Vận dụng sáng tạo và phát triển quan điểm của hồ chí minh về 'đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân' trong cuộc sống đổi mới hiện nay - Pdf 13



HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2011
TÊN ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN QUAN ĐIỂM
CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ: “ĐEM TÀI DÂN, SỨC DÂN, CỦA DÂN ĐỂ
LÀM LỢI CHO DÂN” TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY.

Mã số:

B11 – 12

Chủ nhiệm đề tài : PGS. TS Phạm Ngọc Anh

ĐT liên hệ:0912 460 192

Cơ quan chủ trì: Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng



2

M U
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân là gốc của nớc, nớc lấy dân làm gốc là một truyền thống
tốt đẹp của các dân tộc phơng Đông nói chung và của Việt Nam nói riêng
đợc Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát triển trong suốt cuộc
đời hoạt động cách mạng của mình. Cùng với sự tổng kết thực tiễn từ bài
học kinh nghiệm của các cuộc cách mạng trên thế giới và cách mạng Việt
Nam, Hồ Chí Minh lại một lần nữa khẳng định một chân lý của mọi thời đại
bằng câu nói: Dễ mời lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu
cũng xong
1
; Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.
2

Lịch sử Việt Nam đã minh chứng cho quan điểm khoa học và toàn
diện về vị trí và vai trò của quần chúng nhân dân của Hồ Chí Minh bằng
những trang sử vẻ vang của những cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc.
Bất kì một học giả nào, một nhà nghiên cứu dù trong nớc hay ngoài
nớc khi nghiên cứu về lịch sử dân tộc Việt Nam đều trăn trở tìm kiếm
những lý giải cho các câu hỏi: Tại sao một dân tộc Việt Nam với thân phận
vong nô, bị thực dân Pháp xoá tên, hai triệu ngời đã chết đói trong đêm
trớc của cách mạng, tởng chừng nh kiệt sức lại có thể giành lại đợc độc
lập, tự do vào năm 1945? Tại sao một dân tộc Việt Nam vừa mới trải qua
đêm trờng nô lệ dới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ với vô vàn
những khó khăn và thách thức vẫn còn đủ sức đứng lên đối mặt với một tên
đế quốc đầu sỏ để khẳng định một chân lý bất hủ không chỉ cho dân tộc
mình mà còn cho cả cộng đồng nhân loại tiến bộ: Không có gì quý hơn độc

2

Dới ánh sáng t tởng Hồ Chí Minh và đờng lối, chính sách đúng
đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới của nớc ta hơn 25
năm qua đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn và đang dần khẳng định những
thành công bớc đầu. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu
kém đòi hỏi Đảng phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện để nâng cao vai
trò lãnh đạo của mình, phát huy cao nhất sức mạnh của quần chúng nhân
dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong toàn bộ tiến trình đổi mới, Đảng ta đã quán triệt quan điểm lấy
dân làm gốc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt

1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 296.
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd., t.5, tr. 65. 4

Nam khẳng định rõ: Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân
dân, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn,
nhạy bén với cái mới. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và
do nhân dân. Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai
trò quan trọng trong việc hình thành đờng lối đổi mới của Đảng. Dựa vào
nhân dân, xuất phát từ thực tiễn và thờng xuyên tổng kết thực tiễn, phát
hiện nhân tố mới, từng bớc tìm ra qui luật phát triển, đó là chìa khoá của
thàng công
1
.

