A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Có thể nói, thế kỉ XX đã đi vào lịch sử nhân loại với những dấu ấn
sâu sắc, một trong những dấu ấn cho đến ngày nay khi nhân loại bước sang
thế kỉ XXI vẫn còn để lại những đánh giá nhìn nhận, đó là sự sụp đổ của Liên
Xô và Đông Âu. Thực tế sau hơn 70 năm tồn tại với nhiều thành tựu vĩ đại,
CNXH ở Đông Âu và Liên Xô bước vào giai đoạn khủng hoảng toàn diện dẫn
tới sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở khu vực này.Liên bang Xô Viết tan rã
ngày 26.12.1991, 15 nước công hòa Liên bang trước đây đã thành lập những
nước độc lập, có chủ quyền, 11 nước đã liên kết với nhau trong cộng đồng các
quốc gia độc lập (SNG). Đây là hậu quả của khủng hoảng kinh tế, chính trị,
xã hội đã kéo dài từ nhiều thập kỉ nay. Một khúc quanh kịch tính nhất, đau
đớn nhất từ sau Cách mạng Tháng Mười đến nay. Tại sao? Có thể nói, người
ta sẽ còn bàn luận nhiều về sự sụp đổ của Liên xô như một bài học đắc giá
không quên. Nhiều nhà khoa học, chính trị Châu Âu đã cho rằng sự thất bại
hoàn toàn của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới là không thể tránh khỏi,
vì nguyên nhân của sự sụp đổ này nằm trong bản chất của chủ nghĩa xã hội.
Mà về bản chất, chủ nghĩa xã hội không thể đổi mới được.
Nhưng thực tế cho thấy, nhìn phạm vi toàn thế giới, nhận xét trên
không có căn cứ xác đáng bởi ở những nước lựa chọn con đường XHCN như
Trung Quốc, Việt Nam, sau quá trình đổi mới các nước này không những đã
thoát khỏi khủng hoảng mà chế độ XHCN còn được củng cố. Kinh tế - chính
trị ổn định, có bước tiến rõ rệt. Đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Rõ
ràng, không thể nhận định rằng chủ nghĩa xã hội là vô vọng, không thể đổi
mới được như nhiều nhà nghiên cứu Phương Tây khẳng định.
Vậy ở đây có vấn đề: Cái gì chi phối thành công hay thất bại của chế độ
chủ nghĩa trong điều kiện của cuộc khủng hoảng chung của chủ nghĩa xã hội
1
vào những năm 80 ? Theo dõi diễn biến các sự kiện xảy ra tại các nước
XHCN ở Châu Á lẫn châu Âu trong những năm 80 cho thấy, để thoát khỏi
khủng hoảng, trì trệ, hội nhập với thế giới, hầu hết tất cả các nước này đều bắt
đề “công cuộc cải tổ ở Liên Xô (1985 - 1991)” làm đề tài luận văn.
2. Lịch sử vấn đề.
Những biến động kinh tế, chính trị, xã hội của công cuộc cải tổ ở Liên
Xô năm 80, 90 đã có trên 20 năm lắng đọng. Nhưng cho đến ngày nay, vẫn có
nhiều ý kiến tranh luận xung quanh công cuộc cải tổ ở Liên Xô (1985 - 1991).
Đã có nhiều tác giả đề cập tới biến động ở Liên Xô trong thời gian chúng ta
quan tâm, ở từng mặt, từng khía cạnh, từng giai đoạn riêng biệt trong đó tiêu
biểu có một số công trình, bài viết của các học giả:
*Các học giả Nga:
Nhiều tác giả đã từng là nhân chứng sống của cuộc cải tổ. Họ hồi tưởng
lại và viết thành sách. Những tác phẩm này là nguồn ta liệu chân thực về công
cuộc cải tổ.
1. V. I Bôdin, Sự sụp đổ của thần tượng – những nét chấm phá chân
dung M.X.Goocbachốp, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội - 2002. Tác giả là
người thân cận của Goocbachốp nên ông được chứng kiến trực tiếp nhưng sự
kiện diễn ra ở thời điểm đó. Cuốn sách là những suy nghĩ của ông về
Goocbachốp. Lúc đầu ông có ấn tượng rất tốt về Goocbachốp nhưng dần dần
“thần tượng” đó đã bị sụp đổ.
