. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Đối với trẻ mầm non vui chơi là hoạt động chủ đạo, là cuộc sống hàng ngày
của trẻ, từ những hoạt động vui chơi ấy giúp trẻ phát triển tâm sinh lí hài hồ cả thể
chất lẫn trí tuệ, trẻ năng động và sáng tạo trong các hoạt động, sau này lớn lên trẻ
sẽ trở thành những con người xã hội chủ nghĩa, phát triển tốt các mặt: Đức, trí, thể,
mĩ, lao động. Để có được những hoạt động vui chơi hữu ích như vậy yêu cầu phải
có những đồ dùng đồ chơi cho trẻ, đồ dùng đồ chơi là một phần quan trọng không
thể thiếu trong các hoạt động vui chơi, đồ dùng đồ chơi được ví như người bạn
đồng hành cùng trẻ, chúng mang lại niềm vui cho trẻ, óc sáng tạo, khởi nguồn cảm
xúc. Từ những bộ đồ dùng đồ chơi đẹp mắt, phong phú, đa dạng giúp trẻ tích cực
trong các hoạt động hàng ngày. Để có được những bộ đồ dùng đồ chơi đạt yêu cầu
tôi cũng như tập thể giáo viên trường Mầm non Ea Na cần có nhiều cố gắng trong
năm học 2016-2017 này.
Tập thể CBGV trường Mầm non Ea Na
Là một Phó Hiệu trưởng phụ trách công tác chuyên môn của nhà trường tôi
luôn trăn trở để tìm ra hướng đi, giải pháp phù hợp với đặc điểm của đơn vị, xứng
đáng là một trường trọng điểm về chất lượng giáo dục, đáp ứng với yêu cầu, tiêu
chuẩn của trường Chuẩn Quốc gia bậc học Mầm non huyện nhà. Và một trong
những yếu tố giúp việc chăm sóc giáo dục trẻ đạt hiệu quả cao đó là giáo viên phải
tạo ra những bộ đồ dùng đồ chơi giúp trẻ tham các hoạt động tích cực hứng thú
hơn, để trẻ vui chơi một cách có ích đó là dùng phương pháp dạy học cho trẻ “Học
mà chơi, chơi mà học ” việc học tập thông qua các trị chơi thì những đồ dùng đồ
chơi là rất cần thiết, giúp trẻ có cảm giác hào hứng, tích cực, thích khám phá tìm
tịi và khơng nhàm chán trong các hoạt động. Ngoài ra đồ dùng, đồ chơi còn giúp
tăng vốn từ ở trẻ, đặc biệt là trẻ nhà trẻ, trẻ 3- 4 tuổi, trẻ thuộc trẻ dân tộc thiểu số.
Với tầm quan trọng như vậy, đồ dùng đồ chơi đã trở thành nhiệm vụ tất yếu không
thể thiếu được trong các trường mầm non, thế nhưng trên thực tế tại trường Mầm
1
tự tạo để thực hiện chương trình Giáo dục mầm non có hiệu quả, ln tạo động lực
thúc đấy giáo viên trong trường thường xuyên làm đồ dùng, đồ chơi giúp ích cho
các hoạt động dạy và học. Khi có những bộ đồ dùng, đồ chơi đẹp mắt, phù hợp sẽ
gây sự chú chú ý của trẻ, tránh được tình trạng chán nản, mệt mỏi trong quá trình
trẻ tham gia các hoạt động cùng cơ. Giải quyết được vấn đề dạy chay, dạy khơng
có đồ dùng trực quan, bắt trẻ cố hình dung ra những thứ có thể trẻ chưa gặp bao
giờ. Ngồi ra trong q trình tạo ra những đồ dùng đồ chơi tự tạo sẽ giúp giáo viên
chia sẻ kinh nghiệm về chuyên môn, về kỹ năng ni dạy trẻ, giáo viên có cơ hội
hiểu nhau hơn, sống gần gũi và có trách nhiệm chung về công tác chủ nhiệm lớp,
không những vậy mà ở đây còn tạo được sự gắn kết giữa cha mẹ học sinh với nhà
trường, bằng cách huy động cha mẹ học sinh gom phế liệu ở gia đình và nộp cho
các cơ, thậm chí một số cha mẹ học sinh nhiệt tình cịn làm cùng giáo viên chủ
nhiệm, qua đây sẽ là cơ hội giữa cha mẹ học sinh và giáo viên trao đổi với nhau về
khâu chăm sóc ni dạy trẻ. Với những bộ đồ dùng đồ chơi tự tạo, giáo viên tiết
kiệm được một khoản tiền, không phải mua đồ dùng sẵn có mà vẫn có được những
bộ đồ dùng, đồ chơi sinh động, bền, đẹp, cuốn hút trẻ.
