Vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng hồ chí minh về CNXH ở việt nam - Pdf 13

HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM
CẤP NHÀ NƯỚC KX.04/06-10
“NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
GIAI ĐOẠN 2006-2010”
********************* BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
(MÃ SỐ KX.04.05/06-10)
Chủ nhiệm đề tài: GS,TS MẠCH QUANG THẮNG
Cơ quan chủ trì đề tài
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
CỘNG TÁC VIÊN CHỦ YẾU

GS,VS PHẠM MINH HẠC; PGS,TS NGUYỄN ĐỨC BÁCH; PGS,TS
NGUYỄN QUỐC PHẨM; PGS,TS ĐÀM ĐỨC VƯỢNG; TS LẠI QUỐC
KHÁNH; GS,TS PHAN NGỌC LIÊN; NGUYỄN HUY HOAN; ĐẶNG HỒNG
HOA; TS NGUYỄN ĐÌNH THỐNG; NGUYỄN NHÂM; Th.S CHU LAM
SƠN; NGUYỄN HẢI HIỆP; ThS. NGUYỄN HỮU NHÂN; TẬP THỂ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN – ĐẠI HỌC
QUỐC GIA Tp.HỒ CHÍ MINH; TẬP THỂ HUYỆN ỦY VÀ BAN QUẢN LÝ
KHU DI TÍCH LỊCH SỬ NHÀ TÙ CÔN ĐẢO (BÀ RỊA – VŨNG TÀU);
HUYỆN ỦY PHÚ QUỐC (KIÊN GIANG); HỘI LIÊN HIỆP KHOA HỌC XÃ
HỘI TỈNH QUẢNG ĐÔNG (TRUNG QUỐC);


XÃ HỘI

26
1. Các nguyên tắc chung (phương pháp luận Hồ Chí Minh) 26
2. Các nguyên tắc bảo đảm sự nghiệp phát triển theo con đường xã
hội chủ nghĩa (phương pháp luận Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội)
……………………………………………………………………….
37
3. Các nguyên tắc thực hiện sự nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội 49
Chương thứ hai
LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM –
TỪ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐẾN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM

62
I. GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM………………………
62

2
1. Giá trị lý luận và thực tiễn quan niệm Hồ Chí Minh về tính tất
yếu của chủ nghĩa xã hội ……………………………………………
62
2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về các đặc trưng và bản chất của
chủ nghĩa xã hội …………………………………………………….
72
3. Quan niệm của Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam ……………………………………………
99
4. Giá trị lý luận và thực tiễn của quan niệm Hồ

SÁNG TƯ TƯỞNG HÔ CHÍ MINH…… 197

3
1. Sự cần thiết bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 và tính tất
yếu của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện
nay………………………………………………………………….
198
2. Đặc trưng, mục tiêu, cấu trúc, động lực xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam…………………………………………………
210
3. Phương hướng, nội dung cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc……………………………………………………
236
4. Điều kiện và các nhóm giải pháp bảo đảm xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội ở nước ta………………………………………….
241
5. Về dự thảo các văn kiện Đại hội XI của Đảng………………… 251
KẾT LUẬN………………………………………… 254
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………… 260
phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991) theo yêu cầu của Ban Chủ nhiệm Chương
trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước KX.04/06-10
“Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2006 – 2010” do Hội
đồng Lý luận Trung ương chủ trì.
Theo Biên bản của cuộc họp Hội đồng tư
vấn tuyển chọn đề tài thì Hội
đồng rất lưu ý đặt mạnh vào phần vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và cũng có ý là không nên và
cũng rất khó nói rõ giữa cái gì là vận dụng sáng tạo và cái gì là phát triển.
Đề tài được ký Hợp đồng vào tháng 12 năm 2007. Đề tài được đánh
giá, nghiệm thu cấp cơ sở vào ngày 08-4-2010 và 100% thành viên Hội
đồng đã đồng ý sau khi s
ửa chữa theo ý kiến kết luận của Hội đồng sẽ cho
phép đưa ra nghiệm thu cấp nhà nước.
Đề tài đã:

