Việt nam và nền kinh tế thế giới - Pdf 82

Fulbright Economics Teaching Program Special lecture Vietnam and the world economy
The best or worst of times?
Việt Nam và nền kinh tế thế giới: thời điểm tốt nhất hay tồi tệ nhất?

Thời điểm hiện tại đúng là một thời điểm đầy khó hiểu. Một số người cho rằng sự trì
trệ trong FDI, xuất khẩu và tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm nay là do ảnh
hưởng của "cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu tồi tệ nhất trong gần 40 năm." (Việt Nam
Economic Monitor), xuân 2002, tr. 3] và lập luận rằng chính sách kinh tế cơ bản của
Việt Nam là đúng đắn và sẽ sớm đưa đến kết quả khi tình hình nền kinh tế thế giới cải
thiện.
1
Tuy nhiên Quỹ tiền tệ quốc tế IMF trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới
vào tháng 4/2002 có bài chuyên đề "Có phải đó là cuộc suy thoái toàn cầu không?" và
gọi sự trì trệ kinh tế thế giới này là một trong những sự kiện nhẹ nhàng nhất. Đúng là
có sự sụt giảm 2,5% trong tăng trưởng GDP của các quốc gia giàu từ năm 2000 sang
năm 2001 và tăng trưởng kim ngạch ngoại thương của thế giới giảm từ 13% trong năm
2000 xuống gần bằng 0 trong năm 2001. Tuy nhiên, việc Mỹ có tỉ lệ tăng trưởng 5,6%
trong quý 1 năm 2002 và nền kinh tế Nhật dường như đang sẵn sàng trong tư thế tăng
trưởng có vẻ như ủng hộ cho quan điểm cho rằng nền kinh tế thế giới bò “trì trệ” hơn là
"suy thoái trầm trọng". Nhìn chung có vẻ như năm 2002 sẽ là năm nền kinh tế thế giới
hồi phục với mức tăng trưởng dương, cho dù mức tăng trưởng này không được mạnh
mẽ. Do vậy môi trường bên ngoài sẽ cho phép nhưng không hỗ trợ mạnh mẽ cho một
mô hình tăng trưởng thiên về xuất khẩu.

Có một sự chuyển đổi rõ rệt trong FDI khi FDI đổ vào Trung Quốc tiếp tục phát triển
và lớn mạnh trong khi hầu hết các nước ASEAN đều tụt lại đằng sau. Trong năm 2002,
hầu hết các nước nguyên thủy trong nhóm "ASEAN-5" có khả năng sẽ có mức tăng
trưởng GDP 3-4% trong khi Trung Quốc sẽ có mức tăng trưởng trên 7%. Hơn nữa,
Trung Quốc đã thành công trong việc thu hút thêm 10% FDI trong quý đầu của năm
2002 so với năm 2001, trong khi các quốc gia ASEAN bò tụt lại ở sau.


2
Sự chênh lệch giữa các ước tính từ "bên ngoài" và ước tính
chính thức của Trung Quốc thậm chí còn cao hơn. Dữ liệu cấp tỉnh ở cả hai quốc gia
thậm chí còn kém tin cậy hơn dữ liệu quốc gia. Như vậy, về cơ bản chúng ta không
biết chắc nền kinh tế đang vận hành tốt hay xấu đến mức nào. Và điều này khiến cho
việc phân tích trở nên khó khăn và khiến chúng ta phải dựa nhiều hơn vào các dữ liệu
đáng tin cậy mặc dù những dữ liệu này ít hoàn chỉnh hơn. Đó chính là các số liệu cấp
giấy phép xuất khẩu và FDI. Không may thay, dòng FDI thực chảy vào là không hoàn
hoàn chính xác vì việc báo cáo có thể không chính xác.

Thứ nhì là vấn đề Việt Nam nên so sánh mình với quốc gia nào. Một nhóm người sẽ
cho rằng đó là các quốc gia như Myanmar. Cả hai quốc gia đều đã từng bò cô lập, hiện
đang rất nghèo, và có biên giới tiếp giáp với Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu xét
Myanmar với chính phủ quân sự tham nhũng, các vấn nạn về ma túy và quân ly khai,
và tình trạng hầu như hoàn toàn cô lập khỏi nền thương mại thế giới thì Myanmar hầu
như không có gì giống Việt Nam. Việc so sánh trở nên giống như đem so một thanh
niên chạy đua với một đứa bé 7 tuổi. Những người khác lại đề nghò so sánh Việt Nam
với các nước ASEAN láng giềng có mức thu nhập gần như nhau, như Indonesia và
Philipin. Cũng giống như trên, sự khác biệt giữa các nước cũng rất lớn. Cả Indonesia
và Philipin đều trả qua các cuộc nổi loạn và tình trạng trong nước bất ổn, ảnh hưởng
đến tình trạng lung lay của các viên chức chính phủ đương nhiệm. Cả hai quốc gia gần
đây đều có một lòch sử tham nhũng trầm trọng chưa khắc phục được. Cả hai đều có hệ
thống giáo dục rộng rãi nhưng không hẳn là có chất lượng cao. Mức tăng trưởng của họ
trong giai đoạn 1999 - 2002 sẽ thấp hơn 4%, ngay cả nếu như không tính đến năm kinh
tế suy thoái 1998. Đây có phải là những quốc gia cạnh tranh đáng gờm mà Việt Nam
nên dùng làm tiêu chuẩn so sánh hay không? Tôi bỏ qua Thái Lan hay Malaysia, bởi
đây là hai quốc gia giàu hơn Việt Nam rất nhiều – giàu hơn gấp 5 lần hoặc cao hơn.
Một đề nghò thứ 3 là Trung Quốc. Suy cho cùng, Trung Quốc là một nền kinh tế xã hội
chủ nghóa đònh hướng thò trường, có tỉ lệ dân số biết đọc biết viết tương tự như Việt
Nam. Thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc cách đây khoảng 1 thập niên

