Nghiên cứu khả năng phân hủy 2,4,5 -T và đặc điểm phân loại của chủng vi khuẩn phân lập - Pdf 83

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
----------------///----------------
Phạm Ngọc Long
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÂN HỦY 2,4,5-T VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN
LOẠI CỦA CHỦNG VI KHUẨN PHÂN LẬP TỪ CÁC BIOREACTOR
XỬ LÝ ĐẤT NHIỄM CHẤT DIỆT CỎ/DIOXIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC



Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm
Mã số : 60.42.30 LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Nghiêm Ngọc Minh
Thái Nguyên - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Lời cảm ơn
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS
Nghiêm Ngọc Minh. Trưởng Phòng Công nghệ sinh học Môi trường – Viện
Công Nghệ sinh Học đã tận tình hướng dẫn và dìu dắt tôi trong quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận án.
Trong quá trình nghiên cứu vửa qua, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và chỉ
bảo tận tình của PGS.TS. Đặng Thị Cẩm Hà và các anh chị Phòng Công
nghệ sinh học Môi trường, đặc biệt là Ths. Nguyên Bá Hữu, CN. Nguyễn
Văn Bắc, KS. Cung Thị Ngọc Mai, những người đã giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện luận án của mình.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Khoa sau đại học, khoa
Sinh-Kỹ thuật nông nghiệp – Trường đại học Sư phạm – Đại Học Thái
Nguyên và lãnh đạo Viện Công nghệ sinh học, Viện Khoa học và Công nghệ
Luận văn thạc sỹ sinh học Phạm Ngọc Long
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

PHẦN 1 TỔNG QUAN 3
1. Sự ô nhiễm của 2,4,5-T và 2,4-D 3
2. Đặc điểm và tính chất của 2,4,5-T và 2,4-D 5
2.1 Chất diệt cỏ 2,4,5-T 5
2.2 Chất diệt cỏ 2,4-D 7
3. Ảnh hƣởng của 2,4,5-T, 2,4-D đến môi trƣờng và con ngƣời 8
3.1 Ảnh hưởng của 2,4,5-T và 2,4-D tới môi trường 8
3.2 Ảnh hưởng của 2,4,5-T, 2,4-D đến con người 9
4. Một số phƣơng pháp xử lý chất độc hóa học
trong đó có 2,4,5-T và 2,4-D 9
4.1 Phương pháp xử lý chất độc hóa học bằng hóa học, lý học, cơ học 9
4.2 Phương pháp phân hủy sinh học 10
5. Khả năng phân hủy 2,4,5-T và 2,4-D của một số vi sinh vật 15
6. Phân loại vi sinh vật 21
6.1. Phân loại theo phương pháp cổ điển 21
6.2 Phương pháp phân loại bằng sinh học phân tử 22

PHẦN 2 VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP 25
1. Vật liệu, hóa chất, các thiết bị sử dụng trong nghiên cứu 25
1.1 Vật liệu 25
1.2 Hóa chất 25

Luận văn thạc sỹ sinh học Phạm Ngọc Long
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
PHẦN 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
1. Nuôi cấy, phân lập chủng vi sinh vật từ mẫu đất nhiễm chất
diệt cỏ/dioxin trong bioreactor hiểu khí 35
1.1 Nuôi cấy, làm giàu tập đoàn vi sinh vật 35
1.2 Phân lập chủng vi khuẩn 37
2. Đặc điểm phân loại của chủng HR5.1 38
2.1 Hình thái tế bào 38
2.2 Phân loại dựa trên trình tự gen mã hóa 16S rRNA 39
2.2.1 Tách chiết DNA tổng số 39
2.2.2 Nhân đoạn gen 16S rRNA của chủng HR5.1 bằng kỹ thuật PCR 40
2.2.3 Tách dòng gen 16S rRNA trong vector pBT 41
2.2.4 Xác định trình tự gen 16S rRNA của chủng HR5.1 43
3 Nghiên cứu một số đặc điểm của chủng HR5.1 47
3.1 Khả năng phát triển của chủng HR5.1 trên PAH 47
3.2 Khả năng phân hủy 2,4,5-T của chủng HR5.1 49
3.2.1 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy có chứa 2,4,5-T
lên sự phát triển của chủng HR5.1 49
3.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ 2,4,5-T lên sự phát triển
của chủng HR5.1 50
3.2.3 Khả năng phân hủy 2,4,5-T của chủng vi khuẩn HR5.1 54

