Văn hoá đảo Quan Lạn huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh trong lịch sử - Pdf 82

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
─────────────
NGUYỄN THANH THUỶ
VĂN HOÁ ĐẢO QUAN LẠN
HUYỆN VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH
TRONG LỊCH SỬ LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
───────────── NGUYỄN THANH THUỶ
VĂN HOÁ ĐẢO QUAN LẠN
HUYỆN VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH
TRONG LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM


HUYỆN VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH ................................................. 34
3.1 Các tục lệ chủ yếu trong đời sống ................................................... 34
3.1.1. Sinh đẻ ..................................................................................... 34
3.1.2. Cưới xin ................................................................................... 37
3.1.3. Tang ma ................................................................................... 45
3.1.4. Một số lễ tết và lễ hội trong năm ............................................. 48
3.1.5. Những biến đổi ngày nay.......................................................... 54
3.2. Tín ngưỡng- tôn giáo ..................................................................... 56
3.2.1 Tín ngưỡng dân gian ................................................................. 57
3.2.2. Những ảnh hưởng của tam giáo trong đời sống ngư dân Quan
Lạn ....................................................................................................... 69
3.3. Văn học dân gian ........................................................................... 72
3.4. Mối quan hệ và ảnh hưởng giữa văn hoá tinh thần của ngư dân Quan
Lạn với ngư dân và cư dân Quảng Ninh. .................................................. 85
KẾT LUẬN ................................................................................................. 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 91

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa
con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Nếu văn hoá vật chất cung cấp
cho con người mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên
và xã hội thì văn hoá tinh thần lại thực hiện chức năng gắn kết cộng đồng, điều
chỉnh xã hội, định hướng các chuẩn mực làm động lực cho sự phát triển.
Văn hoá Việt Nam là thành quả kết tinh những tinh hoa có phong cách

“chung lưng đấu cật” cần cù làm ăn và phát triển. Hơn nữa được quy định bởi
tính chất ngư nghiệp, quan niệm tâm linh cũng như những tục lệ trong đời
sống văn hoá tinh thần của ngư dân nơi đây có nhiều nét đặc trưng riêng và
tiến bộ đơn giản mà ý nghĩa, đa dạng mà thống nhất. Đặc biệt hơn, những
hoạt động tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội ở Quan Lạn đã và đang trở thành một
trong những tiềm năng quan trọng để phát triển loại hình kinh tế du lịch văn
hoá - lịch sử - sinh thái trên đảo.
Dựa trên nghị quyết hội nghị lần thứ X Ban chấp hành trung ương Đảng
khoá 9 đã xác định “tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng
đạo đức lối sống và đời sống văn hoá lành mạnh trong xã hội ", với mục đích
bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc trong văn hoá của ngư dân đảo Quan
Lạn, được sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của PGS TS. Đàm Thị Uyên, cùng các
thầy cô giáo trong tổ bộ môn lịch sử Việt Nam và Ban chủ nhiệm khoa lịch sử
ĐHSP - ĐHTN, nên em chọn “Văn hoá đảo Quan Lạn huyện Vân Đồn tỉnh
Quảng Ninh trong lịch sử” làm đề tài luận văn. Đề tài góp phần làm rõ một
số nội dung và hình thức biểu hiện, chỉ ra những nét đặc sắc mang tính truyền
thống trong văn hoá của ngư dân đảo Quan Lạn. Qua đó góp phần giáo dục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

3
thế hệ trẻ trên đảo có ý thức trách nhiệm giữ gìn bảo vệ những giá trị văn hoá
truyền thống. Từ việc phát huy bảo tồn các yếu tố văn hoá sẽ thúc đẩy hơn
nữa sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hoá với hai bộ phận là văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần đã
được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau trong các tác phẩm mang tính
lý luận như:
- Cuốn “Nguồn gốc của văn hoá và tôn giáo” của FREUD do Lương Văn
Kế dịch (NXB Đại học Quốc gia năm 2000).
- Cuốn “Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” của tác giả