2. V.A Métvêđép - Ê kíp Goocbachốp nhìn từ bên trong. NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 1996. Metvêđép là một nhân vật chủ chốt trong ê kíp
Goocbachốp thời kỳ những năm cải tổ. Thông qua các cuộc tranh luận
trong giới thân cận Goocbachốp qua các cuộc luận chiến với các lực lượng
chính trị khác nhau, tác giả đánh giá, xem xét, lý giải những mốc chính
trong thời kỳ cải tổ.
3
3. Vichto Aphanaxiep - Quyền lực thứ tư và bốn đời tổng thống. NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995. Trong cuốn sách tác giả dành một phần viết
về “Goocbachốp và công cuộc cải tổ”. Tác giả trình bày quan điểm của mình
về công cuộc cải tổ, về con người, phẩm chất của Goocbachốp.
4. Rưscốp Nhicôlai Ivanôvich, Cải tổ: Lịch sử của những sự phản bội.
cải tổ…
*Các học giả phương Tây:
1. Suman Son có "Những ông chủ Kremlin, quyền lực và số phận" Hà
Nội, 2003.trong đó có giành một phần viết về Goocbachốp với cái nhìn mới
mẻ về con người này.
2. Các nhà khoa học Phương Tây với công cuộc cải tổ ở các nước
XHCN và Đảng cộng sản Pháp với công cuộc cải tổ ở các nước XHCN là hai
bài tổng thuật được đăng trên tạp chí "Thông tin khoa học xã hội", số 1, số 2 -
1991. Bài thứ nhất chủ yếu phản ánh ý kiến của các nhà khoa học phương Tây
thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau về công cuộc cải tổ ở Liên Xô và các
nước XHCN. Bài thứ hai phản ánh thái độ của Đảng cộng sản Pháp với công
cuộc cải tổ, có thể cho những người quan tâm đến công cuộc cải tổ này tìm
hiểu, suy nghĩ, rút ra kinh nghiệm.
3. Geard Duchêne - Một số ý kiến đánh giá đường lối cải tổ ở Liên Xô -
Bản tin tham khảo nội bộ số 20,1990. Tác giả là nhà kinh tế học người Pháp
đã điểm lại trên nhiều khía cạnh tình hình phát triển kinh tế của Liên Xô từ
khi phát động cải tổ, từ đó đưa ra ý kiến đánh giá về nó.
4. A.I. I - dum - mob - Nền kinh tế Liên Xô dưới con mắt phương Tây
đăng trong Bản tin chọn lọc, số 6, 1989. Bài này trình bày tổng quát cách nhìn
nhận về cải tổ kinh tế ở Liên Xô của các nhà Xô Viết Phương Tây. Trong bài
có sử dụng tư liệu được nghe ở Quốc hội Mỹ, các thông tin đánh giá của các
chuyên gia chính phủ, các sách chuyên đề và các bài viết của các nhà nghiên
5
cứu nổi tiếng ở Phương Tây, thông tin của các báo, tạp chí, các tư liệu qua các
cuộc thảo luận của tác giả với các chuyên gia Phương Tây.
*Các học giả Trung Quốc:
1. Đào Lộc Bình - Nói chuyện về công cuộc cải tổ ở Liên Xô, NXB Sự
thật, 1998. Trong cuốn sách này tác giả đề cập đến các vấn đề về cải tổ như
vấn đề khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế, cải tổ nông nghiệp, dân chủ hoá xã
hội, chăm lo đời sống nhân dân. Vì đây là tác phẩm viết vào thời điểm công
là cách mạng, không có con đường nào khác ngoài cải tổ.
2. Năm 1988, Viện kinh tế thế giới có xuất bản thông tin chuyên đề
“Cải tổ ở Liên Xô”. Cuốn sách giới thiệu một số bài viết và trả lời phỏng vấn
của các viện sĩ, viện trưởng về công cuộc cải tổ đang diễn ra.
3. Sóng Tùng - Vì sao chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ ở Đông Âu và
Liên Xô sụp đổ, đăng trên tạp chí Cộng sản số 2, 1990. Bài viết có đề cập đến
sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô trong đó nguyên nhân trực tiếp của nó
là công cuộc cải tổ (1985 - 1991) gây ra.
4. Nguyễn Thị Hoa, Nhìn lại công cuộc cải tổ ở Liên Xô trước đây đăng
trên Tạp chí cộng sản số 114, 2006. Bài viết tổng hợp nguyên nhân thất bại
của cải tổ và rút ra bài học kinh nghiệm từ cải tổ.