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57


năng phân hủy 2,4,5-T và đặc điểm phân loại của chủng vi khuẩn phân
lập từ các bioreactor xử lý đất nhiễm chất diệt cỏ/dioxin“ đã được thực
hiện.
Luận văn thạc sỹ sinh học Phạm Ngọc Long
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Luận án đã thực hiện đƣợc các nội dung nghiên cứu sau đây
 Làm giầu vi sinh vật từ các mẫu đất trong bioreactor xử lý đất
nhiễm chất diệt cỏ/dioxin.
 Phân lập các chủng vi khuẩn có khả năng phát triển trên 2,4,5-T và
2,4-D.
 Nghiên cứu một số đặc điểm của chủng vi khuẩn phân lập được.
 Phân loại định tên chủng vi khuẩn được chọn lựa.
 Xác định khả năng sử dụng 2,4,5-T của chủng vi khuẩn nghiên cứu.

Luận án này được thực hiện tại phòng Công nghệ sinh học môi trường,
Viện Công nghệ sinh học và là một phần đề cấp Viện Khoa học và công nghệ
Việt Nam: “Nghiên cứu xử lý tẩy độc một số hợp chất hữu cơ chứa clo bằng
các phương pháp hóa học và sinh học tiên tiến“ do PGS.TS. Đặng Thị Cẩm
Hà chủ trì.


dụng trong chiến tranh Việt Nam [42].
Tên
chất
Thành phần hoá
chất
Độ đậm đặc
tƣơng đƣơng
Sử dụng
trong
trong năm
Số lƣợng
ƣớc tính đã
rải (lít)
Chất
hồng
60% - 40% n-Butyl:
isobutylester của
2,4,5-T
961-1081 g/l
acid tương
đương
1961-1965 503.121;
413,852
Chất
xanh
lá cây
n-Butylester của
2,4,5-T
Giống như chất
hồng

1965-1970 45.677.937
(có thể bao
gồm cả chất
da cam)
Chất
da
cam
(2)
50% n-Butyl ester
2,4-D
50% n-Butyl ester
2,4,5-T
910 g/l acid
tương đương
Sau 1968
(?)
Chưa rõ
nhưng đã
gửi sang
Việt Nam ít
nhất là:
3.591.000
Chất
trắng
Khối lượng acid cơ
bản: 21,1% tri-
isopropanolamine
muối của 2,4-D và
5,7% picloram
Khối lượng

cỏ lên máy bay như sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát có độ tồn lưu các
chất độc ở mức cao và rất cao, lên tới hàng trăm nghìn ppt [15]. Đặc biệt là
các sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng hàm lượng 2,3,7,8-TCDD chiếm 90% tổng
độ độc, nhiều mẫu đất 2,3,7,8-TCDD > 99% tất cả độ độc của PCDD và
Luận văn thạc sỹ sinh học Phạm Ngọc Long
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
PCDF. Các kết quả phân tích còn phát hiện một lượng lớn 2,4,5-T, 2,4-D,
dichlorphenol, trichlorophenol và một số lượng nhỏ hydrocarbon thơm đa
nhân trong các mẫu đất tại khu vực nhiễm độc [15]. Ngoài ra, ô nhiễm 2,4,5-T
và 2,4-D ở Việt Nam còn từ các nguồn khác. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận
văn này chúng tôi chỉ nghiên cứu về vi sinh vật có nguồn gốc từ nguồn ô
nhiễm chất diệt cỏ do chiến tranh.