thị cổ Vân Đồn với một hệ thống các bến thuyền cổ, hoạt động buôn bán và
phương thức buôn bán tại thương cảng xưa.
Bên cạnh đó, các tài liệu chuyên khảo về hoạt động kinh tế và phong tục,
tín ngưỡng tôn giáo của cư dân ở Quảng Ninh nói chung trong cuốn “Địa chí
Quảng Ninh” đề cập đến một số phong tục tiêu biểu như cưới xin, ma chay, lễ
tết trong năm, đặc trưng tín ngưỡng dân gian và tình hình sinh hoạt tôn giáo
của cư dân trên địa bàn tỉnh. Trong đó có đề cập đến một số đặc trưng của cư
dân biển song rất sơ lược.
Hiện nay chưa có tài liệu nào đi sâu nghiên cứu tổng thể văn hoá của cư
dân đảo Quan Lạn dưới sự tác động của hoạt động ngư nghiệp.
Song qua những tài liệu trên, chúng tôi có cái nhìn khái quát về văn hoá
với những nội dung của nó, hình dung được vị trí của Quan Lạn trong thương
cảng Vân Đồn xưa cũng như hoạt động kinh tế thương nghiệp của cư dân nơi
đây, đồng thời cung cấp những tư liệu chính xác, đáng tin cậy gợi mở những
nội dung cụ thể giúp chúng tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Mục đích đề tài: Nghiên cứu văn hoá của cư dân đảo Quan Lạn, đề tài
nhằm hệ thống hoá những phương thức ứng xử với tự nhiên và xã hội của cư
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

5
dân trên đảo Quan Lạn, từ đó góp phần nhận thức rõ hơn về văn hoá ngư dân
ở Quảng Ninh nói chung và Quan Lạn nói riêng.
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là những thành tố trong
văn hoá vật chất và tinh thần như cách thức sinh hoạt, hoạt động kinh tế, một
số tục lệ, tín ngưỡng tôn giáo và văn học dân gian của cư dân đảo Quan Lạn,
huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu: Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất
nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh
thần của con người. Song do khả năng và thời gian có hạn, đề tài luận văn chỉ

Phương pháp điền dã
Phương pháp miêu thuật
Phương pháp hồi cố
Phương pháp văn hoá học
Phương pháp phân tích, so sánh đối chiếu các nguồn tài liệu.
Bên cạnh đó, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu của đề tài trong mối quan
hệ chung với sinh hoạt văn hoá của cộng đồng dân cư tỉnh Quảng Ninh để
thấy nét tương đồng giao thoa và những nét đặc trưng riêng có do hoạt động
ngư nghiệp quy định trong văn hoá truyền thống của ngư dân Quan Lạn.
5. Đóng góp của luận văn
- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống toàn diện về
những đặc trưng trong văn hoá vật chất cũng như văn hoá tinh thần của ngư
dân đảo Quan Lạn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh trong lịch sử chỉ ra và đề
cao những nét đặc thù, những tinh hoa dưới góc độ di sản văn hoá. Từ đó giúp
cơ quan chức năng đánh giá toàn diện có kế hoạch trong công tác bảo tồn và
phát triển những giá trị trong văn hoá truyền thống của ngư dân Quan Lạn.
- Từ nội dung đó, luận văn góp phần vào việc hình thành ý thức tôn trọng
phát huy và xây dựng “một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”
không chỉ cho ngư dân trên đảo nói riêng mà còn cho cả thế hệ trẻ nói chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

7

6. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 94 trang, ngoài phần mở đầu phần kết luận, tài liệu tham
khảo, phụ lục. Nội dung chính chia làm 3 chương:
Chương I: Khái quát về đảo Quan Lạn huyện Vân Đồn tỉnh Quảng
Ninh.
Chương II: Văn hoá vật chất của cư dân đảo Quan Lạn huyện Vân Đồn
tỉnh Quảng Ninh.