- Dới dạng các chơng trình, đề tài khoa học
Chơng trình khoa học cấp Nhà nớc KX.02 T tởng Hồ Chí Minh
(1991 - 1995), do GS.Đặng Xuân kỳ làm chủ nhiệm, trong các đề tài nhánh
KX.02.01 T tởng Hồ Chí Minh và con đờng cách mạng Việt Nam, do
Đại tớng Võ Nguyên Giáp làm chủ nhiệm; KX.02.04 T tởng Hồ Chí
Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa, do Ths.Vũ Viết Mỹ làm chủ nhiệm;
KX.02.05 Chiến lợc đại đoàn kết Hồ Chí Minh, do PGS.TS.Phùng Hữu
Phú làm chủ nhiệm; KX.02.12 T tởng Hồ Chí Minh về Nhà nớc của
dân, do dân, vì dân, do TS. Nguyễn Đình Lộc làm chủ nhiệm; KX.02.13 T
tởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc, do
PGS.TS.Trịnh Nhu làm chủ nhiệm, khi đề cập đến nội dung t tởng Hồ Chí
Minh về mục tiêu, động lực của cách mạng Việt Nam, Đảng của dân tộc,
Nhà nớc do dân, vì dân đã nghiên cứu một số khía cạnh của quan điểm
này.
Đề tài khoa học cấp Nhà nớc KHXH.05.01 (2000 - 2005) T tởng
Hồ Chí Minh về xây dựng con ngời và phát triển văn hoá, do GS.Đặng
Xuân Kỳ làm chủ nhiệm đã nghiên cứu khá sâu sắc quan niệm của Hồ Chí
Minh về vai trò của con ng
ời Việt Nam với t cách vừa là mục tiêu, vừa là
động lực trong công cuộc giải phóng do Đảng lãnh đạo.
Các đề tài khoa học cấp Bộ: T tởng kinh tế Hồ Chí Minh (2003), T
tởng Hồ Chí Minh về quyền con ngời (2006), Triết lý phát triển Hồ Chí
Minh - Giá trị lý luận và thực tiễn (2008) do TS.Phạm Ngọc Anh làm chủ
nhiệm khi đề cập đến mục tiêu, động lực xây dựng, phát triển kinh tế, đảm
6

bảo các quyền con ngời, thực hiện mô hình phát triển bền vững, trên thực tế
đã nghiên cứu các luận điểm của Hồ Chí Minh có liên quan đến chủ đề
Trong chơng trình khoa học cấp Nhà nớc Nghiên cứu lý luận
chính trị, (2006 - 2010); đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nớc Chủ thuyết

đề cập đến quan niệm Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân, mối quan hệ
giữa Đảng và nhân dân: Trơng Quang Đợc: Tăng cờng mối quan hệ mật
thiết giữa Đảng, Nhà nớc và nhân dân, Tạp chí Cộng sản, số đặc biệt (4+5)
tháng 2 - 2002, tr.14; Trần Quang Nhiếp: Bác Hồ nói về mối quan hệ giữa
Đảng với nhân dân, Tạp chí Cộng sản, số (4 + 5), tháng 2 - 2002, tr.21; Lê
Khả Phiêu: Dân là gốc, dân là chủ, vị trí trung tâm trong tác phẩm: Sửa đổi
lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản số 783 (1/2008),
tr.17
Một số bài viết trên các trang web: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt
Nam; Chungta.com
Tổng hợp tất cả các thành quả nghiên cứu nêu trên, chúng tôi thấy
rằng, cha có bất kỳ công trình nào lấy quan điểm của Hồ Chí Minh về đem
của dân, sức dân, tài dân để làm lợi cho dân và ý nghĩa của nó trong sự
nghiệp đổi mới làm đề tài nghiên cứu độc lập. Vì thế, hớng nghiên cứu mà
chúng tôi lựa chọn là mới cả về nội dung, phơng thức tiếp cận.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ bản
quan điểm của Hồ Chí Minh về đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho
dân, khẳng định những giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc quan điểm đó của
Ngời trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Xác định cơ sở hình thành quan điểm của Hồ Chí Minh về đem của
dân, sức dân, tài dân làm lợi cho dân;
8

+ Làm rõ nội dung cơ bản quan điểm của Hồ Chí Minh về đem của
dân, sức dân, tài dân làm lợi cho dân;
+ Xác định phơng hớng và các giải pháp chủ yếu vận dụng sáng tạo
và phát triển quan điểm của Hồ Chí Minh về đem của dân, sức dân, tài dân
10