5
- Có 30 cuốn sách và bài được xuất bản và được đăng trên các tạp chí
khoa học liên quan đến đề tài.
- Sưu tầm và xử lý được hàng nghìn trang tư liệu (không kể Hồ Chí
Minh toàn tập và các sách công cụ, văn kiện Đảng khác).
- Tổ chức được 6 cuộc tọa đảm, hội thảo khoa học bàn chuyên sâu về
các chủ đề của đề tài, đáng chú ý là ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn thuộc
Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh (Có mời nhiều nhà
khoa học và hoạt động thực tiễn ở khu vực Tp. Hồ Chí Minh đến tham gia).
- Đã tổ chức đặt hàng, thuê khoán gần 100 chuyên đề theo kế hoạch đã
được Ban Chủ nhiệm Chương trình KX.04/06-10 đã duyệt và đã đưa vào
phụ lục của bản Hợp đồng.

Qua các thời kỳ đó, Hồ Chí Minh đã dần dần hình thành và phát triển
hệ thống quan điểm của mình: Từ nhận thức lý tính nâng lên thành cương
lĩnh chính trị của một Đảng; từ cương lĩ
nh chính trị của Đảng biến thành
chương trình hành động thực tiễn của quảng đại quần chúng nhân dân; từ
quan niệm về chủ nghĩa xã hội như là một mơ ước, lý tưởng của loài người,
từ một học thuyết mang bản chất khoa học và cách mạng, từ xu hướng phát
triển của quá trình cách mạng Việt Nam đến quan niệm về chủ nghĩa xã hội
như là một chế
độ xã hội hiện thực, tồn tại trong thực tế.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội qua các thời kỳ đều
mang đậm dấu ấn của lịch sử, thời đại. Các quan điểm của Hồ Chí Minh về
chủ nghĩa xã hội được phát triển mạnh nhất trong 10 năm (1954 - 1964);
khi đó chủ nghĩa xã hội trở thành chương trình hành động thực tiễn c
ủa
miền Bắc nước ta. Chắc chắn rằng, ở thời kỳ này, Hồ Chí Minh chịu ảnh
hưởng rất lớn các quan điểm về chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã
hội của nhiều đảng cộng sản và công nhân, trong đó có quan niệm về mô
hình chủ nghĩa xã hội hiện thực tập trung, quan liêu, bao cấp. Không chú ý
các nhân tố lịch sử tác động sẽ khó tiếp nhận và làm rõ tính chân xác hi
ện
thực các quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội. Điều chúng tôi
muốn nhấn mạnh ở đây là: là một nhà tư tưởng lỗi lạc, một nhà hoạt động
lý luận-thực tiễn xuất sắc, nhận thức, tư duy về chủ nghĩa xã hội của Hồ
Chí Minh bị chế định bởi bối cảnh, điều kiện lị
ch sử mà Người sống. Sáng
tạo và hạn chế lý luận của Hồ Chí Minh phải được nhận diện và lý giải một
cách lịch sử - cụ thể.
Toàn bộ di sản lý luận đặc sắc của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam cho chúng ta thấy rõ những sáng tạo sau đây của Người:

Hồ Chí Minh hoàn toàn không võ
đoán, chủ quan mà dựa trên các cơ sở,
chứng cứ lịch sử khách quan về truyền thống tư tưởng-văn hoá, điều kiện
kinh tế-xã hội, về sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản ngay tại các nước này.
Riêng đối với sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản, Hồ Chí Minh cảm nhận rất
rõ: Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư
bản đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa xã hội
chỉ cần phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa
thôi.
Đối với Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Chủ nghĩa xã hội là sản phẩm
tất yếu của quá trình cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát triển theo con đường xã h
ội chủ
nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn, là sự lựa chọn không phải riêng
của Hồ Chí Minh mà là sự lựa chọn của bản thân lịch sử dân tộc, vì nó đáp
ứng được nhu cầu khách quan của sự phát triển đất nước (độc lập dân tộc,
khát vọng tự do của nhân dân, cơm no áo ấm, cuộc sống hạnh phúc của tất
cả mọi người dân Việ
t Nam), phù hợp với xu thế vận động của lịch sử xã

8
hội loài người. Nó là con đường hợp lý, hợp quy luật theo nghĩa: Chỉ có
chủ nghĩa cộng sản mới đem lại các giá trị làm người chân chính; chỉ có
chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị
áp bức và quần chúng lao động khỏi ách nô lệ; cách mạng giải phóng dân
tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được
thắ
ng lợi hoàn toàn và triệt để.
Hai là, sáng tạo trong quan niệm về bản chất đặc trưng của chủ nghĩa
xã hội ở nước ta.