giáp vùng biển huyện Tiên Yên và huyện Đầm Hà. Phía tây giáp thị xã Cẩm
Phả, ranh giới là lạch biển Cửa Ông và sông Voi Lớn. Phía đông giáp vùng
biển huyện Cô Tô. Phía nam giáp vịnh Hạ Long và vùng biển Cát Bà thuộc
Hải Phòng.
Huyện Vân Đồn có diện tích đất tự nhiên là 59.676 ha, gồm 600 hòn đảo
lớn nhỏ trong đó có hơn 20 hòn đảo có người ở lớn nhất là đảo Cái Bầu. Đảo
Vân Đồn xưa thuộc huyện Nghiêu Phong cách trung tâm huyện 125 dặm về
phía đông, “ở giữa biển cả đứng sững ở không trung hai ngọn đối nhau, một
dòng nước thông ở giữa, dựng sách gỗ, đặt cửa quan, nhân dân ở dăng hai bên
bờ đời Lý, đời Trần, thuyền buôn các nước phần nhiều đậu ở đây”.[ 12; 11].
Đảo Quan Lạn (đúng là Quang Lạn có nghĩa là quang đãng, sáng đẹp)
ngày nay nằm trong quần đảo Vân Hải thuộc huyện Vân Đồn cách trung tâm
huyện 40 km. Đảo có diện tích là 11 km
2
gồm dân cư của 2 xã Quan Lạn và
Minh Châu cư trú trong 8 xóm (5 xóm chính và 3 xóm lẻ).
Đảo Quan Lạn thuộc vùng vịnh Bái Tử Long, đây là tuyến đảo phía
ngoài cùng của vịnh Bắc Bộ. Đảo Quan Lạn tương đối cách biệt với đất liền,
nằm ở vị trí tiền tiêu đối mặt với biển Đông, trở thành bức bình phong vững
vàng ngăn sóng biển che chắn cho Vân Đồn biến Vân Đồn thành nơi neo đậu
thuận tiện an toàn. Kể từ đại dương đi vào bến đầu tiên của thương cảng Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

9
Đồn là Cái Làng nằm sát dưới chân núi Man thuộc đảo Quan Lạn. Quan Lạn
nằm trên tuyến đường giao thông hàng hải quan trọng nối liền từ Trung Quốc,
Nhât Bản, Thái Lan, Philipin... với Việt Nam, do vậy nó đã từng là trung tâm
thương cảng Vân Đồn sầm uất và thịnh vượng.
Quan Lạn là một dải đất đẹp, trải dài theo hướng Đông Bắc- Tây Nam,
từ chân dãy núi Vân Đồn tới núi Gót, với những dãy núi cao ở phía Đông,

coi là đệ nhất bãi tắm và bãi Sau Làng (hay còn gọi là bãi Đầu Núi) dài 2km.
Những bãi tắm đẹp với cát trắng trải dài còn giữ nguyên được vẻ hoang sơ,
môi trường sinh thái chưa bị ô nhiễm là những địa điểm lý tưởng cho hoạt
động du lịch và nghỉ dưỡng.
Với những tiềm năng trên Quan Lạn có thể trở thành hòn đảo kết hợp
các loại hình kinh tế với du lịch văn hoá - lịch sử, sinh thái với quần thể vịnh
Hạ Long - Bái Tử Long.
1.2. Quan Lạn trong lịch sử
Theo kết quả nghiên cứu khảo cổ học - lịch sử thì đảo Quan Lạn nói trên
và quần đảo Vân Hải nói chung đã có con người cư trú từ rất sớm. Di tích
Hang Soi Nhụ với bộ xương hoá thạch của người Việt cổ cách đây 2.500 năm
đến 3000 năm đã chứng minh điều này.
Dưới sự thống trị của phong kiến phương Bắc, vùng đất Yên Quảng có
nhiều tên gọi khác nhau mà Quan Lạn là một bộ phận của vùng đất này. Dưới
thời Hán, Yên Quảng là huyện Yên Định. Đến thời Lương (552-557) là quận
Ninh Hải, Hoàng Châu. Đời Tuỳ (581-618) gọi là quận Ninh Việt. Đời Đường
(618-907) gọi là quận Ngọc Sơn, Lục Châu.
Bước vào thời kì tự chủ, thời Đinh, Tiền Lê, Yên Quảng được gọi là trấn
Triều Dương. Năm 980, ở đây có đồn Vân trấn giữ vùng biển Đông Bắc của
nhà Lê.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

11
Quan Lạn xưa vào đời nhà Lý được gọi là đảo Cảnh Cước với hai xã
Minh Châu và Quan Lạn. Trong quần đảo Cảnh Cước- Cái Bầu- Vân Hải có
tới 300 hòn đảo, đảo Bản Sen là đảo lớn nhất sau đó đến đảo Quan Lạn. Đảo
Quan Lạn rộng 115 km2 với chiều dài 25 km. Năm Thuận Thiên thứ 4 (1023),
nhà Lý đổi trấn Triều Dương thành châu Vĩnh An. Năm 1149, Lý Anh Tông -
đời vua thứ 6 của vương triều Lý, sau nhiều lần cho người khảo sát vùng biển
Đông Bắc đã quyết định thành lập trang Vân Đồn - thương cảng đầu tiên của