2. Đặc điểm và tính chất của 2,4,5-T và 2,4-D
2.1 Chất diệt cỏ 2,4,5-T
2,4,5-T là tên gọi tắt của acid 2,4,5-trichlorophenoxyaxetic. Công thức hóa
học là C
8
H
5
O
3
Cl
3
, khối lượng phân tử 255,49 g/mol. Công thức cấu tạo được
thể hiện ở hình 1.1.

Hình 1.1 Công thức cấu tạo 2,4,5-T


3
OH dưới áp suất hơi nước
ii: ClCH
2
COOH trong NaOH ở 140
o
C
Trong quá trình tổng hợp 2,4,5-T đi từ nguyên liệu ban đầu là 1,2,4,5-
tetrachlorobenzene, cần phải có nhiệt độ từ 225 đến 300
0
C và áp suất dao
động trong khoảng từ 400 đến 1500 psi. Tuy nhiên, ở điều kiện như vậy sản
phẩm phụ là 2,3,7,8-TCDD đã được tạo ra và theo các tác giả, hàm lượng
2,3,7,8-TCDD có trong 2,4,5-T vào khoảng từ 0,07 tới 6,2 ppm (hình 1.3) [40].

Luận văn thạc sỹ sinh học Phạm Ngọc Long
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10

Hình 1.3 Cơ chế tạo ra sản phẩm phụ 2,3,7,8-TCDD trong quá trình tổng
hợp chất diệt cỏ 2,4,5-T

loại thuốc diệt cỏ khác, có vai trò như một chất tăng cường tác dụng. Nó đang
được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới.

3. Ảnh hƣởng của 2,4,5-T, 2,4-D đến môi trƣờng và con ngƣời
3.1 Ảnh hƣởng của 2,4,5-T và 2,4-D tới môi trƣờng
Quân đội Mỹ đã rải chất diệt cỏ chứa 2,4,5-T, 2,4-D và tạp chất dioxin lên
khoảng 27% tổng diện tích Việt Nam. Khoảng hơn 2 triệu ha rừng đã bị tác
động của chất diệt cỏ [17]. Tác dụng tức thời của chất diệt cỏ là làm cho các
loài cây rừng bị trụi hết lá, rất nhiều loài cây bị chết, môi trường và sinh cảnh
bị thay đổi nhanh chóng [17]. Tại các vùng rừng bị rải lặp đi lặp lại nhiều lần,
hệ sinh thái rừng bị phá hủy hoàn toàn và cho đến nay tại những nơi này chưa
có cây mọc tự nhiên như khu rừng Mã Đà (Đồng Nai), thung lũng A Lưới
(Thừa Thiên Huế) v.v.[17]
Chất diệt cỏ sau khi được phun xuống có thể tích tụ không những trong đất
mà còn phân tán trong lớp nước mặt, nước ngầm, không khí, tích tụ trong
thực vật, gây nhiều sự cố và hiểm họa cho môi trường và từ đó tác động dây
chuyền đến con người, động thực vật và các vi sinh vật. Hậu quả là làm suy
thoái hệ sinh thái tự nhiên. Các chất này giết chết các động vật, thực vật, vi
sinh vật và nhiều loại sinh vật khác làm cho chúng không thể phục hồi lại
được, làm thay đổi hoàn toàn cấu trúc quần xã và chủng loại động vật, thực
vật [4], [22].
Chất độc hóa học ngấm vào trong đất, tích tụ lại trong cơ thể thực vật nên
ít bị phân hủy bởi một số yếu tố như ánh sáng mặt trời, tia cực tím, nhiệt độ.
Luận văn thạc sỹ sinh học Phạm Ngọc Long
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Các chất này tồn tại dưới dạng hỗn hợp và các yếu tố môi trường nhiều khi
chưa thuận lợi cho các quá trình phân hủy sinh học tự nhiên. Chiến tranh kết
thúc đã hơn 30 năm, lượng chất độc hóa học còn lại trong đất rất lớn, đặc biệt
là 2,4,5-T, 2,4-D, dioxin tại các điểm nóng. Tại các căn cứ quân sự cũ của Mỹ