9
thực hành trong tất cả các quan hệ xã hội mang một trình độ người hoàn
toàn mới.
- Chủ nghĩa xã hội là một xã hội dân giàu nước mạnh; giàu có cả về
vật chất và cả về tinh thần; cuộc sống no đủ về vật chất gắn liền với sự
phong phú, lành mạnh của đời sống tinh thần. Sự giàu có của toàn xã hội
không thể diễn ra cùng một lúc mà theo từng tầng nấ
c từ thấp đến cao: Làm
cho người nghèo đói trở nên đủ ăn, người đủ ăn trở nên khá, người khá trở
nên giàu, người giàu thì ngày càng giàu thêm. Quan niệm dân giàu nước
mạnh của Hồ Chí Minh mang tính hiện đại và có sức nặng của hiện thực
cuộc sống.
Ba là, sáng tạo trong quan niệm về mục tiêu, động lực và các lực cản
phát triển của chủ nghĩa xã hội
Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu cao nhất của ch
ủ nghĩa xã hội là vì con
người, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân; mọi biểu
hiện của các chế độ xã hội thống trị con người, đi ngược lại lợi ích con
người, xúc phạm các giá trị làm người…đều xa lạ với bản chất đích thực
của chủ nghĩa xã hội.
Động lực quyết định thúc đẩy sự phát triển, luôn làm cho chủ nghĩa xã
h
ội có sức sống, có sức hấp dẫn cũng chính là con người; con người cá
nhân và con người có tổ chức. Trong chiều sâu bản chất con người, Hồ Chí
Minh nhìn thấy nguồn năng lượng tiềm tàng của mọi tiến bộ lịch sử. Người
thấy sức mạnh vô địch của con người khi nó được đặt trên một cội rễ văn
hoá truyền thống vững chắc, khi được giác ngộ lý tưởng cách mạ
ng cao đẹp
theo các giá trị nhân văn, khi con người được đáp ứng, thoả mãn các nhu

thống tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nhẹ bảo đảm các mặt hàng tiêu
dùng thiết yếu cho xã hội; đến tiến hành công nghiệp hoá toàn diện nhằm
cấu trúc lại toàn bộ mọi mặt đời sống xã hội, đặt dân tộc ta lên một trình độ
phát triển cao hơn: Văn minh công nghiệp.
- Sáng tạo phương thức, phương pháp tiến hành xây dựng chủ nghĩa
xã hội mà điều chủ chốt nh
ất là phát huy mọi nguồn lực vốn có trong nhân
dân để làm lợi cho chính nhân dân theo phương châm: Đem của dân, tài
dân, sức dân làm lợi cho dân; biến sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
thành sự nghiệp của toàn dân tộc, vì sự chấn hưng và phát triển toàn dân
tộc, của toàn dân, của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước.
- Chú trọng xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, bảo
đảm cho Đảng có đủ ph
ẩm chất, trình độ, năng lực dẫn dắt dân tộc ta xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Gắn lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội
với lý luận xây dựng Đảng cầm quyền, cảnh báo các nguy cơ của Đảng
trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội là một đóng góp xuất sắc của Hồ
Chí Minh vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin.

