kê.
Thông thường, các doanh nghiệp sử dụng các loại sổ kế toán sau:
- Thẻ kho (sổ kho);
Đào Thị Nhung Lớp Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp 6 Khoa Kế toán
- Sổ chi tiết vật liệu, dụng cụ, sản phẩm, hàng hoá;
- Bảng tổng hợp chi tiết vật liệu, dụng cụ, sản phẩm, hàng hoá;
- Bảng kê nhập, xuất vật tư, sản phẩm, hàng hoá;
- Nhật ký chung;
- Chứng từ ghi sổ;
- Các loại nhật ký chứng từ, bảng kê;
- Nhật ký sổ cái các tài khoản liên quan tới hàng tồn kho;
- Sổ cái các tài khoản liên quan tới hàng tồn kho;
- Bảng phân bổ vật tư;
- Bảng kê tính giá vật tư cuối kỳ;
- …
Các loại sổ kế toán phải được quản lý chặt chẽ, phân công rõ ràng trách nhiệm cho
các cá nhân giữ và ghi sổ.
Trình tự hạch toán hàng tồn kho
Trong hạch toán HTK, DN có thể áp dụng một trong hai phương pháp kế toán
HTK: phương pháp kiểm kê định kỳ hoặc phương pháp kê khai thường xuyên. Việc lựa
chọn phương pháp kế toán HTK áp dụng tại DN phải căn cứ vào đặc điểm, tính chất, số
lượng, chủng loại vật tư, hàng hoá và yêu cầu quản lý để có sự vận dụng thích hợp và
155
Đào Thị Nhung Lớp Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp 8 Khoa Kế toán
Sản phẩm hoàn thành
154 Xuất vật tư thuê ngoài gia công nhập kho
157
Vật tư thuê ngoài gia công, 622 Xuất hàng Hàng gửi bán
chế biến xong nhập kho Kết chuyển gửi bán xác định tiêu thụ
155, 156
Hàng gửi bán Xuất
621,623… 133 nhập lại kho bán,
NVL xuất dùng không sử Thuế GTGT 111, 112, 331… trao
dụng hết nhập lại kho (nếu có) đổi...
Giảm giá vật tư mua vào,
222, 223 trả lại vật tư cho người bán,
Thu hồi vốn góp vào công chiết khấu thương mại
ty liên kết, cơ sở kinh doanh 156
đồng kiểm soát 222, 223
Xuất kho đầu tư vào công ty liên kết,
cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát
338 138
Phát hiện thừa khi Phát hiện thiếu khi
kiểm kê chờ xử lý kiểm kê chờ xử lý
155,156
Thu hồi vốn góp vào công ty Xuất kho đầu tư vào công ty liên kết
liên kết, cơ sở kinh doanh cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát
đồng kiểm soát
Sơ đồ 1.2. Kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Kết chuyển giá trị HTK Kết chuyển giá trị sản phẩm
mua hàng, nhận hàng và ghi sổ HTK phải được cách ly trách nhiệm cho các phòng ban
khác nhau.
Việc mua hàng được xuất phát từ nhu cầu thực sự của doanh nghiệp, thể hiện trên
phiếu yêu cầu mua. Phiếu yêu cầu mua này phải được kiểm tra và thông qua bởi cấp có
thẩm quyền về sự hợp lý và tính có thật của nhu cầu mua. Phiếu yêu cầu mua được chuyển
tới phòng thu mua để có căn cứ chuẩn bị lập đơn mua hàng. Đơn mua hàng được lập có
nêu rõ số lượng, chủng loại, quy cách sản phẩm hàng hoá và dịch vụ yêu cầu.
Đào Thị Nhung Lớp Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp 10 Khoa Kế toán
Chức năng nhận hàng
Tất cả các hàng hoá, vật tư mua về đều phải giao cho phòng nhận hàng kiểm tra.
Phòng này phải độc lập với các phòng mua hàng, phòng lưu hàng và phòng vận chuyển.