phủ ty khám xét nguời, Sát hải sứ kiểm soát thuyền bè và Đề Bạc ty kiểm soát
sụ buôn bán đi lại ở Vân Đồn. Cùng với chính sách ức thương của nhà Lê sơ,
hoạt động buôn bán ở Quan Lạn không còn nhộn nhịp như trước nữa.
Đến thời nhà Nguyễn, do biển lùi cát bồi không còn phù hợp cho tàu biển
ra vào nữa nên thương cảng được chuyển vào trong nội địa với phố Hiến và
Hội An thì vai trò của Vân Đồn sa sút hẳn.
Đầu thời Tự Đức (1848-1883) Quan Lạn thuộc huyện Nghiêu Phong,
tỉnh Quảng Yên. Đời Duy Tân (1907- 1916) thuộc tổng Vân Hải huyện
Hoành Bồ.
Đến gần cách mạng tháng Tám, Quan Lạn thuộc tổng Vân Hải, châu
Cẩm Phả, tỉnh Quảng Yên, phạm vi của xã xưa kia rất rộng, ngoài Quan Lạn
còn có các đảo Ngọc Vừng, Vạn Cảnh, Phượng Mao, Phượng Hoàng - trong
đó Quan Lạn được coi là trung tâm.
Năm 1948, huyện Cẩm Phả được thành lập tách khỏi thị xã Cẩm Phả,
trực thuộc đặc khu Hòn Gai. Năm 1994 đến nay, huyện Vân Đồn được thành
lập. Quan Lạn là một xã thuộc tuyến đảo của huyện Vân Đồn.
Cư dân đảo Quan Lạn hay còn gọi là Làng Cả hay Cái Làng trước đây
sống tại 5 xóm chính: Đông, Nam, Đoài, Bắc và xóm Ruộng. 1940 một bộ
phận xóm Đoài tách ra lập xóm mới gọi là xóm ngoài (xóm Đầu Mái). Ngoài
ra còn 3 xóm lẻ là Hải Yến, Sơn Hào, Tân Lập.
Hiện nay đảo Quan Lạn có hơn 650 hộ dân cư trú trên diện tích rộng 11
km
2
trong 8 thôn làng. Trong đó người Kinh chiếm 99,5%, người Hoa chiếm
0,5% dân số trên đảo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

13
1.3. Thành phần dân cư, dân tộc
Con người có mặt ở vùng biển Vân Đồn hơn một vạn năm trước. Vào

chung sống. Chủ hộ là đàn ông giữ vai trò gần như độc tôn trong các hoạt
động của gia đình. Bên cạnh những bản sắc văn hoá riêng của dân tộc, trong
quá trình sinh sống người Hoa đã tiếp nhận nhiều nét văn hoá của cư dân
bản địa và hoà nhập vào những sinh hoạt văn hoá cộng động trên đảo Quan
Lạn, hướng về những thế lực tự nhiên che chở và những nguời có công đối
với mảnh đất này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

15

Chương 2
VĂN HOÁ VẬT CHẤT CỦA CƯ DÂN ĐẢO QUAN LẠN
HUYỆN VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH

Thập niên bốn mươi của thế kỉ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày một
khái niệm về văn hoá “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng
ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hoá”. [13; ]. Con người sống trong mối quan hệ chặt
chẽ với tự nhiên. Cách thức ứng xử với môi trường tự nhiên là một thành tố

Chế biến cá khô: người dân thường mổ phanh lưng, đem phơi khô để
dành ăn dần. Cá khô cũng như các loại hải sản khô khác có thể bảo quản dài
ngày, vận chuyển được đi xa phục vụ trao đổi, buôn bán. Gặp nắng to, ngư
dân thường phơi cá ngay trên mui thuyền. Cá tươi được nắng không cần ướp
muối nhiều là một mặt hàng đắt giá.
Mực khô: Các loại mực nang, mực ống muốn chế biến thành các loại
mực khô phải chế biến ngay khi mực còn tươi nguyên. Mực được mổ phanh,
phơi trên mui thuyền. Cứ 5 kg mực tươi chế biến được 1 kg mực khô. Người
dân thường đem mực thị trường bán hoặc cất giữ trong chum, ang để ăn dần
hoặc bán dần cho tới mùa mực năm sau. Mực Quan Lạn được coi là một loại
đặc sản có giá trị, tuy con mực không to nhưng hàm lượng đạm cao, có vị
ngọt không đâu bằng.
Sá sùng khô: Sá sùng bắt về có thể xào ăn tươi, khi đem phơi khô sẽ trở
thành một loại đặc sản. Người dân dùng một đầu đũa vót nhọn xiên từ đầu lộn
ngược lại, rửa sạch ruột, chỉ lấy mình rồi đem phơi khô. Được nắng sá sùng
trắng bóng, hơi ngả vàng. Sá sùng khô có độ đạm cao. Khi ăn, rang khô, xoa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