Chơng 1.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về đem tài dân, sức
dân, của dân làm lợi cho dân.
1.1. Các khái niệm cơ bản
- Quan nim v nhõn dõn
H Chớ Minh, trong suy ngh v hnh ng, núi v lm, lý lun v
thc tin, im xut phỏt v im n cui cựng l con ngi, nhõn dõn,
ng bo vi tt c nhu cu sinh tn v phỏt trin.
H Chớ Minh quan nim dõn l ng bo, l anh em mt nh. Dõn
khụng phõn bit gi, tr, gỏi, trai, giu, nghốo, quý tin. Dõn l ton dõn,
ton dõn tc Vit Nam, bao gm cỏc dõn tc a s, thiu s cựng sng trờn
mt di t Vit Nam. Nh
vy, trong quan nim ca Ngi, dõn cú biờn
rt rng, va c hiu l mi cỏ nhõn, va l ton th ng bo. Nm vng

hành theo hai cách chủ yếu:
Cách thứ nhất: Người ta chia ra thành nguồn lực vật chất và nguồn
lực tinh thần.
Nhóm nguồn lực vật chất gồm có: Tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên
đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thuỷ điện, tài nguyên n
ước,
tài nguyên khí hậu, vị trí địa kinh tế ) và cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng
(nhà cửa, công trình công cộng, đường sá, hải cảng, sân bay, hệ thống sản
xuất và truyền tải điện, hệ thống cung cấp và thoát nước, hệ thống xử lý chất
thải, hệ thống viễn thông và truyền thông ).
Nhóm nguồn lực con người (gắn với tài nguyên trí thức) và tài nguyên
thông tin. Trí tuệ củ
a con người có giá trị đặc biệt và không thể tự có được
mà con người phải mất công, mất sức mới có. Muốn có trí tuệ, con người
phải có thể lực và trí lực cùng hoàn cảnh thuận lợi. Đối với vấn đề xây dựng
trí tuệ, việc giáo dục quan trọng như thế nào thì việc cải tạo nòi giống cũng
quan trọng không kém. Trong lĩnh vực xây dựng nguồn lực con người,
không thể xem nhẹ
việc bồi dưỡng sức dân và chăm lo cho công tác dân số -
kế hoạch hoá gia đình. Để có được nguồn thông tin chất lượng cao nhằm
cung cấp kịp thời, đầy đủ cho người dân, Nhà nước phải tiến hành xây dựng
hệ thống thông tin thống nhất từ Trung ương tới các địa phương.
Cách thứ hai: căn cứ vào nguồn gốc của các nguồn lực để phân loại.
12

Theo tiêu chí này, người ta chia nguồn lực thành hai nhóm lớn: Nguồn
lực trong nước và nguồn lực ngoài nước. Nguồn lực trong nước bao giờ
cũng giữ vai trò quyết định. Bằng cơ chế, chính sách, người ta tạo ra môi
trường hấp dẫn để thu hút nguồn lực bên ngoài, nhất là thu hút nhân tài.
Thông qua cơ chế, chính sách, Nhà nước và các doanh nghiệp có thể biến

. Người mong giới công - thương
“cùng đem vốn vào làm những công cuộc ích quốc, lợi dân”
2
. Ngoài ra,
Người còn chủ trương thành lập “Quỹ độc lập”, tổ chức “Tuần lễ Vàng” để
huy động được nguồn tài chính trong dân.
Ngày 17/9/1945, ngày đầu của “Tuần lễ Vàng”, Hồ Chí Minh đã gửi
thư cho đồng bào toàn quốc kêu gọi: “…Chúng ta cần củng cố nền độc lập
tự do để chống lại với sự dã tâm xâm lăng của đế quốc Pháp. Muốn củng cố
được nền tự
do độc lập ấy, chúng ta cần sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc
đồng bào; nhưng chúng ta cũng rất cần sức quyên góp của nhân dân, nhất là
những nhà giàu có… Tuần lễ Vàng sẽ tỏ cho toàn quốc đồng bào và cho
toàn thế giới biết rằng trong lúc các chiến sĩ quyết hy sinh giọt máu cuối
cùng để giữ vững nền tự do độc lập của nước nhà, thì đồng bào ở hậu
phương, nhất là những nhà giàu có c
ũng có thể hy sinh được chút Vàng để
phụng sự Tổ quốc”
3
.
Hưởng ứng chủ trương của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh,
phong trào hưởng ứng “Tuần lễ vàng’’ diễn ra sôi nổi khắp ba miền Bắc,
Trung, Nam. Nhân dân đã tổ chức mít tinh, sáng tác ca dao, hò, vè vận động
nhân dân ủng hộ vàng cho “Quỹ Độc lập’’, “Quỹ Quốc gia’’ xây dựng nước
nhà vững mạnh:
“Đeo vàng chỉ tổ nặng tai,
Đem vàng giúp nước những ai có vàng,
Đổi vàng lấy súng cối xay,
Đánh tan giặc Pháp chờ ngày vinh quang
Các bà các chị ra đàng,