3
ở nhiệt độ 20
o
C trong 3 ngày. Tuy nhiên
phương pháp này chỉ áp dụng cho những lớp đất mỏng bề mặt dầy dưới vài
milimet [14], [41].
Phương pháp thiêu đốt cũng được nhiều nước lựa chọn để xử lý dioxin.
Nguyên lý của phương pháp là dùng nhiệt độ cao để phân hủy dioxin đạt hiệu
quả đến 99,99%, nhưng phương pháp này có nhược điểm là giá thành xử lý
cao, đó là chưa kể đến kinh phí đào, vận chuyển đất đến lò đốt và có thể tạo ra
các sản phẩm phụ gây ô nhiễm thứ cấp [18].
Phương pháp declo hóa và oxy hóa cũng được nghiên cứu áp dụng với các
chất chứa clo và cả 2,3,7,8-TCDD. Phương pháp này cũng cho kết quả khá
tốt, thường tạo ra những hợp chất ít clo và ít độc hơn [19], [24],[14]. Nhược
điểm của phương pháp hóa học là không kiểm soát được sản phẩm tạo thành,
các sản phẩm này thường gây ô nhiễm thứ cấp.
Các phương pháp xử lý cơ học, vật lý, hóa học nói chung đều có nhược
điểm là tốn kém và không triệt để, dễ gây ô nhiễm thứ cấp cho môi trường.
Phương pháp xử lý ô nhiễm bằng công nghệ sinh học đang được đặc biệt chú
ý do tính an toàn và kinh tế của nó. Phương pháp này đang được nhiều phòng
thí nghiệm trên thế giới nghiên cứu, phát triển.

4.2 Phƣơng pháp phân hủy sinh học
Phương pháp xử lý bằng công nghệ sinh học tuy mới mẻ nhưng đã được
đặc biệt chú ý bởi giá thành hạ và thân thiện với môi trường. Phương pháp
Luận văn thạc sỹ sinh học Phạm Ngọc Long
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
phân hủy sinh học không đòi hỏi các điều kiện phức tạp như nhiệt độ cao, áp
suất, quá trình xúc tác v.v. Phương pháp này tuân theo qui luật chuyển hóa

đã được nghiên cứu và áp dụng thành công trên quy mô pilot hiện trường.
Chôn lấp tích cực là sự kết hợp của phân hủy sinh học, cô lập, hấp phụ và
chôn lấp. Đặng Thị Cẩm Hà và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm
phân hủy sinh học đối với các lô xử lý 0,5m
3
; 1,5m
3
; 10m
3
và 100m
3
đất
nhiễm chất diệt cỏ chứa dioxin tại Đà Nẵng [2], năm 2009 nhóm nghiên cứu
đã xử lý hơn 3000 m
2
đất nhiêm chất độc hóa học tại sân bay Biên Hòa bằng
công nghệ phân hủy sinh học. Các công thức xử lý phân hủy sinh học được bổ
sung các dạng chế phẩm khác nhau cung cấp chất dinh dưỡng, các chất cần
thiết cho quá trình oxy hóa, khử loại bỏ clo các chất vi lượng và các chất thêm
cho tập đoàn vi sinh vật tham gia vào quá trình tẩy độc ở điều kiện kị khí và
hiếu khí. Số lượng các nhóm vi sinh vật trước, trong suốt quá trình xử lý đã
được theo dõi. Các chủng nấm, vi khuẩn hiếu khí, kị khí, xạ khuẩn đã được sử
dụng để nghiên cứu khả năng phân hủy 2,3,7,8-TCDD. Phương pháp nghiên
cứu vi sinh vật truyền thống và kỹ thuật sinh học phân tử điểm chỉ như DGGE
và các kỹ thuật sinh học phân tử khác đã được tiến hành để nghiên cứu tập
đoàn vi sinh vật đồng thời phân lập các chủng vi sinh vật, định tên loài vi sinh
vật sử dụng dioxin, dibenzofuran, hydrocabon thơm đa nhân phân lập từ
nguồn ô nhiễm kể trên. Độ tồn lưu của dioxin và các ô nhiễm khác được xác
định bằng phương pháp miễn dịch và sắc ký khối phổ. Phương pháp miễn
dịch phân tích dioxin của EPA Hoa Kỳ được tiến hành theo EnviroGrard