11
- Tìm kiếm các cách thức, con đường kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại, tranh thủ ngoại lực để tăng cường nội lực xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội cũng là một thành công lý luận đáng ghi nhận
của Hồ Chí Minh.
Hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam cần được nghiên cứ
u thấu đáo để vận dụng và phát triển sáng tạo
trong bối cảnh hiện nay. Đây là một chủ đề rất khó, bước đầu đề tài tìm
hiểu trên một số bình diện sau:
- Các nhân tố dân tộc, thời đại hiện nay khác xa thời Hồ Chí Minh

đăng ký đề tài cuối năm 2007. Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh thêm một số
điểm. Liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài này, có khá nhiều công
trình khoa học đã được công bố. Đó là các đề tài khoa học cấp nhà nước đã
được nghiệm thu, các cuốn sách đã được xuất bản ở trong nước. Đ
áng kể
nhất là các công trình khoa học sau đây: (i) Nguyễn Duy Quý (Chủ biên):
Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; (ii) Vũ Viết Mỹ
(Chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước KX.02.05 giai đoạn 1991-1995): Tư tưởng
Hồ Chí Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đã xuất b
ản thành
sách Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002;
(iii) Trần Thành (Chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước KHXH.01.03 giai đoạn
1997-2000): Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, đặc biệt là về
chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam;
(iv) Nguyễn Đức Bình (chủ biên), Đặng Xuân Kỳ, Nguyễn Duy Quý: Về
chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Hàng loạt các đề tài khoa học các cấp,
nhiều sách, nhiều bài đăng tạp chí, nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
của các cơ sở đào tạo ở trong nước tuy không chuyên bàn về nội dung liên
quan đến tư
tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhưng ít
nhiều cũng có đề cập. Đề tài này của chúng tôi kế thừa tất cả những kết quả
nghiên cứu đó để đi sâu hơn những vấn đề mà chúng tôi đã đề cập ở trên.
4. Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu của Đề tài này, chúng tôi tuân thủ theo
phép biện chứng mácxít, trên cơ sở những tài liệ
u thành văn, chủ yếu là
những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh đã công bố trên Hồ Chí Minh

Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn các cộng tác viên, cảm
ơn cơ quan chủ trì là Học viện Chính trị-Hành chính quố
c gia Hồ Chí
Minh, cảm ơn Ban Chủ nhiệm Chương trình KX.05/06-10 (Hội đồng Lý
luận Trung ương), các đồng chí Thư ký của Chương trình, Văn phòng Các
chương trình khoa học trọng điểm cấp nhà nước thuộc Bộ Khoa học và
Công nghệ đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ đã
đặt ra.
Hà Nội, Mùa Xuân năm 2010
TM TẬP THỂ TÁC GIẢ
CH
Ủ NHIỆM ĐỀ TÀI KX.04.05/06-10
GS, TS MẠCH QUANG THẮNG
14
Chương thứ nhất

VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN I. QUAN NIỆM TỔNG QUÁT VỀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ
PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI Ở VIỆT NAM

1. QUAN NIỆM VỀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO, PHÁT TRIỂ
N TƯ

chí phấn đấu thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng đất nước thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phải góp phần tích cực thực hiện có hiệu
quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Ðảng nhằm nâng cao năng lực
lãnh đạo, s
ức chiến đấu của Ðảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, các
tổ chức Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Thông qua vận dụng sáng
tạo, phát triển tư tưởng, lý luận, sẽ vượt qua tình trạng còn không ít lạc hậu,
yếu kém hiện nay; đồng thời phải đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả,
góp phần củng cố tư tưởng, phát triển trình độ lý luận chính trị, tri thứ
c của
Ðảng và hệ thống chính trị nói chung, nhằm góp phần khẳng định vai trò
tiên phong của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Như vậy vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng, lý luận là nhiệm vụ
của toàn Ðảng, của tất cả đảng viên, trước hết là cấp ủy các cấp và bí thư
cấp ủy, của cả hệ thống chính trị với sự tham gia, đóng góp củ
a nhân dân;
trong đó lực lượng nòng cốt là đội ngũ chuyên trách làm công tác tư tưởng,
lý luận của Ðảng. Để vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng, lý luận, phải
phát huy dân chủ, khai thác mọi tiềm năng sáng tạo của toàn Ðảng và toàn
xã hội. Việc vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng, lý luận không được xa
rời tính đặc trưng của công tác này là công tác đối với con người. Do đó,
phải nắm v
ững những vấn đề có tính quy luật riêng của công tác này để có
thái độ, phương pháp khoa học, nhằm kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu định
hướng tư tưởng, lý luận với sự tự nguyện, giữa lý trí với tình cảm, giữa lời
nói với việc làm, giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính, tích cực đẩy
lùi tiêu cực; phải gắn bó mật thiết và phục vụ có hiệu quả công cuộc xây
d
ựng, bảo vệ Tổ quốc, nhằm góp phần nâng cao đời sống tinh thần và phát