dựng lại đất nước ngày nay như đào một cái giếng uống nước, trồng cái cây
ăn quả: Người đào giếng phải chịu khát rồi mới có nước. Người trồng cây
phải cố gắng vun trồng thì cây mới chóng có quả”
1
. Người nói đi nói lại điều
này nhiều lần, trong cuộc nói chuyện với nhân dân thành phố Hải Phòng,
Người lại nhấn mạnh, muốn có của cải vật chất tiêu dùng thì: “Chúng ta phải
ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm… Nhưng mà không phải một
tháng, một tuần hay một năm mà được… Ví dụ: ta làm vườn giồng cây ăn
quả. Giồng hôm nay thì mai đã có quả ăn được chư
a? Chưa. Phải chờ một
thời gian mới có quả. Quả to thì chờ lâu năm, quả bé thì chờ ít năm”
2
. Do

1
. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, T. 8, Tr. 363
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 370 - 371
15

đó, Người nhắc dân lao động phải vất vả, phải tự lực cánh sinh thì mới làm
ra được của cải để cải thiện đời sống, “Việc cải thiện đời sống cho dân cũng
phải do nhân dân tự giúp lấy mình là chính…, cán bộ và cốt cán, phải lãnh
đạo nhân dân,…tổ chức nhân dân cải thiện đời sống”
1
. “Muốn uống nước thì
phải đào giếng, đào giếng thì phải đổ mồ hôi, nhưng càng khó nhọc vất vả
thì giếng càng sâu, càng nhiều nước”
2

2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 160
3
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd,t. 8, tr. 396
4
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 313
5
Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t.5, tr.632
6
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.634
16

động của nhân dân ta”
1
. Người đưa ra ví dụ: “Việc gì trước kia chúng ta phải
dùng 10 người nay ta tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nâng cao năng suất của
mỗi người, nhờ vậy mà chỉ dùng 5 người cũng làm được”
2
.
Người yêu cầu: “giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương
nghiệp, văn hóa, giáo dục… với nhau và trong mỗi một ngành phải phát
triển cân đối. Trong nông nghiệp phải tính toán kỹ lưỡng xem cần làm bao
nhiêu ruộng? Có bao nhiêu sức lao động? Trong một nhà máy, cũng phải
có cân đối. Nếu chỉ cần 100, mà tuyển vào 150, thì lãng phí 50 người”
3
. Vì
vậy, trong phát triển kinh tế phải thực hiện thật triệt để việc tiết kiệm sức
lao động của nhân dân.
Nguồn lực trí tuệ
Theo cách hiểu của Hồ Chí Minh, trí tuệ cũng là trí thức, là sự hiểu

17

Trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Người luôn theo dõi, động viên
mọi người đem công sức, đặc biệt là trí tuệ góp phần vào sự nghiệp chung
của cả dân tộc. Người hiểu sâu sắc rằng, những người có trí tuệ tham gia
kháng chiến, kiến quốc rất quý báu cho Đảng, “không có những người đó thì
công việc khó khăn hơn nhiều”
1
. Đi vào xây dựng CNXH, CNCS yêu cầu
con người có trí tuệ, trí thức lại càng phải nhiều hơn về lượng, cao hơn về
trình độ. Người nói: “Trí thức không có bao giờ thừa, chỉ có thiếu trí thức
thôi”
2
. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi bước tiến của cách mạng đều gắn
bó với sự đóng góp to lớn của trí tuệ. Người giải thích: Muốn phát triển văn
hóa thì phải cần thầy giáo, muốn chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân thì
cần phải có thầy thuốc, muốn phát triển kỹ nghệ thì cần phải có kỹ sư…, sự
nghiệp xây dựng CNXH cần phải có con người Xã h
ội chủ nghĩa, con người
Xã hội chủ nghĩa phải “ vừa hồng, vừa chuyên”
Quan điểm của Hồ Chí Minh về đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi
cho dân của Hồ Chí Minh là một quan điểm hết sức quý báu. Sức sống và
giá trị của quan điểm này vẫn còn nguyên giá trị định hướng cho công cuộc
đổi mới nói chung, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng, nhằm
thực hiện m
ục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn
minh”.
1.2. Quan niệm về vai trò của nhân dân trong lịch sử
1.2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vai trò của quần
chúng nhân dân.