2
Qua những bộ đồ dùng đồ chơi giáo viên lồng ghép giáo dục trẻ mọi lúc mọi
nơi, nhắc nhở trẻ phải biết bảo quản, đồ dùng, đồ chơi, biết giữ gìn thành quả lao
động của người khác.
Tơi sẽ là người gợi ý cho giáo viên của mình tạo ra những bộ đồ dùng, đồ
chơi khơng những bền, đẹp, an tồn mà cịn thích hợp cho từng hoạt động giảng
dạy, giúp giáo viên sử dụng những đồ dùng đó một cách hiệu quả.
Nhiệm vụ mà đề tài đặt ra nhằm cung cấp một số biện pháp để giáo viên củng
cố kinh nghiệm và thực hiện tốt công tác làm và sử dụng tốt đồ chơi tự tạo tại lớp
mình phụ trách thông qua tất cả các hoạt động theo quy định của trường lớp mầm
non.
Giúp giáo viên tìm ra các giải pháp, biện pháp để tạo được hứng thú, sáng tạo
3
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở chúng ta rằng:
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mượn câu nói trên để chỉ ra tầm quan trọng của
ngành giáo dục, giáo dục là nghề trồng người, muốn có những cây xanh cao lớn
phát triển tốt thì chúng ta nên chọn những hạt giống tốt để ươm mầm, chăm sóc
chúng từ nhỏ, làm những cơng việc như tưới nước, bón phân, nhổ cỏ... Sau này cây
xanh mới phát triển tốt được. Trong giáo dục cũng vậy, muốn đào tạo ra những con
người tồn diện, có tri thức, có lý tưởng, đạo đức, sức khỏe, thẩm mỹ đầu tiên
chúng ta phải xây vững nền móng giáo dục vì “Mẫu giáo tốt mở đầu cho nền giáo
dục tốt ” trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt sau này cháu sẽ
làm người tốt, Ngồi ra, Bác cịn khẳng định rằng “Ngủ thì ai cũng lương thiện,
tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền, dữ đâu phải là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà
nên ”. Đối với trẻ chúng ta phải dạy trẻ biết đồn kết, giàu lịng nhân ái, ham học
hỏi, trẻ sống vui vẻ, hoạt bát chứ không thụ động trong các hoạt động học tập và
vui chơi.
Để việc chăm sóc giáo dục trẻ mang lại kết quả tốt nhất, đó là những bộ đồ
dùng đồ chơi, vì đồ dùng đồ chơi là những nhu cầu tất yếu không thể thiếu được
trong thế giới trẻ thơ, giống như việc “Đi cày cần phải có trâu ”. Vì quan điểm của
việc dạy và học ở trường mầm non thông qua việc “Học mà chơi, chơi mà học ”.
Để mang lại hiệu quả cao cho đề tài nghiên cứu, tôi đã đọc thông qua một số
tài liệu sau:
Qua Modul 29 ta hiểu thêm về hướng dẫn bảo quản, sửa chữa một số thiết bị
đồ dùng giáo dục và dạy học đơn giản.
Modul 30 làm đồ dùng dạy học, đồ chơi tự tạo.