thù địch.
- Xác định các nhiệm vụ và giải pháp của công tác thông tin đối ngoại
như củng cố tổ chức, tăng cường cán bộ, phương tiện hoạt động và mở
rộng phạm vi, nâng cao hiệu quả của lĩ
nh vực công tác rất quan trọng này.
- Tập trung xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách công
tác tư tưởng, lý luận, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật theo hướng
hiện đại để công tác này đáp ứng yêu cầu mới; đặc biệt cần nâng cao chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn bị xây dựng Chiến lược công tác tư
tưởng trong tình hình mới.
Ð
ối với công tác lý luận, hiện nay việc vận dụng sáng tạo, phát triển lý
luận cần tập trung vào các nhiệm vụ sau: vận dụng sáng tạo và phát triển

17
chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm làm rõ những giá trị
bền vững và chỉ ra những vấn đề cần bổ sung, phát triển cho phù hợp với
thực tế đất nước và thời đại; tiếp tục làm sáng tỏ nhận thức về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta; tổng kết thực tiễn,
nghiên cứu lý luận v
ề Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, về đổi mới
phương thức lãnh đạo của Ðảng, về phát huy và thực thi dân chủ trong
Ðảng, về nâng cao tầm trí tuệ, văn hóa của Ðảng; đổi mới và nâng cao
chất lượng giáo dục lý luận trong hệ thống các nhà trường với những yêu
cầu mới nhằm đáp ứng trình độ và nhu cầu ngày càng cao và mới của đảng
viên và nhân dân; khẩn trương xây d
ựng và ban hành quy chế dân chủ
trong hoạt động lý luận và công tác chỉ đạo, quản lý nghiên cứu lý luận.

2. VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ

Đảng ta.
Các vấn đề “chủ nghĩa xã hội là gì?” và “chủ nghĩa xã hội như
thế
nào?”, theo Hồ Chí Minh, luôn luôn gắn với bản thân con người, với thực
tế đất nước và thời đại; do đó, phải gắn việc học tập sáng tạo của bản thân
mỗi người về những chân lý phổ biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ
nghĩa xã hội với việc nắm bắt các chân lý phổ biến của thực tế đất nước và
thời đạ
i nhằm xây dựng được các quan điểm độc lập, tự chủ về chủ nghĩa
xã hội phù hợp với Việt Nam hiện nay. Chỉ như vậy mới bảo đảm sự vận
dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội phù
hợp với Việt Nam hiện nay (tất nhiên là cũng đồng thời phù hợp với thời
đại ngày nay); cụ thể
là phù hợp với công cuộc đổi mới theo định hướng xã
hội chủ nghĩa nhằm xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại, xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Hai là, xuất phát từ thực tế của đất nước hiện nay để tổng kết thực
tiễn nhằm dần dần hiểu được tính quy luậ
t phát triển theo định hướng xã
hội chủ nghĩa của Việt Nam trên cơ sở nhận thức lại, bổ sung, phát triển
sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, một đường lối đúng chỉ có thể là
đường lối của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội được vận dụng
một cách sáng tạo vào hoàn cảnh c
ụ thể của dân tộc. Theo tinh thần này,
vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội là
phải nâng cao việc tu dưỡng tư tưởng Hồ Chí Minh để dùng lập trường,
quan điểm, phương pháp của Hồ Chí Minh mà tổng kết những kinh nghiệm
của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới, phân tích những đặc điểm của Việt Nam

. V.I.Lênin theo tinh thần này đã khẳng định rằng, lý luận mà
C.Mác và Ph.Ăngghen nêu lên chỉ đặt nền móng cho những người xã hội
chủ nghĩa phát triển hơn nữa về mọi mặt
4
.
Chắc chắn Hồ Chí Minh cũng đồng ý với những quan điểm này của
các nhà kinh điển Mác – Lênin. Cũng như C.Mác, Ph.Ăngghen và
V.I.Lênin, Hồ Chí Minh không muốn nhân danh “tư tưởng” của mình để
giải thích và hành động không đúng với quan điểm, học thuyết của Mác –
Lênin. Và sâu sa hơn, Hồ Chí Minh không tán thành những “vận dụng sáng
tạo, phát triển” nhân danh tư tưởng của Mác – Lênin để thoát ly thực tế đất
nước hiện nay.
Ba là, th
ực hành tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội phù hợp
hơn với Việt Nam hiện nay.