con ngườ
i lao động thì con người và xã hội sẽ bị diệt vong. Sự phát triển sản
xuất, phát triển xã hội chính là do lực lượng sản xuất quyết định, lực lượng
sản xuất không chỉ là công cụ lao động mà trước hết là người lao động; họ
mới là lực lượng sản xuất hàng đầu, quyết định sự vận động phát triển không
ngừng của nền sản xuất cũng nh
ư lịch sử nhân loại. Quần chúng nhân dân
không chỉ là người sản xuất ra của cải vật chất mà còn là người sáng tạo ra
những giá trị tinh thần để phản ánh những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội
những cảm xúc trong lao động sản xuất, trong đấu tranh bảo tồn và phát
triển nòi giống với nhiều hình thức phong phú và đa dạng.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản
xuất mới với quan hệ sản xuất cũ lỗi thời, lạc hậu là mâu thuẫn chủ yếu, mâu
thuẫn này sớm muộn sẽ dẫn đến cuộc đấu tranh một mất, một còn, giữa quần
19

chúng bị áp bức, bóc lột với giai cấp thống trị. Trong đấu tranh, quần chúng
ngày càng được giác ngộ, lực lượng ngày càng phát triển, khi đó, cuộc đấu
tranh nhân dân sẽ biến thành cuộc cách mạng xã hội nhằm xoá bỏ chế độ xã
hội cũ, tức phương thức sản xuất cũ và xác lập một chế độ xã hội mới với
phương thức sản xuất mới, tiến bộ h
ơn. V.I.Lênin đã khẳng định: Cách
mạng là ngày hội của những người bị áp bức bóc lột, không lúc nào quần
chúng nhân dân có thể tỏ ra là người tích cực sáng tạo những trật tự xã hội
mới như trong thời kỳ cách mạng, trong thời kỳ như thế nhân dân có thể làm
được những kỳ công.
Khẳng định vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, song chủ nghĩa
Mác - Lênin không phủ nhận vai trò to lớn của lãnh tụ trong tiến trình cách
mạng; vai trò của lãnh tụ đó, vĩ nhân đó chỉ có thể có được trong mối quan
hệ mật thiết với vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, vì chính từ

niệm của Người, nhân dân là một khái niệm được hi
ểu rất rộng, nhân dân
chính là tất cả mọi “con dân nước Việt”, mỗi “con rồng cháu tiên”, là tất cả
những ai có lòng yêu nước thương nòi, muốn quốc gia được độc lập, tự do,
hạnh phúc. Đánh giá vị trí, vai trò của nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng
định: Nước lấy dân làm gốc; gốc có vững, cây mới bền, xây lầu thắng lợi
trên nền nhân dân. Trong tư tưởng của Người, nhân dân là lực lượng có sức
mạnh vô địch, m
ọi lực lượng đều ở nơi dân.
Hồ Chí Minh tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh, tính chủ động, sáng
tạo của quần chúng nhân dân. Người nói: Trong bầu trời không có gì quý
bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của
nhân dân, “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống
lại nổi”
1
. Trong điều kiện bị đế quốc, thực dân thống trị, kẻ thù đàn áp dã
man, cùng với chính sách ngu dân của chúng, người dân các nước thuộc địa
tưởng chừng không thể gượng dậy nổi, song Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh vẫn tin tưởng ở nhân dân mình, dân tộc mình. Người chỉ rõ: “… đằng
sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục,
đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi th
ời cơ đến…" và "sự tàn