Đầu năm học tôi đã tiến hành kiểm tra vệ sinh, trang trí, nề nếp, sĩ số, tiết học
trên trẻ của 14/ 14 lớp, trong đó tơi chú ý khâu trang trí và dự giờ thao giảng các
lớp. Qua đợt kiểm tra cho thấy hầu hết các lớp có sự đầu tư vào trang trí lớp học,
có chuẩn bị đồ dùng đồ chơi cho các hoạt động dạy và học, nhưng bên cạnh đó sự
chuẩn bị về đồ dùng, đồ chơi cịn hạn chế, chưa có độ bền đẹp và đa dạng, lẽ ra
trong dịp hè các cô tranh thủ thời gian làm đồ dùng, đồ chơi, trang trí các góc và
làm những đồ dùng cần thiết, thì giáo viên bỏ lại ra một khoản tiền khá lớn để mua
đồ dùng cơng nghiệp có sẵn, một số đồ dùng có hình ảnh minh họa q mờ nhạt về
màu sắc, khiến trẻ khó phân biệt màu sắc, hay một số đồ dùng của cơ có kích thước
q nhỏ dẫn đến không cuốn hút được trẻ, không mang lại kết quả cao trong q
trình dạy học, chỉ có năm đến sáu lớp có sự đầu tư về làm đồ dùng đồ chơi nhưng
số lượng đồ chơi còn hạn hẹp, sự sáng tạo chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu
của trẻ.
* Khảo sát chất lượng đầu năm học 2016 – 2017
+ Giáo viên (Phụ lục 1, kèm theo)
Đạt
Chưa đạt
Stt
Tiêu chí
Số giáo
Tỉ lệ
Số giáo
Tỉ lệ
viên
%
viên
%
1
Giáo viên hiểu tầm quan trọng
46%
14/26
54%
+ Học sinh (Phụ lục 2, kèm theo)
Stt
Tiêu chí
1
Đạt
Chưa đạt
Số trẻ
Tỉ lệ %
Số trẻ
Tỉ lệ %
Trẻ đủ đồ dùng đồ chơi
167/ 404
41,3 %
237/ 404
động
Bước đầu sự chỉ đạo công tác hướng dẫn giáo viên làm đồ dùng, đồ chơi tơi
nhận thấy có những mặt như sau:
* Ưu điểm:
Nhà trường luôn được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban
Nhân dân huyện, Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã Ea Na, đặc biệt là sự chỉ đạo sâu
sát, tận tình của lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo trong các hoạt động của nhà
trường.
Hàng năm nhà trường tổ chức từ 1- 2 lần hội thi “Giáo viên Mầm non làm đồ
dùng, đồ chơi tự tạo” để giáo viên có cơ hội học hỏi kinh nghiệm, sau mỗi cuộc thi
sẽ tạo ra một số lượng đồ dùng, đồ chơi cho trẻ.
Cơ sở vật chất tương đối đảm bảo, có đầy đủ phịng học, có sân chơi rộng,
thống mát, an tồn, lớp học an tồn, trong lớp có tủ để đồ dùng đồ chơi, ngồi ra
một số lớp đã có kệ để đồ dùng đồ chơi cho các cháu.
Các lớp được sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường, phân công 2 giáo viên
trên một lớp, sự giúp đỡ của chuyên môn, đồng nghiệp, tạo điều kiện cho giáo viên
tham gia các buổi tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nhà trường tổ chức
hội thi chấm đồ dùng, đồ chơi tự tạo tại trường, tuyển chọn những bộ đồ dùng, đồ
chơi xuất sắc đi huyện.
Đội ngũ giáo viên trẻ khỏe, nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, tận tụy với nghề, các
cơ ln có tinh thần học hỏi, trau dồi kinh nghiệm nên hầu hết chun mơn nghiệp
vụ vững vàng, có tới 84,6% số giáo viên có bằng trên chuẩn trở lên, giáo viên
trong trường ln đồn kết và có tinh thần vượt khó vượt khổ, đặc biệt là các cơ ở
phân hiệu buôn Tơ lơ và buôn Cuah thuộc vùng 3.