17
cho bụng sạch cát. Cũng có thể rán giòn trong dầu mỡ. Không phải chỉ ở
Quan Lạn mới có nghề khai thác sá sùng và sử dụng nó trong đời sống song
sá sùng được coi như một sản phẩm đặc hữu của Quan Lạn.
Cà ghim (cầu gai) là một đặc sản có nhiều ở vùng đảo Vân Hải. Người
dân trong quần đảo Vân Hải nói chung và Quan Lạn nói riêng thường chế
biến thành các món ăn như mắn cà ghim và chả cà ghim. Việc chế biến mắm
cà ghim rất công phu. Ngư dân thường dùng hai que cứng cùng xâu vào một
chỗ trên thân cà ghim, tách que về hai phía làm cho hai mảnh vỏ cà ghim rời
ra. Thịt cà ghim cho vào nước ngọt từ 30- 40 phút để ruột cà ghim tách khỏi
thân. Vớt cà ghim sang một chậu nước sạch, dùng que nứa nạo sạch màng
ruột còn bẩn, đồng thời tách riêng từng mảng thân cà ghim, vớt ra rổ để thật

thảo dược.. khai thác từ rừng Quan Lạn. Rượu ngán đặc biệt hơn cả. Rượu
ngán là rượu trắng khi uống pha với tiết con ngán. Ngán sau khi rửa sạch,
chần qua nước sôi. Ruột ngán cho vào cốc nghiền nhuyễn, cho rượu mạnh vào
khuấy nhẹ. Tiết ngán hoà tan với rượu chuyển màu hồng tươi. Rượu ngán
uống khi nóng có mùi thơm rất đặc trưng.
Cây chè và tục uống chè cũng là một thói quen lâu đời của người dân
Quan Lạn. Họ uống chè tươi, chè khô, chè ướp hoa... Đặc biệt ở vùng đất này
nổi tiếng với đặc sản chè làng Vân.
Mặc dù làm nghề chài dưới, song do điều kiện cư trú trên đảo, nên nhà ở
vẫn là hình thức cư trú chủ yếu. Nhà ở của người dân Quan Lạn mang đặc
điểm riêng của vùng miền và quan niệm chung về mái nhà của dân tộc. Để
ứng phó với môi trường vùng biển đảo khắc nghiệt, ngôi nhà được dựng kiên
cố, cao và thoáng mát. Hướng của ngôi nhà nhất thiết phải là hướng nam để
tránh cái nóng từ phía tây, bão từ phía đông, gió lạnh thổi về vào mùa rét, lại
tận dụng được gió mát thổi về từ phía nam vào mùa nóng. Cũng do địa hình
trên đảo, nên hầu hết ngôi nhà ở Quan Lạn đều có được thế phong thuỷ đẹp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

19
“tựa sơn, đạp thuỷ”. Nhà không chia thành nhiều phòng nhỏ riêng biệt. Nhà
bao giờ cũng gắn liền với đời sống tâm linh của mỗi người. Bàn thờ tổ tiên
bao giờ cũng đặt ở nơi trang trọng nhất, chính diện của ngôi nhà. Trước bàn
thờ tổ tiên, người dân thường dành làm nơi tiếp khách. Phổ biến hơn cả là nhà
3 gian đứng (không có chái) và lợp ngói âm dương. Vật liệu xây dựng chủ
yếu là tre, gỗ. Trừ hiên rộng ở mặt nhà, bên trong nhà chia thành hai phần
theo chiều dọc, trước và sau.
Bên cạnh nhà ở trên đất đảo, ngư dân cũng xem con thuyền là phương
tiện cư trú tạm thời trong những ngày đi biển. Con thuyền tuy nhỏ hẹp nhưng
cũng được bố trí chỗ ăn, chỗ ngủ khá ngăn nắp. Khoang ở đuôi thuyền là nơi
đặt bếp để nấu ăn khi đi biển. Tiếp theo là khoang dành cho ăn uống và ngủ.