Phòng nhận hàng có trách nhiệm kiểm tra số lượng, chất lượng, chủng loại, quy cách hàng
mua. Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện ra bất cứ sai khác nào giữa hoá đơn với hàng
thực nhập cần được thông báo bằng văn bản.
Chức năng lưu kho
Vật tư, hàng hoá sau khi được kiểm tra về chất lượng, số lượng sẽ được nhập kho.
Mỗi khi nhập kho, thủ kho phải lập Phiếu nhập kho và sau đó, bộ phận kho phải thông
báo cho Phòng Kế toán về số lượng hàng nhận và cho nhập kho.
Chức năng xuất vật tư, hàng hoá
Việc xuất hàng trong kho được căn cứ vào Phiếu yêu cầu sử dụng vật tư, hàng hoá
đã được phê duyệt từ các bộ phận sử dụng. Phiếu yêu cầu này thường được lập làm 3 liên
do các bộ phận yêu cầu sử dụng vật tư, bộ phận kho và Phòng Kế toán giữ. Để nhằm hạn
chế việc viết phiếu yêu cầu sử dụng vật tư, hàng hoá cho mục đích không rõ ràng, một số
đơn vị thiết kế các chính sách kiểm soát bằng việc yêu cầu tất cả các phiếu yêu cầu phải
được lập dựa trên một đơn đặt hàng sản xuất, hoặc đơn đặt hàng của khách hàng.
Sau khi phiếu yêu cầu sử dụng vật tư, hàng hoá được chấp nhận, thủ kho tiến hành
cho xuất hàng và lập phiếu xuất kho.
Chức năng sản xuất
Việc sản xuất cần phải được kiểm soát chặt chẽ bằng kế hoạch và lịch trình sản
Mục tiêu đối với nghiệp vụ HTK Mục tiêu đối với số dư HTK
Sự hiện
hữu (phát
sinh)
- Các nghiệp vụ mua hàng đã ghi sổ
thể hiện số hàng hoá được mua trong
kỳ.
- Các nghiệp vụ kết chuyển hàng đã
ghi sổ đại diện cho số HTK được
chuyển từ nơi này sang nơi khác hoặc
từ loại này sang loại khác.
- Toàn bộ HTK phản ánh trên
bảng cân đối kế toán là thực sự
tồn tại.
- Toàn bộ HTK là các mặt hàng
dự trữ cho một kỳ kinh doanh
bình thường.
Đào Thị Nhung Lớp Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp 12 Khoa Kế toán
- Các nghiệp vụ kết chuyển hàng hoá
đã ghi sổ đại diện cho số HTK đã xuất
bán trong kỳ.
Tính trọn
vẹn (đầy
đủ)
Tất cả các nghiệp vụ mua, kết chuyển
và thiêu thụ HTK xảy ra trong kỳ đều
đã được phản ánh trên sổ sách, báo cáo
kế toán.
Khoản mục HTK bao gồm toàn
trên hệ thống báo cáo tài chính.
HTK được phản ánh đúng theo
các khoản mục chính của tài sản
lưu động và cơ sở định giá được
trình bày một cách thích hợp.
1.2. Quy trình kiểm toán chu trình hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính
Quy trình kiểm toán chu trình HTK trong kiểm toán BCTC cũng giống như quy
trình kiểm toán các chu trình, phần hành khác đều có 3 giai đoạn: lập kế hoạch kiểm
toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán.
1.2.1. Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Bước 1: Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Quy trình kiểm toán bắt đầu khi KTV thực hiện các công việc để chuẩn bị lập kế
hoạch kiểm toán báo gồm: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán và ký kết hợp đồng
kiểm toán với khách hàng.
Đào Thị Nhung Lớp Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp 13 Khoa Kế toán
- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán: Để đưa ra quyết định chấp nhận kiểm
toán thì KTV phải xem xét tính liêm chính của ban quản trị DN khách hàng, tính độc lập
và khả năng phục vụ tốt khách hàng.