Đa số cha mẹ học sinh đã quan tâm đến vấn đề chăm sóc giáo dục con em
mình, thể hiện qua các buổi đón và trả trẻ, ch mẹ học sinh luôn gần gũi với giáo
viên chủ nhiệm để trao đổi chuyện học tập và các hoạt động của con họ khi ở
trường, nhiệt tình với các hoạt động của lớp khi được giáo viên chủ nhiệm cần sự
giúp đỡ, cha mẹ học cũng ý thức được tầm quan trọng của việc cho trẻ từ 3 đến 5
Từ tình hình thực tế trên thấy được những điểm thuận lợi, khó khăn, mặt
mạnh mặt yếu của nhà trường trước khi bản thân tôi áp dụng nghiên cứu đề tài, và
nổi trội hơn hẳn đó là những mặt thuận lợi ví dụ như: Thuận lợi về được sự quan
tâm của nhà trường, của chuyên môn, cha mẹ học sinh nhiệt tình quan tâm lớp, học
sinh chăm ngoan, nguyên vật liệu tạo đồ dùng, đò chơi dễ kiếm. Nhưng giáo viên
chủ nhiệm chưa biết cách phối hợp với phụ huynh tận dụng những vật liệu xung
quanh để tạo ra những đồ dùng đồ chơi tự tạo phù hợp trong công tác giảng dạy,
mà các cô lại đi mua những đồ dùng trên thị trường, số lượng đồ dùng đồ chơi tự
làm cịn rất ít, chưa đủ về số lượng, chưa đạt về chất lượng, chưa phong phú, đa
dạng, các góc trang trí chưa được đẹp, chưa phù hợp, đặc biệt là một số lớp mầm
số lượng đồ dùng đồ chơi cịn ít, trang trí các góc cịn sơ sài.
7
Nói chung, ở thời điểm ban đầu các cơ có chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi cho các
hoạt động trước khi lên lớp, nhưng số lượng đồ chơi cịn ít và sơ sài, hầu hết số đồ
chơi mua sẵn trên thị trường, chưa có độ bền, độ chính xác về màu sắc và kích
thước, chỉ có một số lớp có đồ dùng tự tạo nhưng số lượng cũng hạn chế, chưa có
sự sáng tạo cao, đồ chơi các cơ tạo ra cịn thơ, chưa có sự tinh tế. Với những hạn
chế về tình hình đồ dùng đồ chơi tại trường như vậy, dẫn đến các cháu tiếp thu bài
chưa cao, khơng tích cực, hứng thú trong các hoạt động, vì ở trường Mầm non đồ
dùng đồ chơi là quan trọng, cần phải có đồ dùng để trẻ quan sát và liên tưởng đến
thực tế, thế nhưng đồ dùng trực quan khơng có độ chính xác, khơng đẹp mắt,
khơng đa dạng phong phú, dẫn đến không thu hút sự tập trung của trẻ, một số tiết
thao giảng dự giờ đầu năm chưa đạt kết quả cao, ảnh hưởng đến chất lượng chun
mơn của nhà trường. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, bản thân tôi cần đưa ra
một số biện pháp hướng dẫn giáo viên tạo ra những đồ dùng đồ chơi tự tạo, đa
dạng, phong phú, giúp cho các hoạt động hàng ngày của trẻ tích cực, sinh động
hơn. Để tạo ra được những bộ đồ dùng, đồ chơi đẹp mắt, phù hợp với các hoạt
tiên chúng ta cần làm là lên kế hoạch cụ thể cho các hoạt động đó, khi lên kế hoạch
chúng ta biết mình sẽ phải chuẩn bị những đồ dùng gì, tiến hành các hoạt động ra
làm sao để hôm sau ta tiến hành dạy.
Khi lên kế hoạch chúng ta cần dựa vào các yếu tố sau:
+ Dựa vào tình hình thực tế của địa phương, của lớp học.
+ Dựa vào mạng nội dung, mạng hoạt động của chủ đề lớp đang thực hiện.
+ Chuẩn bị những đồ dùng, đồ chơi phù hợp với nội dung, chủ đề, chủ đề
nhánh mình đang dạy.
+ Dựa vào sự tiếp thu của trẻ.
Ví dụ: Chủ đề: “Trường Mầm non”
Chủ đề nhánh: “Lớp bé yêu thương”
9
Ngày
Hoạt động
Thứ hai
7/9
Thứ ba
8/9
Thứ tư
9/9
Thứ năm
10/9
Thơ: Hương
4. Hoạt
bằng hai tay
Lớp lá
Vẽ cô vận động bài
cốm đến
động có chủ và đi theo
có gì
giáo
hát:
trường
đích
bóng
của bé Cơ và mẹ
LQCC:
2.Tốn:
Nghe Cơ giáo Làm quen
Trẻ ơn số
miền xi
chữ cái
lượng 3, nhận
Trị chơi Tai ai o,ơ.ơ.
biết số 3, ơn
tinh
so sánh chiều
rộng.