5. Quang Lợi, tác giả của bài bút ký “Cải tổ - vùng mắt bão”. Bài viết
được ghi lại từ những cảm nhận của tác giả khi ông trực tiếp sang thăm Liên
Xô vào thời gian cuối của cuộc cải tổ, khi đất nước Liên Xô lâm vào khủng
hoảng. Bài viết cung cấp cho ta số liệu về cuộc khủng hoảng kinh tế ở Liên
Xô.
Nhìn chung các tác giả nghiên cứu công cuộc cải tổ ở nhiều khía cạnh
khác nhau. Các quan điểm trước đây đều nhằm vào chỉ trích Goocbachốp, đổ
hết lỗi cho ông. Ngày nay, sau hơn hai mươi năm nhìn lại, có lẽ cần có một
cái nhìn mới khách quan hơn về tổng thể cuộc cải tổ này. Mặt khác các công
7
trình nghiên cứu chỉ mới chỉ đề cập đến từng hiện tượng khía cạnh nhỏ, chưa
có sự đánh giá tổng quát, do đó chúng tôi mong muốn được đi sâu nghiên cứu
hơn nữa trong luận văn này.
Những công trình tôi đề cập ở trên là nguồn tài liệu quý giá cho tôi
tham khảo để hoàn thành luận văn của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Công cuộc cải tổ ở Liên Xô diễn ra từ năm 1985 đến 1991.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
trình bày và lý giải quá trình cải tổ.
Đồng thời, đề tài được nghiên cứu dựa trên việc sử dụng những phương
pháp sưu tầm, tra cứu,phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp… nhằm làm nổi
bật những sự kiện quan trọng của quá trình cải tổ.
6. Đóng góp của Luận văn.
Qua Luận văn này,tôi muôn góp phần dựng lại những nét chính trong
quá trình hình thành đường lối, diễn biến, kết quả của cuộc cải tổ, giúp người
đọc có cái nhìn tương đối về giai đoạn quan trọng trong lịch sử Liên Xô.
Từ những so sánh, đối chiếu cuộc cải tổ ở Liên Xô và các nước XHCN
khác, giúp chúng ta rút ra những bài học bổ ích, tránh được những sai lầm
đáng tiếc xảy ra trên con đường đổi mới ở nước ta.
Toàn bộ luận văn với những tài liệu thu thập được góp phần làm phong
phú thêm kho tàng tư liệu, phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử thế
giới hiện đại.
7. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
3 chương:
Chương I: Hoàn cảnh lịch sử và đường lối cải tổ.
9
Chương II: Quá trình thực hiện và kết quảcông cuộc cải tổ ở Liên Xô
(1985 - 1991)
Chương III: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm.
10
B. NỘI DUNG
Chương 1: Hoàn cảnh lịch sử và đường lối cải tổ
1.1. Hoàn cảnh lịch sử.
1.1.1. Tình hình trong nước:
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô trở thành cường quốc thứ hai
trên thế giới. Sự lớn mạnh đó là bằng chứng không thể chối cãi cho thấy bản
chất ưu việt của chế độ XHCN (XHCN). Tuy nhiên kể từ đầu những năm
vẫn còn tiêu phí nhiều nguyên liệu, năng lượng, những tài nguyên khác trên
đơn vị sản phẩm hơn rất nhiều so với các nước phát triển khác. Của cải của
nước ta… đã nuông chiều chúng ta, nói một cách thô bạo đã làm hư hỏng
chúng ta” [27; 26].
Kết quả là, nền kinh tế Liên Xô vẫn ở giai đoạn phát triển công nghiệp
trong khi kinh tế các nước phát triển đã chuyển sang giai đoạn khoa học -
công nghệ. Nếu ở các nước phát triển cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật quy
định sự phát triển chung thì ở Liên Xô, đầu những năm 80 mới chỉ có 10% -
15% các xí nghiệp tự động hoá hoặc cơ giới hoá đồng bộ. Chỉ khoảng 10% -
15% công nhân có trình độ chuyên môn cao. Lao động chân tay còn chiếm
70% - 75% trong nông nghiệp. Nguồn dự trữ sức lao động cũng giảm dần. Từ
1960 - 1970 sức lao động bổ sung là 23,2 triệu trong thập niên 70 còn 17,8
triệu và tiếp tục giảm trong những năm 80 [35, 228].
