PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH NẮM VỮNG
KIẾN THỨC CƠ BẢN TẠI LỚP
Họ và tên tác giả:
Đơn vị công tác:
1/.Lí do chọn đề tài:
Để đáp ứng được nhu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy, bản thân tôi cảm thấy
sự cần thiết phải nghiên cứu “phương pháp hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức cơ
bản tại lớp” nhằm mục đích:
-Giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản tại lớp
-Học sinh có thể vận dụng kiến thức vừa tiếp thu được để giải một số bài tập áp
dụng đơn giản
-Rèn cho học sinh một số kĩ năng cơ bản khi giải Toán
-Làm cho học sinh thấy yêu thích môn Toán hơn và học tập nó một cách dễ dàng,
nhanh chóng hơn.
2/.Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:
-Học sinh khối 7 trường trung học cơ sở
-Thông qua các tiết dạy trực tiếp trên lớp
-Thông qua dự giờ, rút kinh nghiệm từ đồng nghiệp.
-Triển khai nội dung đề tài và kiểm tra, đối chiếu kết quả học tập của học sinh từ
đầu năm học đến kết quả học kì một.
3/.Đề tài đưa ra giải pháp mới:
-Phát huy tính tích cực,độc lập họat động của học sinh trong giờ học.
-Thu hút sự chú ý của học sinh
4/.Hiệu quả áp dụng:
Hơn 70% học sinh có học lực từ khá trở xuống nắm được kiến thức cơ bản khi lên
lớp và vận dụng để giải một số bài toán áp dụng cơ bản. Học sinh dạng trung bình, yếu
cũng thấy thích môn Toán hơn và mạnh dạng hỏi lại giáo viên khi phần nào chưa hiểu.
Sự tập trung chú ý khi học của học sinh cũng phần nào được nâng cao.
5/.Phạm vi áp dụng:
Đề tài được áp dụng cho tất cả các học sinh có học lực trung bình, yếu,kém ở các
khối lớp trong trường Trung học cơ sở ….Nhưng cụ thể hơn là học sinh lớp … được áp
truyền thụ khi lên lớp. Công việc này cũng rất khó khăn. Nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố như: phương pháp giảng dạy của giáo viên, mức độ chú ý của học sinh,trình độ của
mỗi học sinh, tác động của yếu tố bên ngòai, sự thích thú, đam mê của học sinh… Vì
vậy, hôm nay tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Phương pháp hướng dẫn học sinh nắm
vững kiến thức tại lớp” nhằm rút ra những giải pháp hữu hiệu trong quá trình dạy học.
2/.Đối tượng nghiên cứu:
-Học sinh có học lực trung bình, yếu
-Các phương pháp dạy học theo hướng đổi mới
-Khả năng tiếp thu kiến thức mới của học sinh trong từng tiết học.
3/.Phạm vi nghiên cứu:
-Học sinh trong lớp … trường Trung học cơ sở …
4/.Phương pháp nghiên cứu:
-Thông qua các tiết dạy trực tiếp trên lớp
-Thông qua dự giờ, rút kinh nghiệm từ đồng nghiệp.
-Triển khai nội dung đề tài và kiểm tra, đối chiếu kết quả học tập của học sinh từ
đầu năm học đến kết quả học kì một.
Giả thiết khoa học đặt ra: Học sinh nắm được kiến thức trên lớp, vận dụng giải các bài
tập áp dụng. Học sinh thấy yêu thích môn Toán hơn và có các kĩ năng cơ bản khi giải
Toán.
B/.NỘI DUNG:
1/.Cơ sở lý luận:
Trang3
Luật giáo dục 2005 (chương I, điều 3) có qui định “ học đi đôi với hành, giáo dục
kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà truờng kết hợp
với giáo dục gia đình và xã hội”. Nhưng trước khi muốn thực hành thì học sinh phải nắm
vững lí thuyết cơ bản trên lớp. Và để cho học sinh nắm vững lí thuyết trên lớp thì giáo
viên cần phải “ đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều của người học, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo…” ( nghị quyết trung ương 2
khóa VIII)
Để đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học thì người giáo viên cần phải nỗ
1.5/.So sánh với những kiến thức cũ cùng loại.
1.6/.Ap dụng giải một số dạng toán cơ bản.
1.1/.Xây dựng những kiến thức mới thông qua cơ sở là các kiến thức cũ
đã học hoặc thông qua phương pháp đo đạc:
Trang4
Từ những kiến thức cũ mà học sinh đã biết, giáo viên liên hệ hình thành cho học
sinh những định nghĩa tính chất mới có liên quan. Lúc đó học sinh không cảm thấy bỡ
ngỡ mà dễ dàng tiếp thu những kiến thức mới. Học sinh sẽ cảm thấy kiến thức mới vừa
tiếp thu có vẻ gần gũi hơn. Ví dụ như trong chương trình đại số 7, tiết 2: “Cộng trừ số
hữu tỉ”. Để hình thành công thức cộng, trừ hai số hữu tỉ, giáo viên có thể thực hiện như
sau:
-GV: cho 2 học sinh thực hiện ví dụ sau và
nêu lại qui tắc cộng, trừ hai phân số cùng
mẫu và không cùng mẫu.
-HS: thực hiện
-GV: Số hữu tỉ là số viết được dưới dạng số
nào?
-HS: Số hữu tỉ là số viết được dưới dạng
phân số?
-GV: vậy muốn cộng hay trừ hai số hữu tỉ ta
phải viết số hữu tỉ dưới dạng số nào?
-HS: Viết số hữu tỉ dưới dạng phân số
-GV: hình thành qui tắc cộng hai số hữu tỉ
cho học sinh
Ví dụ:
3 5 3 5 8
/. 4
2 2 2 2
a
+
µ
, ,A B C
và nhận xét về số đo của
các góc đó
-Hs:
µ µ
µ
0
180A B C+ + =
-GV: gọi học định phát biểu định lí tổng ba
góc trong một tam giácµ µ
µ
0
180A B C
+ + =
1.2/.Học sinh tự phát hiện kiến thức mới thông qua sự dẫn dắt của giáo
viên:
Từ sự phân tích và dẫn dắt của giáo viên, học sinh là người tự mình phát hiện ra
kiến thức mới thông qua sự hiểu biết của mình. Tuy nhiên cũng không lọai trừ trường
hợp học sinh nhìn vào sách giáo khoa để đọc nguyên văn định nghĩa hoặc tính chất trong
sách giáo khoa. Nhưng lúc đó học sinh cũng phải theo dõi sự dẫn dắt của giáo viên mới
biết là học tới phần nào. Và từ đó học sinh cũng nắm được một phần kiến thức giáo viên
Trang5
B C
A