5. Hoạt
động góc
Cái bát,
cái thìa
Bạn trai,
bạn gái
Ơn
- Chơi tự do.
- Vệ sinh cá nhân cho trẻ sạch sẽ, gọn gàng.
- Nhắc nhở trẻ trước khi ra về.
9. Vệ sinh,
trả trẻ
10.Nhận xét
- Nhận xét, đánh giá cuối ngày.
đánh giá
Khi lên chương trình cụ thể một tuần thế này ta cần lưu ý, tất cả các hoạt động
của một tuần đều liên quan đến chủ đề, chủ đề nhánh của tuần đó. Như ở trên, chủ
đề nhánh là “Lớp bé u thương ” thì các hoạt động ngồi trời, hoạt động góc đều
liên quan về lớp học, mơn khám phá khoa học với đề tài: “Lớp lá có gì? ”; Mơn:
tạo hình: “Vẽ cơ giáo của bé ” và các trò chơi liên quan đến đồ dùng của lớp học,
nhằm mục đích củng cố lại kiến thức vừa học cho trẻ.
Từ chương trình kế hoạch tuần như trên, ta tiến hành soạn giảng theo từng
ngày cụ thể, Ví dụ như ngày thứ 2 hoạt động ngoài trời gồm những hoạt động nào?
Cần những đồ dùng gì cho hoạt động này? Hoạt động tiết dạy ta dạy mơn gì? Cần
sử dụng những đồ dùng đồ chơi gì? Hoạt động góc, gồm những góc nào? Cần đồ
chơi gì cho phù hợp với từng góc? Sau đó soạn rõ ràng từng phần, chuẩn bị, tiến
quá, xảy ra sự cố trong giảng dạy.
Biện pháp 3: Hướng dẫn giáo viên tuyên truyền, phối hợp với cha mẹ học
sinh tìm kiếm nguyên vật liệu làm đồ dùng đồ chơi:
Muốn có được những bộ đồ dùng đồ chơi đẹp thì u cầu phải có những
ngun vật liệu, tơi ln nhắc nhở giáo viên nên sử dũng những vật liệu có sẵn, dễ
kiếm tại địa phương, là những vật dụng hàng ngày không dùng nữa đã bỏ đi, ta tận
dụng thu gom lại và biến chúng thành những đồ dùng đồ chơi có ích trong các hoạt
động ở trường mầm non như: Lá cây, vỏ ốc, vỏ con chai, vỏ hến, vỏ nắp bia, lon
bia, chai, lọ, lốp xe... Nhưng để việc tìm kiếm dễ dàng, hiệu quả hơn thì chúng ta
nên cần sự trợ giúp của cha mẹ học sinh trong trường. Trong cuộc họp cha mẹ học
sinh đầu năm tôi đã nêu ra kế hoạch tổ chức thi làm đồ dùng chơi giữa các lớp, và
yêu cầu giáo viên phải chuẩn bị đồ dùng đồ chơi khi lên lớp phục vụ cho các hoạt
động của cô và trẻ. Trong cuộc họp tôi đã nêu ra tầm quan trọng của việc làm đồ
dùng đồ chơi tự tạo và tuyên truyền ch mẹ học sinh nên phối hợp với giáo viên chủ
nhiệm lớp.