Tính liêm chính của ban quản trị là bộ phận cấu thành then chốt của môi trường
kiểm soát, đây là nền tảng cho tất cả các bộ phận khác của HTKSNB. Vì vậy, tính liêm
chính của ban quản trị rất quan trọng đối với quy trình kiểm toán bởi Ban quản trị có thể
phản ánh sai các nghiệp vụ về HTK hoặc dấu diếm các thông tin liên quan tới HTK dẫn
tới các sai sót trọng yếu trên BCTC. Hơn nữa, nếu Ban quản trị thiếu liêm chính, KTV
không thể dựa vào bất kì bản giải trình nào của Ban quản trị cũng như không thể dựa vào
các sổ sách kế toán. Điều đó có thể dẫn đến kết luận của KTV rằng cuộc kiểm toán
không thể thực hiện được.
Khi đánh giá có chấp nhận khách hàng hay không, công ty kiểm toán cũng cần
xác định khả năng có thể kiểm toán của khách hàng cũng như khả năng phục vụ khách
hàng tốt hay không.
- Tỷ lệ vòng quay HTK:
Tỷ lệ vòng quay HTK =
Tổng giá vốn hàng bán
Bình quân hàng tồn kho
- Thời gian một vòng luân chuyển HTK:
Thời gian một vòng luân
chuyển HTK
=
365
Tỷ lệ vòng quay HTK
- Tỷ lệ lãi gộp:
Tỷ lệ lãi gộp =
Tổng lãi gộp
Tổng doanh thu
Bước 4: Đánh giá trọng yếu và rủi ro
Trong bước công việc này, KTV dựa vào mức độ trọng yếu của toàn bộ BCTC để
xác định mức trọng yếu cho khoản mục HTK. Mức ước lượng ban đầu này về tính trọng
yếu sẽ là căn cứ giúp KTV lập kế hoạch thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp.
Trên cơ sở mức trọng yếu được xác định, KTV đánh giá khả năng xảy ra sai sót
trọng yếu với khoản mục HTK để phục vụ cho việc thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây
Đào Thị Nhung Lớp Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp 15 Khoa Kế toán
dựng chương trình kiểm toán cho chu trình HTK. Để đánh giá rủi ro kiểm toán đối với
chu trình HTK, KTV tiến hành đánh giá ba loại rủi ro: rủi ro cố hữu, rủi ro kiểm soát và
rủi ro phát hiện.
Với rủi ro tiềm tàng (hay rủi ro cố hữu): loại rủi ro này thường xảy ra nhiều đối
với cơ sở dẫn liệu về sự hiện hữu hoặc phát sinh và đo lường, tính giá do Bản quản trị
DN thường có xu hướng trình bày giá trị HTK cao hơn so với thực tế bằng cách ghi tăng
số lượng hoặc khai tăng đơn giá. Vì thiếu bằng chứng độc lập từ bên thứ ba, nên thông
thường việc khai tăng HTK dễ thực hiện hơn so với tài sản khác như tiền hay các khoản
- Thủ kho có được đào tạo nghiệp vụ không?
- Các phiếu nhập, xuất kho có được ghi sổ kịp thời không?
- Phương pháp xác định giá trị HTK có nhất quán không?
- Có thực hiện việc tính giá thành sản phẩm tồn kho không?
- …
Ngoài ra, KTV có thể sử dụng kết hợp với Bảng tường thuật hoặc Lưu đồ để có
hiểu biết tốt hơn về HTKSNB của khách hàng.
Bước 6: Thiết kế chương trình kiểm toán
Công việc cuối cùng trong giai đoạn lập kế hoạch là thiết kế chương trình kiểm
toán. Trong chương trình kiểm toán, KTV đưa ra những dự kiến chi tiết về các thủ tục
kiểm toán cần thực hiện đối với chu trình HTK, thời gian hoàn thành và sự phân công lao
động giữa các KTV cũng như dự kiến về những tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng
và thu thập.