Trong nông nghiệp tình hình lại càng tồi tệ hơn. Hạn hán mất mùa vào
1972 và 1975 buộc phải nhập một khối lượng lớn ngũ cốc từ Bắc Mỹ và các
nước phương Tây. Chăn nuôi chưa bao giờ đáp ứng nhu cầu trong nước. Từ
1970 đến 1987 lượng lương thực và thực phẩm nhập khẩu tăng lên không
ngừng: mỡ động vật tăng 183.2 lần, ngũ cốc tăng 13.8 lần, dầu thực vật 12,8
lần…Năm 1985, nhập khẩu lương thực chiếm 21% tổng giá trị kim ngạch
12
nhập khẩu của Liên Xô.[2; 381]
Cơ cấu kinh tế Liên Xô bị mất cân đối.
Việc tăng quân số và tăng cường chạy đua vũ trang nhằm giành thế cân
bằng với Mỹ làm cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân mang đặc trưng quân sự rõ
rệt. Công nghiệp nhẹ và nông nghiệp luôn là khâu yếu trong toàn bộ nền kinh
tế. Do vậy nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng của
nhân dân không được đáp ứng.
Tỷ lệ giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ mất cân đối vì ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng là nguyên tắc bất biến trong chính sách của Liên
Xô. Theo số liệu thống kê năm 1985 tỷ trọng giá trị sản lượng của công
lao động…
Một minh chứng cho cơ chế quản lý quan liêu mệnh lệnh là sự kiện mà
N.C Baibacốp đã kể lại trong cuốn sách của mình: Trong công cuộc đấu tranh
vì những công nghệ mới ở Liên Xô những năm 80, A.I. But - một kỹ sư làm
việc ở Uỷ ban kỹ thuật nông nghiệp nhà nước- đã phát minh ra phương pháp
"ôdôn hóa". Đó là chiếc máy phun khí ôdôn để diệt trùng, bảo vệ rau quả.
Việc ứng dụng phương pháp này sẽ làm giảm đáng kể những tổn thất trong
quá trình bảo quản. Nhưng ông But không chờ đợi được đến khi phương pháp
này được áp dụng .
Thí dụ thứ hai là trường hợp của tiến sĩ I. A. Hintơ. Ông sáng chế ra máy
nghiền công nghệ cao và được ban giám định quốc gia thừa nhận là có khả
năng ứng dụng với hiệu quả kinh tế cao. Nhưng sáng chế đó không được Liên
Xô áp dụng. Các nước phương Tây đã mua bằng phát minh và mời ông đến
để tổ chức sản xuất. Baibacốp - người trực tiếp chứng kiến điều đó đã chua
xót kết luận: "Trên khắp thế giới các nhà quản lý kinh tế đều chạy theo các
chuyên gia, còn ở nước ta thì các chuyên gia bị sưng chán vì va phải cánh cửa
của những người quản lý kinh tế"[2; 346].
14
Cơ chế đó đã đạt đến giới hạn của nó. Nếu như trong nhiều năm qua, cơ
chế đó bảo đảm được một nhịp độ phát triển vững chắc, thì từ nay, phải trả
với một giá đắt [10; 9].
Đặc điểm sự phát triển của Liên Xô trong những năm 70 đầu những năm
80 cho ta thấy sự suy sụp toàn bộ và nặng nề của nền kinh tế:
+ Thu nhập quốc dân giảm xuống 2,5 lần. Tổng sản phẩm quốc nội tính
theo đầu người chỉ bằng 37% của Mỹ. Sản xuất công nghiệp giảm 2,5 lần,
nông nghiệp giảm 3,5 lần. Từ 1980 đến 1985 Liên Xô không đạt được vị trí
số 1 trên thế giới về sản phẩm tính theo đầu người cao nhất thế giới như tuyên
bố 1961 [70 ; 449].