Từ đó giáo viên nên vận động cha mẹ học sinh đóng góp nguyên vật liệu sẵn
có để giúp giáo viên chủ nhiệm tạo ra những bộ đồ dùng, đồ chơi hữu ích. Và giáo
viên trường tơi đã tun truyền tích cực đến cha mẹ học sinh thơng qua các buổi
sáng đón trẻ, giờ trả trẻ, thơng qua bảng tuyên truyền của lớp, các cô đã khéo léo
gợi ý cho cha mẹ học sinh đóng góp những vật liệu mà các cô cần. Tuy nhiên ở
một số phân hiệu như phân hiệu buôn Tơ lơ, phân hiệu buôn Cuah thuộc vùng III,
việc tuyên truyền, vận động cha mẹ học sinh gặp phải một số khó khăn, nhưng
bằng sự gần gũi, nhiệt tình của giáo viên chủ nhiệm đã vận động được cha mẹ học
sinh thu gom những vật liệu có sẵn tại bn làng, tuy khơng nhiều và phong phú
nhưng cũng đủ số lượng mà giáo viên yêu cầu. Qua đây cho thấy tôi đã hướng cho
12
giáo viên một cách thành công trong công tác tuyên truyền, vận động cha mẹ học
chơi nào để phục vụ cho các hoạt động của trẻ trong tuần tới? Sau đó tôi gợi ý cách
làm từng loại đồ dùng, đồ chơi cho trẻ nhằm phục vụ cho các hoạt động trong ngày
của trẻ.
Ví dụ: Ở đây có rất nhiều thùng bìa carton, miếng xốp màu, que kem, nắp
bia... Từ những vật liệu này chúng ta sẽ tạo ra mơ hình trường mầm non, bìa carton
sẽ cắt và tạo ra thành những lớp học, xốp màu cắt dán thành cây xanh, các bé đi
học, que kem sẽ làm hàng rào tạo khuôn viên trường, và tạo ra xích đu, cầu trượt,
nắp bia làm đường đi. Với mơ hình trường mầm non này các cơ cho trẻ quan sát trị
chuyện vào lúc hoạt động ngoài trời, vào tiết thơ với bài “ Hương cốm đến trường
”.
+ Môn thể dục: Ta dùng sơn màu, trang trang trí lên những lốp xe máy cũ này
13
để tạo thành những vòng thể dục cho trẻ bật qua, lấy chai nhựa numberone dùng
keo 502 dính lại tạo thành đường zic dắc cho trẻ đi qua đường zic dắc, dùng lon bia
tạo thành cổng thể dục cho trẻ chui qua...
+ Môn Âm nhạc: Từ những ống tre phụ huynh lấy từ rừng về, chúng ta sẽ chẻ
ra thành những thanh nhỏ, vót nhẵn, sơn màu cho đẹp tạo ra những phách tre; Vỏ
hộp thạch làm xắc xô; Vợt muỗi hỏng làm đàn, hộp đựng chè làm trống tròn, trống
cơm.
+ Mơn LQV Tốn: Bằng óc sáng tạo, ở mỗi chủ đề khác nhau cơ vẽ ra những
hình ảnh trên xốp tạo thành đồ dùng cho phù hợp với chủ đề để dạy trẻ, như chủ đề
“Thế giới động vật ” đang học đến số lượng 7 thì, cơ vẽ và cắt cho mỗi trẻ con gà,
7 con cá để trẻ có đồ dùng khi luyện tập cá nhân, hay bằng những bìa carton cơ tạo
ra đồ dùng trị chơi vòng quay số, dùng vỏ hến, con ốc cho trẻ đếm và so sánh số
lượng...
+ Môn khám phá Khoa học: Dùng lá cây cắt thành những hình con vật ngộ
14
15
học được sự thống nhất của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chấp hành cơng đồn,
khối trưởng khối mầm, khối chồi, khối lá. Tôi đã lên kế hoạch tổ chức các hội thi,
trong đó có hội thi “ Tổ chức làm đồ dùng đồ chơi tự tạo cho trẻ mầm non” đợt 1
tổ chức thi vào tháng 11; Đợt 2 tổ chức thi vào tháng 3, sau đó tơi triển khai ngay
từ đầu năm học để các đồng chí chuẩn bị. Và vào đầu tháng 11 và tháng 3 tôi lên
kế hoạch cụ thể cho hội thi như: Thời gian tổ chức, địa điểm thi, nội dung, hình
thức, yêu cầu... Tôi để giáo viên lên kế hoạch cụ thể về những bộ đồ dùng đồ chơi
của mình, cho giáo viên nêu ý tưởng thực hiện, tôi xem qua kế hoạch và gợi ý thêm
cho giáo viên, giáo viên khi tham gia hội thi cần thuyết minh về bộ sản phẩm của
mình, như: nguyên vật liệu, chất liệu, cách làm, cách sử dụng, ứng dụng trong hoạt
động nào? Hôm tổ chức cuộc thi có thể cho học sinh, phụ huynh cùng tham gia cổ
vũ, đồng thời trao giải, trao quà, khen thưởng cho những bộ đồ dùng đạt kết quả
cao.