Khi thiết kế chương trình kiểm toán, KTV căn cứ vào đánh giá về HTKSNB đối
với HTK của khách hàng để thiết kế các trắc nghiệm kiểm toán. Thông thường, chương
trình kiểm toán HTK được thiết kế thành ba phần: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm
phân tích và trắc nghiệm trực tiếp số dư. Các trắc nghiệm này được cụ thể hoá trong giai
đoạn thực hiện kiểm toán.
1.2.2. Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Bước 1: Thực hiện thử nghiệm kiểm soát
Đào Thị Nhung Lớp Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp 17 Khoa Kế toán
Các thử nghiệm hướng vào tính hiệu lực của HTKSNB nhằm giúp KTV đánh giá
tính hiệu lực đó và khẳng định mức rủi ro kiểm soát ban đầu mà họ đưa ra đối với các cơ
sở dẫn liệu về HTK. Các thử nghiệm kiểm soát thực hiện thường hướng vào các chức
năng chính gồm nghiệp vụ mua hàng, vật tư; nghiệp vụ nhập, xuất vật tư, hàng hoá;
nghiệp vụ sản xuất; và nghiệp vụ lưu kho vật tư, hàng hoá.
Với nghiệp vụ mua hàng: KTV xem xét việc xử lý, phê chuẩn các đơn đặt hàng,
thủ tục nhập hàng và kiểm tra chất lượng, sự phân công trách nhiệm và tính độc lập của
nhân viên thu mua với nhân viên kho và kế toán.
- Đánh giá quy trình thực hiện kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang có tuân thủ
đúng nguyên tắc và tính nhất quán giữa các kỳ với nhau không.
- Kiểm tra việc sử dụng hệ thống tài khoản, việc lập và sử dụng các báo cáo sản
xuất.
Với nghiệp vụ lưu kho hàng hoá, vật tư: Để đánh giá nghiệp vụ lưu kho hàng hoá,
vật tư của khách hàng, KTV có thể thực hiện một số thử nghiệm kiểm soát sau:
- Thực hiện so sánh đối chiếu giữa sổ cái với sổ chi tiết hàng tồn kho, giữa sổ chi
tiết với các chứng từ gốc có liên quan;
- Kiểm tra các phiếu nhập kho, báo cáo giao nhận hàng hoá;
- Quan sát kiểm kê hàng hoá, thực hiện kiểm kê lại và đối chiếu với kết quả của
doanh nghiệp;
- Quan sát và điều tra việc sử dụng kho bãi và nhân viên bảo vệ;
- Điều tra, phỏng vấn về việc cách ly trách nhiệm giữa người ghi sổ sách kế toán
với người quản lý HTK;
- Điều tra, phỏng vấn và so sánh chi phí HTK với chi phí định mức;
- Kiểm tra về việc cập nhật sổ sách, danh mục những vấn đề cần khai báo và kiểm
tra lại tính chính xác, đầy đủ của các khai báo.
Các hoạt động kiểm soát chủ yếu đối với nghiệp vụ lưu kho hàng hoá, vật tư, ý
nghĩa của các hoạt động kiểm soát và các thử nghiệm kiểm soát chủ yếu này được cụ thể
hoá ở phụ lục số 02 - Các hoạt động kiểm soát chủ yếu đối với nghiệp vụ lưu kho và các
thử nghiệm kiểm soát bổ sung.
Đào Thị Nhung Lớp Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp 19 Khoa Kế toán
Bước 2: Thực hiện các thử nghiệm cơ bản
Thực hiện các thủ tục phân tích
Các thủ tục phân tích giúp KTV kiểm tra tính hợp lý chung của các con số từ đó đễ
dàng phát hiện các sai phạm trọng yếu về HTK. Thực hiện thủ tục phân tích phải trải qua
những giai đoạn chủ yếu sau:
- Phát triển một mô hình:
Để phát triển một mô hình, KTV cần thực hiện các công việc sau:
danh mục HTK và đối chiếu chúng với hệ thống sổ tổng hợp và chi tiết HTK. Mục đích
của KTV khi thực hiện thử nghiệm này là nhằm khẳng định sự khớp nhau giữa các thẻ kho
với sổ sách kế toán cũng như với BCTC.