+ Mức tăng năng suất giảm 2 lần và tiến dần đến số 0. Chi phí điện
năng, nhiên liệu, kim loại cho một đơn vị thu nhập quốc dân cao hơn Mỹ 1,5
Như vậy nền kinh tế Liên Xô có biểu hiện giảm sút nghiêm trọng, nhận
xét về tình trạng đất nước thời kỳ này, Rưscôp viết: "Tình hình đất nước, tôi
xin nhắc lại, đang làm tôi lo sợ, những năm cuối thời kỳ Brêgiơnhép đã để lại
cho chúng tôi một di sản khủng khiếp, chỉ một ví dụ. Năm 1982 mức tăng
trưởng thu nhập thực tế của nhân dân - lần đầu tiên từ sau chiến tranh! đã tụt
xuống số không. Phải dứt khoát không được trùng trình, làm ngay lập tức…
bằng những con đường nào, phương pháp nào đưa nền kinh tế quốc dân tiến
về trước"[67; 51].
Nhu cầu cải tổ nền kinh tế trở nên cấp thiết.
1.1.1.2. Về chính trị - xã hội:
Cùng với bức tranh nền kinh tế Liên Xô đang ở giai đoạn "tiền khủng
hoảng" thì bức tranh chính trị - xã hội cũng xám xịt, không mấy gì sáng sủa.
Trước hết chúng ta thấy thời kỳ này uy tín của Đảng cộng sản bị giảm
sút. Trong Đảng có sự lẫn lộn lãnh đạo giữa quyền lãnh đạo của Đảng với
chính phủ dẫn tới khuynh hướng Đảng trị. Những cán bộ giữ vai trò lãnh đạo
không phải lúc nào cũng từ bỏ được những đặc quyền, đặc lợi.
Sự lãnh đạo của Đảng bị suy yếu, sáng kiến trong cán bộ bị mất đi. Mọi
người đều thấy sự trì trệ trong lãnh đạo. Sự trì trệ này đến một giai đoạn nào
đó sẽ làm suy yếu khả năng làm việc của Bộ chính trị, Ban Bí thư Trung ương
Đảng, thậm chí của cả toàn thể bộ máy Đảng và Nhà nước. Tính kỷ luật tinh
thần trách nhiệm của người Đảng viên đã suy yếu. Cán bộ trong Đảng tìm
cách che giấu điều đó bằng việc thực hiện những biện pháp và những cuộc
vận động phô trương, bằng việc mở ra nhiều cuộc hội hè cả ở trung ương và ở
16
các địa phương.
Nhiều tổ chức Đảng ở địa phương không cương quyết chống các hiện
tượng tiêu cực, lối bao che tuỳ tiện và tình trạng kém kỷ luật. Nhiều nguyên
tắc bình đẳng giữa các Đảng viên bị vi phạm. Nhiều cán bộ giữ chức vụ lãnh
đạo tự đặt mình ra ngoài sự kiểm soát và phê bình của nhân dân. Métvêđép,
người đã từng là uỷ viên Bộ chính trị uỷ ban Trung ương Đảng cộng sản Liên
Sau khi Brêgiơnhép qua đời, Anđrôpốp lên thay. Ông nhận thấy được
thực trạng xã hội đang trì trệ và thấy cần đổi mới: "Công việc của chúng ta
đang chết dí tại chỗ. Người ta đã tranh cãi nhau quá nhiều. Đã đến lúc phải
bắt tay vào giải quyết cụ thể các vấn đề". Anđrôpốp cố gắng đưa ra những
chính sách gần gũi với nhân dân nhưng những biện pháp đó chỉ giúp xã hội
yên ắng một thời gian. Sau đó Anđrôpốp lại có những sai lầm. Ông chú ý đến
chủ nghĩa hình thức. Công việc đổi mới đang dang dở thì ông bị bệnh tật dày
vò. Ông từ trần vào tháng 1/1984. Ông giữ chức vụ tối cao được 15 tháng.
Tiếp nối lãnh đạo Đảng sau đó là Trécnencô. Ông tiếp tục cải cách của
Anđrôpốp: "Ta tiếp tục thúc đẩy bằng cố gắng tập thể sự nghiệp được bắt đầu
dưới sự lãnh đạo của Anđrôpốp. Ông cũng khẳng định một cách dứt khoát:
"Thay đổi cơ chế kinh tế đòi hỏi người ta phải tiến công vào những vấn đề
đáng lẽ ra phải giải quyết từ trước".
Tuy nhiên đến năm 1984, nền kinh tế tăng trưởng chậm lại. "Bệnh tật
đã làm Trécnencô xa rời dần đời sống công cộng trong lúc mà đất nước phải
đương đầu trên lĩnh vực quốc tế cũng như nội trị và hàng ngàn đòi hỏi mới.
