1
Phát triển kinh tế thế giới: nhìn lại lịch sử
Nguyễn Hoài Bảo
11/11/2004
Bài viết ngắn này cung cấp sơ lược một bức tranh kinh tế thế giới trước và sau công
nguyên với một vài số liệu luợng hoá. Điều quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế cho
thấy rằng, mặc dù có một số nước ban đầu phát triển là do sự đãi ngộ tình cờ của thiên
nhiên. Nhưng thật sự nguyên nhân sâu thẳm bên trong giúp phát triển hoặc kìm hãm kinh
tế của một quốc gia theo thời gian là những tư tưởng, ý thức hệ xã hội, mê tín tập tục …
mà đây là nền tảng để hình thành thể chế của một đất nước. Trong lịch sử, có những thể
chế đón nhận tinh thần khoa học và giúp nó phát triển để từ đó tạo sự phát triển mạnh về
kinh tế. Nhưng có những thể chế thì không
1
.
Các nước hiện nay được xem là đang phát triển, vào năm 0
2
chiếm 87% về dân số và làm
ra 88% GDP của toàn thế giới. Còn lại các nước hiện nay được xếp vào phát triển cao
(hay đã phát triển) có số dân bằng 13% và làm ra 12% GDP. Sự khác biệt về dân số và
thu nhập vào thế kỷ thứ nhất sau công nguyên là không đáng kể. Đến năm 1998, các nước
đang phát triển vẫn chiếm tỷ lệ dân số tương tự như trước đây nhưng chỉ làm ra 47%
. Tuy vậy,
đó vẫn chỉ là những hiểu biết ban đầu về vai trò của thế chế trong phát triển vì đây là một
lĩnh vực vô cùng phức tạp và khó lòng lượng hoá.
Việc nghiên cứu lịch sử phát triển kinh tế của các nước và so sánh với nhau cũng đòi hỏi
phải đo lường thành quả rõ ràng và nhất quán. Chẳng hạn, làm sao để biết Trung Quốc và
Việt Nam vào thế kỷ thứ nhất sau công nguyên quốc gia nào giàu có hơn? Angus
Maddison có thể nói là người duy nhất đã từ hơn 30 năm nay bỏ công khai thác toàn bộ
những công trình tính toán GDP ngược dòng lịch sử. Bài viết này dùng các số liệu từ các
công trình nghiên cứu lịch sử kinh tế của Maddison công bố
4
.
Kinh tế thế giới trước công nguyên
Maddison chỉ tính toán dân số và GDP của nhiều nước trên thế giới từ sau công nguyên
trở lại đây, còn khoảng thời gian trước đó thì không có một tính toán cụ thể nào. Phần lớn
được các nhà khảo cổ hoặc sinh lý học phát hiện những chứng tích rời rạc. Hầu như thời
gian đầu, các bộ tộc phát triển và sinh sôi nảy nở được là nhờ họ sống gần nơi có thiên
nhiên ưu đãi. Đặc biệt là từ khi nông nghiệp phát triển và họ chấm dứt cuộc sống du canh
du cư. Nơi mà nông nghiệp phát triển đầu tiên và khởi đầu nền văn minh nhân loại là
vùng lưỡi liềm màu mỡ hay còn gọi là Lưỡng Hà (Mesopotamia) mà hiện nay là vùng đất
của Iran, Iraq và Syria
5
. Vùng đất này có nhiều giống cây và động vật hoang sơ mà quan
trọng là có thể thuần hoá được làm mầm móng cho nông nghiệp phát triển. Vùng châu Á
cũng được thiên nhiên ưu đãi như vậy và phát triển. Trung Quốc có cội nguồn xuất phát
từ vùng trung lưu của sông Hoàng Hà, phía bắc của Hà Nam ngày nay. Tiểu lục Ấn Độ
cũng cũng có khởi thuỷ cũng dọc theo thung lũng sông Indus. Trong khi đó vùng châu Úc