- Tiến hành đối chiếu số liệu của các sổ chi tiết của các tài khoản HTK với số
liệu trên sổ tổng hợp và BCTC;
- Quan sát kiểm kê vật chất HTK:
Đây là một thử nghiệm tốn kém về thời gian và khó thực hiện nhưng hết sức quan
trọng và cần thiết đối với KTV khi kiểm toán chu trình HTK. Khi thực hiện thủ tục kiểm
toán này, KTV cần thu thập các thông tin để đánh giá tính tin cậy của các thủ tục kiểm kê
HTK mà ban quản lý áp dụng, có như vậy KTV mới có thể tin cậy vào kết quả kiểm kê mà
ban quản lý cung cấp cho. Xuất phát từ lý do này, trình từ tiến hành của KTV thông
thường được thực hiện thông qua ba giai đoạn sau:
Thứ nhất, chuẩn bị kiểm kê.
Ở giai đoạn này, KTV cần thực hiện các công việc sau:
+Đánh giá độ tin cậy về trình tự và các thủ tục tiến hành kiểm kê mà nhân viên của
đơn vị sẽ thực hiện.
+Đánh giá tính độc lập của nhân viên tiến hành kiểm kê và khả năng của họ, đặc
biệt là tính độc lập của họ với bộ phận kho và bộ phận kế toán.
+Kiểm tra tính hợp lý của kế hoạch kiểm kê về thời gian, địa điểm, các loại vật tư,
kho bãi được lựa chọn đẻ kiểm kê. Nếu thấy bất hợp lý, KTV có thể đề nghị đơn vị điều
chỉnh lại để phù hợp với kế hoạch kiểm toán của mình.
+Chuẩn bị tài liệu trước cho nhân viên tiến hành kiểm kê và nên đánh số thứ tự, ký
hiệu để có thể quản lý được những tài liệu này.
Đào Thị Nhung Lớp Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp 21 Khoa Kế toán
+Trong một số trường hợp, với những vật tư đặc biệt, KTV cần đến sự trợ giúp của
các chuyên gia bên ngoài để có thể đưa ra kết luận về kiểm kê HTK.
Thứ hai, thực hiện kiểm kê:
Các công việc KTV cần thực hiện trong quá trình thực hiện kiểm kê bao gồm:
+Quan sát trực tiếp công việc thực tế mà nhân viên kiểm kê tién hành và khẳng định
KTV tiến hành đối chiếu số liệu trên BCTC với báo cáo kế toán về sản phẩm dở
dàng cuối kỳ (trong đó có số lượng và giá phí thành phẩm dở dang); xem xét việc tính toán
giá trị sản phẩm dở dang trên báo cáo này, đảm bảo công thức áp dụng cho việc tính toán
là chính xác. Ngoài ra, KTV cần kiểm tra tính chính xác và hợp lý của giá phí áp dụng so
với các chính sách kế toán của công ty khách hàng.
+ Với giá thành sản phẩm:
Giá thành sản phẩm được cấu thành bởi 3 khoản mục chi phí là CP NVLTT, CP
NCTT, CP SXC. Vì vậy, khi kiểm tra chi tiết giá thành sản phẩm, KTV thường hướng tới
kiểm tra từng khoản mục chi phí.
Kiểm tra CP NVLTT: Đối chiếu CP NVLTT với số lượng NVL xuất dùng và giá
xuất. Kiểm tra số lượng NVL xuất dùng, KTV phải căn cứ vào định mức tiêu hao NVL.
Với đơn giá xuất dùng, KTV phải kiểm tra phương pháp tính giá để kiểm tra tính hợp lý
của phương pháp áp dụng, tính nhất quán và tính chính xác của phương pháp đó.