nhiều nhưng cũng đã, phân lập được một số chủng thuộc chi Streptomyces
như các chủng Streptomyces sp. XKDN11, Streptomyces sp. XKDN12 [1],
[2], [5], [8], [10], [11]. Việc định tên và xác định khả năng phân hủy chất ô
nhiễm của các chủng vi sinh vật này góp phần làm sáng tỏ cơ chế và hiệu quả
của sự phân hủy sinh học diễn ra trong quá trình xử lý bằng công nghệ phân
hủy sinh học đã được triển khai để xử lý khử độc ở qui mô 3.000 m
3
tại “điểm
nóng” Biên Hòa, Đồng Nai.
Kết quả phân tích vi sinh vật và hóa học cho thấy các chế phẩm sử dụng tại
hiện trường đã thành công trong việc kích thích quá trình phân hủy sinh học
tại chỗ. Tất cả các chế phẩm, các hợp chất trên đều có thể tìm được và sản
xuất tại Việt Nam vì vậy chủ động và giảm giá thành xử lý đất nhiễm dioxin
trong các căn cứ quân sự cũ. Hơn nữa, phương pháp chôn lấp tích cực có tính
Luận văn thạc sỹ sinh học Phạm Ngọc Long
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
an toàn cao và khả thi đối với khối lượng bị ô nhiễm chất diệt cỏ/dioxin đến
vài ha và ở độ sâu trung bình từ một đến hai mét.
Để đẩy nhanh tốc độ phân hủy sinh học chất diệt cỏ/dioxin, các nghiên cứu
xử lý khử độc trong các bioreactor đã được nhóm nghiên cứu công nghệ xử lý
POP, Viện Công nghệ sinh học tiến hành. Đây là phương pháp xử lý kiểu tăng
cường sinh học (bioaugmentation) trong hệ thống có khả năng điều khiển các
thông số quan trọng liên quan đến quá trình chuyển hóa sinh học như nồng độ
oxy, độ ẩm, độ pH, nhiệt độ, nồng độ các chất bổ sung và thành phần các
nhóm vi sinh vật liên quan đến từng giai đoạn chuyển hóa sinh học chất ô
nhiễm. Đây là kiểu xử lý ex situ và tốc độ chuyển hóa được cải thiện so với
biện pháp xử lý chôn lấp tích cực do các điều kiện đều được kiểm soát. Đất
nhiễm chất diệt cỏ/dioxin tại sân bay Đà Nẵng đã được xử lý trong các
bioreactor với quy mô 50 kg [3]. Các chủng vi sinh vật có hoạt tính phân hủy