thì không có cây cỏ hay động vật nào có thể thuần hoá, ngoại trừ một loại hạt gọi là
macadamia mà nó không thể giúp thổ dân vùng này phát triển nông nghiệp. Họ tiếp tục
thời cổ đại nằm gần vùng Lưỡng Hà và lại gần biển nên nhanh chóng trở thành một
trung tâm thương mại của khu vực và phát triển, đời sống người dân Athens rất cao thời
bấy giờ. Athens phát triển nhanh hơn các quốc gia thành phố khác một phần là do thiên
nhiên ưu đãi nhưng một phần khác cũng không kém phần quan trọng và có thể nói là
quyết định là chính sách khôn khéo của họ. Vào khoảng 490 trước công nguyên, Athens
cùng với một quốc gia thành phố hùng mạnh khác là Sparta bắt tay nhau để đánh đuổi
quân xâm lăng Ba Tư. Trong cuộc chiến này Sparta cung cấp lục quân còn Athens cung
cấp thuỷ quân. Khi chiến tranh kết thúc thắng lợi, Sparta giải ngũ quân đội và chịu sự
khủng hoảng kinh tế do giải ngũ này sinh ra. Trong khi đó thì Athens khôn ngoan hơn,
biến hạm đội tàu chiến thành một hạm đội tàu buôn và trở nên một nước buôn bán giàu
mạnh nhất thời bấy giờ. Athens sản xuất và suất khẩu rượu nho, ô liu, hàng thủ công và
nhập lúa mì để nuôi dân. Những đài đền, nhà hát, đấu trường mà dấu vết còn lại ngày nay
đã chứng tỏ sự thịnh vượng của người dân ở đây.
Chính đời sống kinh tế phát triển cao và độc lập (không phải là nô lệ) cho phép người dân
ở đây tự do suy nghĩ và đòi hỏi về dân chủ, quyền tự do cũng như có điều kiện khám phá
những câu hỏi về vũ trụ, triết học, hình thành tư tưởng. Phần đông những nguỵ luận gia là
những người rất thông minh, họ rất thâm thuý, họ bàn cãi về tất cả những vấn đề mà
người đương thời thắc mắc, họ đặt câu hỏi cho tất cả mọi vấn đề, họ không sợ đụng chạm
đến các tôn giáo hoặc các tư tưởng chính trị của các vua chúa, họ mạnh dạng chỉ trích tất
cả các định chế xã hội hoặc lý thuyết chính trị trước công chúng
7
.
Điển hình nhất là Socrates, Plato và đặc biệt là Aristotle. Đây là những triết gia đầu tiên
của nhân loại đặt nền móng cho khoa học cho nhiều ngành khác nhau bằng các phương
pháp qui nạp, quan sát, lý luận và tổng hợp
8
. Sự thịnh vượng đầu tiên này không phải bắt
nguồn từ những tư tưởng của các triết gia vừa kể trên mà là do đấu tranh giai cấp về
10
Will Durant, “The Story of Philosophy”. Bản dịch tiếng Việt 4
Chính vì Athens là một thành phố quốc gia thực hiện nền dân chủ cao độ như vậy và
ngược lại hẵn với Sparta. Sparta là một nhà nước độc đoán. Phần lớn các tù binh ở đây
đều trở thành nông nô và nhiều cuộc khởi nghĩa nông nô lớn đã xảy ra. Từ bảy tuổi, các
công dân của Sparta phải chịu một chế độ luyện tập khắc nghiệt
11
. Sự xung đột về đường
lối chính trị này cùng với những tranh chấp về quyền cai trị các vùng đất khác trong Hy
Lạp là nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến đẫm máu giữa Athens và Sparta trong giai đoạn
431-404 truớc công nguyên.