Mátxcơva vào lúc bấy giờ dường như sống trong thời kỳ chờ đợi. Những cuộc
họp được thông báo bị hoãn lại, các sáng kiến được dự định cũng tạm đình
lại"[26; 44]. Đất nước một lần nữa lại mất đi người lãnh đạo tối cao.
Trước những biến đổi liên tục những người lãnh đạo tối cao như vậy,
quần chúng cảm thấy chán trường, nghi ngờ Đảng.
18
Trong xã hội, đời sống nhân dân chậm được cải thiện. Các biểu hiện
tiêu cực và tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng. Tính tích cực xã hội của
công dân bị giám sút. Sự thờ ờ tăng lên, tâm lý không thoả mãn, không khí
ngột ngạt trong xã hội lan tràn.
Một ví dụ cho đời sống nhân dân chậm được cải thiện. Đó là sự thiếu
thốn về lương thực hay là sự khan hiếm về hàng hoá được thể hiện trong cuốn
" Êkíp Goocbachốp, nhìn từ bên trong" của Métvêđép:
"Hàng năm người ta phải phấn đấu giành giật lấy mùa màng, song tình
Vào thập kỷ 70, tình trạng khủng hoảng năng lượng trên toàn thế giới
có xu hướng gia tăng. Cuộc khủng hoảng chính thức bùng nổ năm 1973
mang tính toàn cầu. Dầu mỏ và khí đốt trở nên khan hiếm.
Cuộc khủng hoảng năng lượng đặt ra cho nhân loại những vấn đề bức
xúc cần giải quyết: Sự bùng nổ dân số và nguy cơ vơi cạn nguồn tài nguyên
thiên nhiên cung cấp cho sự sống, những hiểm họa ô nhiễm môi trường đe
doạ đến hành tinh cần khắc phục, yêu cầu đổi mới để thích nghi trong nền
kinh tế, chính trị trước sự phát triển vượt bậc của cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật.
Trước những vấn đề cấp thiết đó, các nước TBCN đã tập trung vào phát
triển khoa học kỹ thuật. Nhờ lợi dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật
cùng với những biện pháp thích nghi mới, chủ nghĩa tư bản đã vượt qua
khủng hoảng, phục hồi phát triển.
Cuộc khủng hoảng năng lượng ban đầu không tác động mạnh đến Liên
Xô vì Liên Xô giàu tài nguyên thiên nhiên. Nhưng sau khi các nước tư bản ổn
định được tình hình thì Liên Xô mới chịu tác động mạnh do giá dầu mỏ giảm.
Nó đặt Liên Xô trước thách thức của sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật.
1.1.2. 2. Sự phát triển mạnh mẽ của các nước tư bản đặc biệt là các
20
nước tư bản trẻ đã đặt Liên Xô trước thách thức mới.
Nhờ phương pháp quản lý kinh tế hiệu quả, tập trung vào phát triển
khoa học kỹ thuật nên thực lực của các nước tư bản tăng lên nhanh chóng. Vị
trí của Liên Xô, cường quốc kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới bị đe doạ. Từ sau
chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối thập kỷ 50, tốc độ tăng trưởng của Liên
Xô khoảng 10%. Từ 1946 đến 1950 tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm
của tổng giá trị sản phẩm xã hội là 14,2%. Từ năm 1951 đến 1960 là 10%. Từ
thập kỷ 60 bắt đầu giảm[74; 8,9]. Thu nhập quốc dân của Liên Xô 1966 -
1970 là 7,5%, đến kế hoạch 5 năm (1981 - 1985) giảm chỉ còn 3,5%[81; 9].
Vị trí của Liên Xô với tư cách là cường quốc kinh tế lớn thứ hai bị Nhật
quân tăng hàng năm là 11%. Tổng giá trị sản phẩm công nghiệp bình quân
tăng hàng năm là 12%. Tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp bình quân hàng
năm tăng 8,1%. Tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng bình quân 10%
[74;11,12]. Mức sống của nhân dân Trung Quốc được nâng cao rõ rệt. Thu
nhập và mức tiêu dùng của nhân dân tăng nhanh chóng.
Thể chế kinh tế xơ cứng được đổi mới đầy sức sống, năng động, thích
ứng với yêu cầu xã hội. Nền kinh tế từ chỗ khép kín chuyển sang kinh tế mở
cửa, tích cực lợi dụng trao đổi quốc tế.