nhưng chưa được triển khai; trên 1 tỉ USD hàng năm từ các Việt Kiều; mỗi năm thêm
hàng tỉ USD từ doanh thu dầu hỏa và còn có những tài khoản hàng tỉ USD của ngân
hàng chính phủ gởi ở ngân hàng ở nước ngoài. Nếu như có tiền và có năng lực, vậy tại
sao lại không thể đạt được tăng trưởng nhanh?

Sau tất cả những điều trên, làm cách nào để so sánh Trung Quốc và Việt Nam?

Tôi dùng những ước tính của Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB) cho những dữ liệu
sau:

Tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc và Việt Nam, 1998-
2002 (ADB)
1998
1999 2000 2001 2002 Trung bình
Trung Quốc 6,8% 6,2% 7,3% 6,8% 6,5% 6,7%
Việt Nam 2,9% 3,4% 4,6% 4,3% 3,7-4,7%* 3,9%

*Ước tính của Ngân hàng Thế giới vào tháng Tư cho GDP thực của Việt Nam năm 2002 chỉ bằng 5.2%, như vậy
tăng trưởng GDP bình quân đầu người sẽ chỉ bằng 3,7%, không phải là 4,7% như ước tính của ADB. ADB hiệu
chỉnh các dữ liệu chính thức của cả hai quốc gia. David Dapice 3 Xuân Thành/Thạch Quân

Fulbright Economics Teaching Program Special lecture Vietnam and the world economy
The best or worst of times?
Mức trung bình trong 5 năm của Trung Quốc là 6,7%, so với mức 3,7% - 4% của Việt
Nam. Nếu chúng ta xem xét đến việc Trung Quốc có thu nhập bình quân đầu người
cao gấp đôi thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam, việc mức tăng trưởng tương
đối của Việt Nam chỉ bằng 3/5 mức tăng trưởng của Trung Quốc không hứa hẹn một

sao thành phố HCM và các tỉnh lân cận (và ở một mức độ thấp hơn là Hà Nội – Hải
Phòng) nhận hầu hết dòng FDI? Chú ý rằng dòng FDI này không hề gắn liền với một
đòa điểm cụ thể nào do có khoáng sản, đòa điểm du lòch hay do quyết đònh của chính
phủ. Một phần của câu trả lời có liên quan đến giá cả và chất lượng dòch vụ. Lao động
chỉ là một trong nhiều yếu tố của chi phí, và thông thường không phải là yếu tố quan
trọng nhất. Những hạng mục khác như chi phí hải cảng và vận chuyển, cước phí điện
thoại, chất lượng và chi phí Internet, hay mức độ quan liêu hành chính thấp hơn cũng
David Dapice 4 Xuân Thành/Thạch Quân

Fulbright Economics Teaching Program Special lecture Vietnam and the world economy
The best or worst of times?
có vai trò rất quan trọng. Một yếu tố liên quan chặt chẽ khác là các khu trung tâm
(clusters) hoạt động. Việc tập trung những hoạt động cụ thể vào một hay một vài nơi,
thay vì nhiều nơi, là hợp lý và nên thực hiện. Bằng cách này sẽ có nhiều chuyên viên
hơn, phụ tùng nhiều hơn, kho chứa hàng lớn hơn, các dòch vụ chuyên môn như sửa
chữa, thiết kế và tiếp thò, v.v. Những trung tâm này tạo ra và đòi hỏi có những công ty
cung cấp quy mô nhỏ hơn có thể giao nguyên liệu nhanh hơn với chất lượng thích hợp
và chi phí thấp. Trung Quốc đã phát triển những trung tâm này, nhưng Việt Nam còn
kém xa. Ví dụ như Trung Quốc đã cố gắng phân phối hạn ngạch quota hàng dệt may
đồng đều giữa tất cả các vùng, ngay cả khi hệ thống tài chính của Trung Quốc vẫn còn
tránh không cho các công ty tư nhân vay, đặc biệt là các khoản tín dụng dài hạn.
Những vùng ở Việt Nam giảm bớt thủ tục hành chính và giải quyết được những một số
vấn đề về việc thành lập các trung tâm hoạt động có khuynh hướng thu hút đầu tư được
nhiều hơn các vùng khác. Nhưng nhìn chung Việt Nam vẫn không hấp dẫn bằng Trung
Quốc mặc dù có nguồn lao động rẻ và chất lượng tốt.

Một điều mà các công ty thành công thực hiện đó là so sánh chuẩn mực các hoạt động
của họ với chuẩn mực của các đối thủ cạnh tranh. Điều này có nghóa là họ đo lường,
đánh giá chất lượng, dòch vụ khách hàng, thời gian giao hàng, v.v. của chính họ so với
các đối thủ cạnh tranh mạnh nhất của họ để xem họ thua kém ở những mặt nào. Điều


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status