Kiểm tra CP NCTT: KTV có thể so sánh chi phí nhân công thực tế của một đơn vị
sản phẩm với định mức tiêu hao chi phi nhân công cho một đơn vị sản phẩm, so sánh đơn
giá tiền lương thực tế với tiền lương kế hoạch…
Kiểm tra CP SXC: thực hiện công việc này, KTV thường kiểm tra chi phí khấu hao
tài sản cố định thông qua việc kiểm tra nguyên giá tài sản cố định, phương pháp tính và tỉ
lệ khấu hao; kiểm tra các hoá đơn thanh toán và các tài liệu thực tế về chi phí điện,
nước…; kiểm tra phương pháp tính và phân bổ CP SXC cho các đối tượng chịu chi phí
hợp lý…
+ Với giá vốn hàng bán:
Kiểm tra GVHB, KTV thường kiểm tra tính hợp lý trong việc áp dụng tính giá xuất
của HTK; tính nhất quán của việc áp dụng tính giá HTK; tính chính xác trong việc tính giá
Đào Thị Nhung Lớp Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp 23 Khoa Kế toán
vốn của HTK; kiểm tra số lượng HTK xuất đi. Ngoài ra, KTV có thể kiểm tra kết hợp với
chu trình bán hàng và thu tiền.
- Kiểm tra giá trị thuần của HTK: HTK phải được phản ánh theo đúng giá trị
thuần của chúng. Giá của HTK cần được điều chỉnh giảm trong các trường hợp sau:
hướng kiểm tra các chính sách kế toán áp dụng với HTK; phương pháp tính giá HTK; giá
gốc HTK; giá trị dự phòng giảm giá HTK, các điều kiện, nguyên nhân dẫn tới trích lập dự
phòng; việc trình bày giá vốn HTK như GVHB, chi phí dự phòng, giá trị KTK mất mát,
thiếu hụt, chi phí sản xuất vượt quá định mức…
1.2.3. Giai đoạn kết thúc kiểm toán
Sau khi hoàn thành các công việc được giao, các KTV sẽ tổng hợp lại kết quả
kiểm toán làm cơ sở cho phát hành báo cáo kiểm toán. Trong bảng tổng hợp kết quả kiểm
toán, KTV phải nêu ra những phát hiện của mình, bút toán điều chỉnh và những đề xuất
với Ban giám đốc khách hàng trong cuộc họp với khách hàng trước khi kết thúc cuộc
kiểm toán. Sau khi thảo luận với khách hàng về các ý kiến của KTV, chủ nhiệm kiểm
toán sẽ tổng hợp và lập báo cáo kiểm toán và cuối cùng là phát hành báo cáo kiểm toán
chính thức.
Trên đây là cơ sở lý luận về quy trình kiểm toán chu trình HTK trong kiểm toán
BCTC. Trong quá trình áp dụng, dựa trên cơ sở lý luận này, các công ty kiểm toán có thể
thiết lập cho mình một hệ thống kiểm toán đặc thù nhằm đảm bảo chất lượng kiểm toán.
Đào Thị Nhung Lớp Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp 25 Khoa Kế toán
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN HÀNG TỒN KHO TRONG KIỂM
TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ
TƯ VẤN TÀI CHÍNH ACAGROUP THỰC HIỆN
2.1. Tổng quan về Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài chính ACAGroup
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty ACAGroup
Ngày 24 tháng 08 năm 2001, được sự đồng ý của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành
phố Hà Nội theo Giấy phép đăng ký kinh doanh số 0102003347, Công ty Kiểm toán và
Tư vấn Tài chính lần đầu tiên ra đời và đi vào hoạt động. Lĩnh vực Công ty kinh doanh là
kiểm toán, tư vấn tài chính và thuế. Sau đây là vài nét chính về Công ty TNHH Kiểm
toán và Tư vấn Tài chính (ACAGroup):
- Tên giao dịch đầy đủ và hợp pháp của Công ty: Công tyTNHH Kiểm
toán và Tư vấn Tài chính.