Thành quả bước đầu của Trung Quốc là nguồn động lực thúc đẩy Liên
Xô cải tổ, bởi không cải tổ Liên Xô sẽ khủng hoảng và đi đến sụp đổ.
Trong xu thế cải cách của các nước XHCN, một số nước Đông Âu
cũng nhận thấy cần phải cải cách và bắt tay vào cải cách.
Tháng 7 - 1948 đại hội đại biểu lần thứ V liên đoàn những người cộng
sản Nam Tư chỉ ra rằng không thể rập khuôn theo kinh nghiệm của Liên Xô.
Từ thập kỷ 40 đến thập kỷ 50, Nam Tư bắt đầu thực hiện một số cải cách
quan trọng như lập hội đồng công nhân, loại bỏ một số bộ chủ quản Liên bang
và mở rộng quyền cho các xí nghiệp, giao tư liệu sản xuất cho tập thể điều
22
hành. Những năm tiếp theo Nam Tư mở rộng hơn nữa quyền tự chủ kinh
doanh ngoại thương của xí nghiệp, tiến hành cải cách giá cả, thu hút vốn nước
ngoài… khi xuất hiện khủng hoảng kinh tế 1983, Nam Tư đề ra "Chương
trình phát triển ổn định kinh tế…"
Năm 1956, Hungari bước vào cải cách trước hết là cải cách thể chế
quản lý kinh tế điều chỉnh cơ cấu kinh tế quốc dân, kịp thời điều chỉnh quan
hệ tỷ lệ giữa nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng, bỏ phát
triển công nghiệp nặng, đặt phát triển nông nghiệp lên hàng đầu, coi trọng
phát triển công nghiệp nhẹ… Đến 1979, Hungari tiến hành cuộc cải cách tiếp
theo loại bỏ tơrớt, khuyến khích cạch tranh giữa các xí nghiệp phát huy dân
chủ, cải cách thể chế giá cả, khuyến khích phát triển kinh tế cá thể…
Nhìn chung nhiều nước Đông Âu trong cải cách đều chú ý tăng cường
một cách kiên quyết và mạnh mẽ những trở ngại đã hình thành đới với sự phát
triển kinh tế- xã hội, những trật tự lỗi thời trong quản lý kinh tế, những khuôn
sáo giáo điều trong tư duy"[27; 79].
Cải tổ bao gồm nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Vì vậy nhiệm vụ của Liên
Xô là phải tiến hành cải tổ toàn diện trên các mặt như kinh tế, khoa học kỹ
thuật, chính trị- xã hội, đời sống nhân dân, đạo đức, tư tưởng…
Tóm lại, Liên Xô phải tiến hành một cuộc cách mạng nhằm đổi mới mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội.
1.2.2. Đường lối cải tổ:
*Đường lối chung:
Quan niệm về đường lối cải tổ ở Liên Xô xuất phát từ tư tưởng cách
mạng của Lênin. Những người lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã tìm
tới tác phẩm của Lênin và họ coi đây là cái nguồn "không cạn của chủ nghĩa
biện chứng sáng tạo, của sự phong phú về lý luận và của sự sáng suốt về chính
trị" [27; 35].
24
Trong Đảng và trong xã hội, việc trở về với tư tưởng Lênin đã được
nhiều người ủng hộ. Trong báo cáo ngày 22/4/1983 kỷ niệm lần thứ 113 ngày
sinh của Lênin, M. Goocbachốp đã dẫn ra chính luận điểm của Lênin về sự
cần thiết phải tính đến những yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, về
kế hoạch hoá và hạch toán, về việc sử dụng khéo léo quan hệ hàng hoá tiền tệ,
những kích thích vật chất và tinh thần. Điều này đã được sự ủng hộ của dư
luận như Goocbachốp khẳng định rằng: "những suy tư của tôi phù hợp với tâm
trạng của các đồng chí trong Đảng của nhiều người, gần gũi với trái tim của
những người mang những nỗi bất hạnh của chúng ta, đang chân thành muốn
sửa chữa thực trạng này" [27; 35,36].
Tìm hiểu nguồn gốc tư tưởng của sự vận động theo con đường cải tổ
cho thấy Goocbachốp đang bàn luận một cách tích cực những lý luận của
Lênin: "Chúng ta đã và đang học ở Lênin cách tiếp cận lý luận và thực tiễn
xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách sáng tạo, lấy phương pháp luận khoa học