16
c) Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:
Các giải pháp, biện pháp khi thực hiện đề tài có mối quan hệ liên quan mật
thiết với nhau, biện pháp này nó sẽ hỗ trợ cho biện pháp kia nhằm hòa quyện các
nội dung lại với nhau để đi đến một thể thống nhất là tìm ra các giải pháp tối ưu
nhất nhưng vẫn đảm bảo được tính chính xác, khoa hoc và lơ gíc giữa các giải
pháp và biện pháp.
d) Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi
và hiệu quả ứng dụng:
Bản thân tôi thật vui mừng, sau một thời gian dài thực hiện và đã mang lại kết
quả cao: Về giáo viên các cô đã hiểu được tầm quan của đồ dùng đồ chơi trong các
viên
Tỉ lệ
%
Tỉ lệ
%
Số
giáo
viên
Tỉ lệ
%
Số
giá
o
viên
Tỉ lệ
%
1
Giáo viên hiểu
tầm quan trọng
của đồ dùng đồ
chơi tự tạo
Trước khi áp dụng đề tài
T
T
Tiêu
chí
Đạt
Số trẻ
Chưa đạt
Tỉ lệ
%
Số trẻ
Tỉ lệ
%
Sau khi áp dụng đề tài
Đạt
Số trẻ
Tỉ lệ
%
Chưa
đạt
Số Tỉ lệ
trẻ %
3
Trẻ tích
cực
trong các 177/404 43,8% 227/404 56,2% 404/404
hoạt
động
100%
0
%
Sau một thời gian áp dụng đề tài nghiên cứu tôi đã đạt kết quả như mong
muốn, để có được kết quả như trên không những bản thân tôi phải cố gắng, mà bên
cạnh đó cịn nhờ được sự quan tâm giúp đỡ từ phía nhà trường, sự đồn kết, nhiệt
tình, chăm chỉ, sáng tạo của từng cá nhân giáo viên, sự tích cực, hứng thú của học
sinh, và một phần không thể thiếu đó là nhờ sự quan tâm phối hợp nhiệt tình của
cha mẹ họa sinh.
19
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Từ kết quả thực tế trên ra rút ra được kết luận như sau: Đồ dùng, đồ chơi có
vai trị quan trọng đối với trẻ khi trẻ tham gia các hoạt động tại trường Mầm non,
nhờ có những bộ đồ chơi tự tạo trẻ đã tham gia tích cực, sáng tạo giúp trẻ phát triển
tồn diện. Tạo khơng khí vui tươi, sơi nổi trong nhà trường, nhờ vậy hoạt động
Ea Na, ngày 22 tháng 2 năm 2017
Người viết
Trịnh Thị Mến
20
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Điều lệ trường Mầm non
2. Quản lý giáo dục ( Phạm Thị Châu, Trần Thị Sinh )
3. Đường lối, quan điểm giáo dục
4. Các tạp chí Giáo dục Mầm non
5 Tài liệu BDTX chu kỳ 2004 – 2007
5. Thực trạng của đơn vị
6. Luật Giáo dục
7. Bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên Mầm non năm 2011
8. Hướng dẫn thực hiên Chương trình Giáo dục Mầm non mới.
9. Đánh giá chuẩn nghề nghiệp giáo viên.
10. Modul 30 hướng dẫn làm đồ dùng dạy học, đồ chơi tự tạo
11. Modul 29 hướng dẫn bảo quản, sửa chữa một số thiết bị, đồ dùng giáo
dục và dạy học đơn giản.
12. Modul 34 sử dụng bộ chuẩn để phát triển trẻ 5 tuổi.
MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU: ...............................................................................2
1. Lý do chọn đề tài...................................................................................2
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài...............................................................4
3. Đối tượng nghiên cứu............................................................................5
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
Hiệu trưởng
Nguyễn Thị Kim Loan
22
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CÁC CẤP
............................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
23