Giai đoạn trước công nguyên Trung Quốc cũng là một vùng huy hoàng về văn hoá và
kinh tế. Vào khoảng 1766-1122 trước Công nguyên, một số thủ lĩnh đầu tiên của Trung
Quốc xuất hiện. Đó là nhà Thương và sau đó nhà Chu thây thế. Thời này thành tựu nông
nghiệp, thuỷ lợi và công cụ sản xuất đã phát triển. Tại cung phủ của nhà Chu, các quan
điểm cơ bản về một xã hội hoàn hảo được nghiền ngẫm. Khổng Tử lúc bấy giờ là một đại
diện xuất sắc và hình thành một hệ thống các nguyên tắc đạo đức công dân ảnh hưởng
xây rộng đến toàn bộ xã hội Trung Quốc và nhiều nước khác lân cận. Sự thịnh vượng này
tiếp tục được xây dựng thêm khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất một quốc gia rộng lớn mà
cơ bản là Trung Quốc ngày hôm nay. Nhưng các nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử, Lão Tử
cũng chỉ suất hiện vào trước công nguyên. Nghĩa là từ thời đế quốc Tần, Hán … và cho
đến hơn 2 ngàn năm nay Trung Quốc không xuất hiện được những nhà tư tưởng lớn nào
gọi là triết gia.
Giai đoạn 0 – 1000
5
công nhận giáo hội vào năm 313 và đến năm 378 ra luật công nhận vai trò cao hơn của
giám mục ở Rome so với các nơi khác. Đó là dấu hiệu mở đầu cho vai trò của giáo hoàng.
Đến năm 800 giáo hoàng Leo III đăng quang cho vua Charlemagne là cột mốc của sự
toàn quyền của thiên chúa giáo đối với lãnh đạo chính trị. Giáo hoàng truớc đây chỉ là
một giám mục ở Rome giờ đây chính thức coi mình là đứng trên vua chúa và có quyền
cách chức hoàng đế, bổ nhiệm các giáo phẩm và cho rằng mình không thể sai lầm. Sự
toàn quyền này đã tạo ra những giáo hoàng mua bán chức tước và đời sống loạn lạc
13
.
Giáo lý Công giáo cũng xem các sách vở viết về khoa học mà các triết gia ghi lại là ma
quỉ và cần xoá bỏ.
Trong thời kỳ này nhà Hán tiếp tục cai trị Trung Quốc sau khi Tần Thuỷ Hoàng qua đời.
Đế quốc Hán và các đế quốc tiếp theo ở Trung Quốc đều có chung một mô hình. Ban đầu
đều có một chính quyền liêm chính, cai trị có hiệu quả và tiến hành bành trướng lãnh thổ,
nhưng dần dần có sự suy thoái và phân rã. Ở các vùng xa trung tâm, các tướng và các
quan cai trị tăng cường cát cứ, gây dựng quyền lực cá nhân ở địa phương. Nông dân nổi
loạn do gánh nặng thế khoá ngày càng lớn và chế độ trưng binh ngày càng ngặt nghèo.
Về tư tưởng văn hoá, giai đoạn này đạo Phật cũng bắt đầu phổ cập vào Trung Quốc thông
qua con đường thương mại với Ấn Độ. Mặc dù đạo Phật chưa bao giờ thay thế hệ thống
triết học của Khổng Tử nhưng vẫn là một yếu tố quan trọng trong đời sống của người dân.
Quan niệm về sự hưng thịnh của Hoàng đế và quốc gia gắn liền với bản mệnh của Hoàng
đế và nền nếp của Hoàng đế thực hiện các nghi lễ đối với Trời - Đất.
Giai đoạn 1000 – 1500
Cũng như giai đoạn 1000 năm sau công nguyên, 500 tiếp theo tư tưởng khoa học không
thể phát triển và do vậy kinh tế thế giới chỉ phát triển chừng mực do sự thống trị của
Công giáo. Liên tiếp các cuộc thánh chiến chống Hồi giáo xảy ra ở giai đoạn này