1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, H, 2000, t.8, tr.497.
2
Phỏng theo cách diễn đạt về chủ nghĩa Mác trong bài “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ
và Nam Kỳ” viết năm 1924, nghi là của tác giả Nguyễn Ái Quốc, xem Hồ Chí Minh:
Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000, tr.465.

3
C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, HN, 1997, t.37, tr.603.
4
Xem V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.232.

20
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản của tư

NAM HIỆN NAY

Một là, xác
định những nguyên tắc định hướng đối với việc vận dụng
sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.
Vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã
hội, về nguyên tắc, không được chệch hướng bản chất, đặc điểm cơ bản của

1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, HN, 1995, t.6, tr.257.

21
tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội. Do đó, việc vận dụng sáng tạo,
phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội phải có nguyên tắc.
Các nguyên tắc định hướng chung đối với việc vận dụng sáng tạo, phát triển
tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội không nằm ngoài những quan
điểm nền tảng hay những quan điể
m có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh về
chủ nghĩa xã hội. Đó là:
- Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là chủ nghĩa xã hội được vận dụng sáng
tạo, phát triển một cách có nguyên tắc hệ thống quan điểm nền tảng của các
nhà kinh điển Mác – Lênin và Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, phù hợp
với Việt Nam và thời đại ngày nay.
- Để kiên định và từng bước thực hi
ện mục tiêu lý tưởng (hay mục tiêu
cuối cùng) của chủ nghĩa xã hội, phải “từ từ từng bậc” tiến lên chủ nghĩa xã
hội. Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, do đó, là một cuộc chiến đấu và
chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu rất lâu dài, gian khổ nhưng vô cùng vẻ vang.
Vì vậy, phải có cách làm, biện pháp và bước đi hợp lý nhằm tiến dần từng
bước lên chủ nghĩa xã h

triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội nên được thực hiện theo
các nguyên tắc phương pháp luận sau đây:
Thực chất của công cuộc đổi mới là “chống lại những cái gì đã cũ kỹ,
hư hỏng,
để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”
1
, là tìm tòi phương thức
(con đường) xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với Việt Nam hiện nay.
Công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang tạo điều kiện và
đặt ra yêu cầu mới đối với việc nhận thức lại, bổ sung, phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, nhằm tiếp tục xây dựng, phát triển tư
duy lý lu
ận và hoạt động thực tiễn của Đảng và của nhân dân ngày càng sâu
sắc hơn, sát hợp hơn với thực chất tư tưởng của Hồ Chí Minh (đồng thời
của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin) phù hợp với Việt Nam và thời đại
ngày nay. Sau đây là những điểm đáng lưu ý:
- Phát triển một cách khoa học trên cơ sở các giá trị nhân văn, giàu
bản sắc văn hóa Việt Nam trên con đường tiến lên chủ ngh
ĩa xã hội.
Việc vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh đã và sẽ tạo cơ
sở lý luận - thực tiễn thuận lợi cho việc thực hành một cách phổ biến trong
Đảng, trong dân đường lối tiếp tục đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bởi lẽ, thông qua đó có thể kế thừa, phát huy “phương pháp làm việc biện
chứng” của chủ
nghĩa Mác phù hợp với tư duy trực giác tổng hợp truyền
thống Việt Nam; có thể thực hành lòng nhân ái Việt Nam, cụ thể là thực hành,
bồi dưỡng tình cảm và các hành động cụ thể trong việc giúp đỡ người nghèo,
người bệnh, người già, tôn trọng phụ nữ, nêu gương tốt cho trẻ và giữ chữ Tín
trong quan hệ kinh tế, quan hệ người - người đồng thời trau dồi phẩm chất,
năng lự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status