Đảo Quan Lạn có hơn 4000 dân, sinh sống bằng nhiều nghề khác nhau
như nông nghiệp, nghề vận tải biển, khai thác lâm thuỷ sản. Trong đó có 70 %
dân số làm nghề chài lưới, đánh bắt hải sản.
Nghề đánh bắt cá biển có truyền thống từ lâu đời cách đây hàng vạn
năm kể từ khi con người sinh sống trên đảo nhưng chủ yếu là đánh bắt trong
lộng và ven biển. Tại làng Quan Lạn xưa chỉ có 10 thuyền chuyên đi đánh cá
và các chủ thuyền cũng sử dụng nhân công đi đánh bắt. Quan hệ hợp tác
giữa chủ thuyền với bạn thuyền, giữa bạn thuyền với nhau là những quan hệ
chủ yếu.
Con thuyền là phương tiện đi lại, đánh bắt cá. Nó gắn liền với cuộc sống
nghề nghiệp của mỗi người dân nơi đây. Thuyền không chỉ là thứ tài sản lớn
nhất, là kế sinh nhai mà còn là ngôi nhà thứ hai trên biển của họ. Con thuyền
của Vân Đồn nói chung và Quan Lạn nói riêng là đan bằng tre già ngoài có trát
vôi, hắc ín nhựa cây. Có được thuyền gỗ là một sự thay đổi lớn vì thuyền nan
dễ bục, rất chóng hỏng, không thể đan to. Cư dân Quan Lạn do ngày đêm trực
tiếp với sóng gió biển khơi nên dùng chủ yếu là thuyền cóc đáy bằng, có buồm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

21
cánh dơi để đánh giã lưới. Cánh buồm trước đây đối với bè mảng thuyền nan
chỉ là những tấm phên đan bằng tre hoặc nứa, vừa làm mui che nắng mưa vừa
làm buồm khi gặp gió thuận nước xuôi. Đối với thuyền gỗ do điều kiện kinh tế
quá nghèo, ngư dân phải dùng các bao tải bằng cói, bao tải đay làm buồm.
Người dân Vân Hải đã sáng tạo ra nhiều hình thức khai thác thuỷ sản với
những công cụ và phương tiện đánh bắt riêng, thúc đẩy kinh tế ngư nghiệp
phát triển:
Nghề chắn đăng đặc biệt là đăng mực, người dân lấy tre nuột để ken
đăng, lấy cây làm cọc để cắm đăng. Một thuyền thường có 45 - 50 cuộn đăng
dài 800 - 1000 m hoặc có thể dài hơn, thường đăng vào ban đêm khi nước rút.
Ngư dân đã tổng kết “đăng dài, chài rộng” mới mong được nhiều cá. Nghề

cho vay tiền để mua sá sùng về làm sá sùng khô bán cho người Trung Quốc.
Theo ngư dân nơi đây, vào những năm 1939-1940, một kg sá sùng tươi giá 1
hào 2 xu, cứ 4 kg tươi được 1kg khô, giá 1kg khô từ 7 đến 8 hào. Trừ các
khoản chi phí, còn lãi được 1 hào 2 xu đến 1 hào 5 xu. Như vậy bình quân
mỗi ngày đào được 2kg sá sùng tươi thì một tháng làm việc trung bình 25
ngày sẽ đào được 50 kg tươi, bằng 12 kg khô. Như vậy với 3 đồng vốn bỏ ra,
sau một tháng người chủ lãi được từ 1 đồng đến 1 đồng rưỡi, cao hơn mức
cho vay nặng lãi.
Nghề rậu cá, rậu sam dựa vào các bãi ven đảo khi nước thuỷ chiều rút trên
các bãi cạn ngư dân dùng các loại cây nhỏ dài, dài ngắn tuỳ thuộc từng nơi nước
nông hay sâu nhưng thông thường dài 1m cắm dậu cố định để bắt cá, sam. Mỗi
khi nước rút ngư dân chỉ việc ra bắt cá, bắt sam trong “chuồng”. Ngư dân
phường Gót, phường Tân Phong xã Quan Lạn là hai phường chuyên làm nghề
rậu cá, rậu sam.
Nghề truyền thống lưới rê, chuyên đánh cá mòi. Nghề rê lưới đòi hỏi có
thuyền trọng tải từ 1 tấn trở lên, 3-4 lao động trên một thuyền. Họ dùng 5 - 6
cheo lưới dài 400- 500m/cheo, cao 3-4,5m, cỡ mắt lưới từng then 2-3cm, có

Trích đoạn Kinh tế thương nghiệp Kinh tế nông nghiệp Kinh tế lâm nghiệp Nghề vận tải biển Một số lễ tết và lễ hội trong năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status