về phân hủy sinh học hợp chất này. Tuy nhiên cũng đã có một số nghiên cứu
trên thế giới và Việt Nam công bố về vi khuẩn có khả năng phân hủy 2,4,5-T
như Burkholderia cepacia AC1100, Phanerochaete chrysosporium, Pleurotus
cornucopiae, Stenotrophomonas maltophilia PM, .v.v. Một vài chủng nấm
Aspergillus terreus FDN41, Penicillium, Phanerochaete, Pleurotus.v.v.
[12],[21],[36]
Chủng Pseudomonas pseudoalcaligenes NRRL B-18087 và Pseudomonas
pseudoalcaligenes NRRL B-18086 do Roy phân lập được có khả năng phát
triển trên cả hai cơ chất 2,4,5-T, 2,4-D. Hai chủng này đều có khả năng sử
dụng 2,4-D và 2,4,5-T là nguồn năng lượng và carbon duy nhất cho chúng
[23]. Theo Haugland và cộng sự, chủng Pseudomonas cepacia AC1100 có
khả năng phân hủy rất mạnh 2,4,5-T, chủng này phân hủy được 960μg/ml
trong 24h ở 29
o
C [26]. Một chủng mới có nguồn gốc từ chủng Pseudomonas
cepacia AC1100 được nhận thêm plasmid pJP4 quy định khả năng phân hủy
2,4-D từ chủng Alcalugenes eutrophus JMP134, chủng này được đặt tên là
RHJ1. Chủng này có khả năng phân hủy 1000 μg/ml 2,4-D và 2,4,5-T μg/ml
trong 24h ở 29
o
C trên môi trường có chứa hai cơ chất này. Trong khi đó khả
năng phân hủy 2,4,5-T và 2,4-D của chủng Pseudomonas cepacia AC1100
Luận văn thạc sỹ sinh học Phạm Ngọc Long
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
giảm hẳn khi nuôi trên môi chứa cùng một lúc hai cơ chất, chủng này phân
hủy được 26 μg/ml 2,4,5-T và 24 μg/ml 2,4-D cung trong 24h [26]. Ở chủng
RHJ1 2,4,5-T được chuyển hóa thông qua con đường chlorohydroquinon, còn
2,4-D được phân hủy thông qua con đường chloroatechol [26].
Vi khuẩn sử dụng 2,4,5-T như nguồn cacbon và năng lượng duy nhất được

[45]. Nghiên cứu khác của Mai và cộng sự cho thấy quá trình đồng trao đổi
chất của vi khuẩn Stenotrophomonas maltophilia PM. Vi khuẩn này cần
mecoprop để đồng trao đổi chất 2,4,5-T [36].
La Thị Thanh Phương và cộng sự đã công bố nghiên cứu phân lập chủng
Pseudomonas sp. BDN15, chủng này có khả năng phát triển trên môi trường
có bổ sung 2,4,5-T. Sau 90 ngày ở điều kiên nuôi tĩnh và nhiệt độ phòng
chủng BDN15 đã phân hủy 39,37% với nồng độ ban đầu là 1000ppm 2,4,5-T
đây cũng là nguồn năng lượng và carbon duy nhất trong môi trường nuôi cấy
[6]. Nguyễn Thanh Thủy và cộng sự đã công bố chủng nấm sợi FDN41 có
khả năng phân hủy 43,46% 2,4,5-T trong 20 ngày với hàm lượng 2,4,5-T ban
đầu 905,34 μg/ml. Ngoài ra chủng này còn có khả năng sử dụng một số PAH
như anthrancen, phenanthren .v.v. là nguồn năng lượng và carbon duy nhất [12].
Khác với số lượng ít của các vi khuẩn phân hủy 2,4,5-T, rất nhiều vi khuẩn
phân hủy 2,4-D đã được phân lập từ nhiều vị trí ô nhiễm khác nhau như đất
nông nghiệp, trầm tích, khu vực xử lý rác thải và đất nguyên thủy. Các vi
khuẩn phân hủy 2,4-D được xếp thành 3 nhóm dựa vào enzyme phân hủy và
các đặc tính lý hóa của chúng. Nhóm thứ nhất nằm trong lớp β và γ-
Proteobacteria như Achromobacter, Burkholderia, Delftia, Halomonas,
Pseudomonas. Những vi khuẩn này có chứa gen tfd thường nằm ở các
plasmid và có thể chuyển được từ cơ thể vi sinh vật nọ sang cơ thể vi sinh vật
kia. Nhóm thứ hai gồm những vi khuẩn nằm trong lớp α- Proteobacteria
thuộc chi Sphingomonas. Chúng được phân lập từ môi trường có chứa clo.
Nhóm thứ ba thuộc chi Bradyrhizobium trong lớp α- Proteobacteria. Các vi
Luận văn thạc sỹ sinh học Phạm Ngọc Long
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
khuẩn này được phân lập từ đất nguyên thủy ở Canada, Hawaii, Chile và một
số khu vực khác [28],[ 44].
Trong số các vi khuẩn tham gia phân hủy 2,4-D, chủng Alcaligenes
eutrophus JMP134 là chủng được nghiên cứu khá kỹ về con đường chuyển hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status