1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t.2, tr.274.
21

bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ cần phải
làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi"
1

Do dân chúng vui lòng ra sức làm. Như thế hơi phiền m
ột chút, phiền cho
những người biếng học hỏi và giải thích. Nhưng việc gì cũng nhất định

1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.28.
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.241.
3
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.203.
4
. S Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.295.
22

thành công”
1
.
Một nguyên lý mà Hồ Chủ tịch luôn căn dặn: “Chúng ta phải biết rằng:
lực lượng của dân chúng nhiều vô cùng”, “không có lực lượng nhân dân thì
việc nhỏ mấy, dễ mấy làm cũng không xong”; "Là vì công nông bị áp bức
nặng hơn, là vì công nông là đông nhất cho nên sức mạnh hơn hết, là vì công
nông là chân không tay rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được
thì được cả thế giới"
2
; "Vì chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự
giác ngộ lao động sáng tạo của hàng chục triệu người"
3
. Theo Hồ Chí Minh,
quần chúng nhân dân là động lực to lớn nhất, đóng vai trò quyết định nhất
đối với mọi thắng lợi của cách mạng. Người luôn tâm đắc với các tiền nhân:

cách mệnh trước phải làm cho dân giác ngộ… Vậy cách mệnh phải giảng
giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu…, phải bày sách lược cho dân…”
1
.
Ngay từ những ngày đầu của phong trào cách mạng, Hồ Chí Minh đã viết:
“Bằng những bằng chứng đơn giản và rõ ràng, làm cho quần chúng hiểu rõ
lợi ích thật sự của mình. Dần dần đưa quần chúng đến chỗ nhận thức được
sự cần thiết phải thay đổi chế độ hiện hành… nhằm cho tất cả… hiểu rõ và
thừa nhận các tư tưởng của cách mạng dân tộ
c và cách mạng quốc tế”
2
. Tại
phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 15-10-1945, Hồ Chí Minh nhắc nhở,
Chính phủ nên tìm mọi cách động viên tinh thần dân chúng, phải làm cho
lòng yêu nước, những giá trị truyền thống của dân tộc biến thành hành động
trong sinh hoạt hàng ngày để tạo nên sự gắn kết và sức mạnh vô địch của cả
cộng đồng. Hồ Chí Minh viết: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của
quý. Có khi được trưng bầy trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng d
ễ thấy.
Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của
chúng ta là làm cho những thứ của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng
bày”
3
. Sau này, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người chỉ rõ: “Vì cán
bộ và đảng viên không hiểu rõ hai lẽ: vì ai mà làm, đối ai phụ trách, khi gặp
mỗi công việc không biết tìm đủ cách giải thích cho dân hiểu. Cho nên
những việc trực tiếp lợi cho dân, như đắp đê, hộ đê, tăng gia sản xuất, bình
dân học vụ, v.v., cán bộ chỉ làm theo cách hạ lệnh, cách cưỡng bức. Kết quả
dân không hiểu, dân oán. Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân
rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh

Hồ Chí Minh lên án, phê phán sự lừa dối của bọn đế quốc, thực dân, họ
nêu cao những khẩu hiệu tốt đẹp “Tự do, bình đẳng, bác ái”, “quyền sống,
quy
ền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc”… để tập hợp, tận dụng sức mạnh
nhân dân nhưng đến khi đạt được mục đích của mình thì lại quay ngược trở
lại áp bức, bóc lột nhân dân. Người yêu cầu: Chúng ta đã làm cách mạng thì
phải làm cho đến nơi, cho triệt để, làm sao cách mạng rồi thì phải mang
quyền lợi đến cho đại đa số quần chúng. Cách mạng tháng Tám 1945 thành
công, tại cuộc h
ọp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ
Chí Minh nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là:
"1. Làm cho dân có ăn.
2. Làm cho dân có mặc.
3. Làm cho dân có chỗ ở.
4. Làm cho dân có học hành".
Người còn nói "Chúng ta đã hy sinh phấn đấu để giành độc lập. Chúng ta
đã tranh được rồi… Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết

1
. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.161.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status