TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN PHƯỚC VINH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG
CÁM SẤY VÀ CÁM LI TRÍCH DẦU
CỦA CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
DƯƠNG THÚY YÊN
TRẦN LÊ CẨM TÚ 2006
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sử dụng cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi (Oreochromis niloticus)
iii
MỤC LỤC
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách bảng v
Danh sách hình vi
Chương 1: Giới thiệu 1
Chương 2: Tổng quan tài liệu 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá rô phi (Oreochromis niloticus) 3
2.1.1 Đặc điểm phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm hình thái 3
5.1 Kết luận 26
5.2 Đề xuất 26
Tài liệu tham khảo 27
Phụ lục 31 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sử dụng cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi (Oreochromis niloticus)
v
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm 1 10
Bảng 3.2: Thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm 2 12
Bảng 4.1: Độ tiêu hóa của cá rô phi 15
Bảng 4.2: Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 2 17
Hình 3.1: Hệ thống bể thí nghiệm 1 9
Hình 3.2: Hệ thống bể thí nghiệm 2 11
Hình 4.1: Sinh trưởng của cá rô phi qua 60 ngày thí nghiệm 19
Hình 4.2: Thành phần hóa học (đạm, chất béo) cơ thể cá rô phi 23
Hình 4.3: Cá rô phi ở nghiệm thức cám sấy 60% 25
Hình 4.4: Cá rô phi ở nghiệm thức cám li trích 60% 25 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sử dụng cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi (Oreochromis niloticus)
ii
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng sử dụng 2 loại nguyên liệu phổ biến
được sử dụng trong chế biến thức ăn là cám sấy và cám li trích dầu của cá rô
phi vằn (Oreochromis niloticus) dòng GIFT thông qua việc xác định độ tiêu
hóa và mức cám thích hợp trong thức ăn của cá rô phi.
Trong thí nghiệm xác định độ tiêu hóa, 3 nghiệm thức thức ăn được trộn chất
đánh dấu cromic oxide (Cr
2
O
3
) với tỉ lệ 1% trong nghiệm thức đối chứng
(không chứa cám), 2 nghiệm thức còn lại chứa 30% cám và 70% thức ăn đối
1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
Việt Nam nói chung và Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng là vùng đất có
tiềm năng phong phú thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản. Nhờ sự ưu
đãi của điều kiện tự nhiên, các mô hình nuôi thủy sản của người dân đã được
đa dạng hóa và kỹ thuật nuôi ngày càng được nâng cao đã đem lại hiệu quả
kinh tế thiết thực, góp phần cải thiện đời sống của người dân.
Cùng với sự phát triển của nghề nuôi cá, đặc biệt là các loài cá được chú ý
như: Rô phi, chép, cá tra, basa, rô đồng đòi hỏi phải có những nghiên cứu về
nhu cầu dinh dưỡng của cá để từ đó phối chế thức ăn thích hợp cho chúng.
Nhìn chung trong nuôi thủy sản chi phí thức ăn thường chiếm tỉ lệ cao, khoảng
60-80% tổng chi phí sản xuất. Vì vậy việc chế biến thức ăn sao cho vừa có đủ
thành phần dinh dưỡng đồng thời giảm được chi phí thức ăn là điều mong
muốn của người dân.
Với nguồn thực vật phong phú và đa dạng, nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử
dụng nguyên liệu có nguồn gốc thực vật thay thế nguồn nguyên liệu động vật
ở mức độ nhất định trong chế biến thức ăn nuôi cá góp phần giảm được chi phí
thức ăn mà vẫn đảm bảo sự tăng trưởng tốt của cá.
Một trong những nguyên liệu có nguồn gốc thực vật được sử dụng có hiệu quả
trong chế biến thức ăn nuôi cá đó là cám gạo, đây là nguồn phụ phẩm chính từ
lúa gạo được sử dụng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm. Ngoài ra, cám còn là
nguyên liệu làm thức ăn cho tôm cá. Trên thị trường có rất nhiều loại cám như:
cám y, cám lau, cám bass 1 và bass 2, cám pha (Trần Văn Nhì, 2005). Các loại
cám này thường chứa nhiều chất béo và độ ẩm cao, chúng rất dễ bị oxy hóa
nên không trữ được lâu. Nhằm khắc phục nhược điểm trên, các nhà sản xuất
đã cung cấp cho thị trường 2 loại cám đó là cám sấy và cám li trích dầu. Hiện
nay 2 loại cám này đang được sử dụng phổ biến như là nguồn nguyên liệu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sử dụng cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi (Oreochromis niloticus)
3
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá rô phi (Oreochromis noliticus)
2.1.1 Đặc điểm phân loại
rô phi dòng GIFT (Genetically Improved Farmed Tilapia) sinh trưởng nhanh,
ngoại hình đẹp, chất lượng thịt thơm ngon và kích cỡ thương phẩm lớn đạt yêu
cầu cho chế biến xuất khẩu. Theo Eknath (1994), cá rô phi dòng GIFT có tốc
độ sinh trưởng nhanh, cá đạt kích cỡ thu hoạch (80 g) trong vòng 3 tháng nên
có thể nuôi được 3 vụ/năm. Vì vậy, với đặc điểm trên cá rô phi dòng GIFT đã
trở thành đối tượng nuôi phổ biến trong các mô hình nuôi thủy sản.
2.1.4 Đặc điểm và nhu cầu dinh dưỡng
Cá rô phi là loài ăn tạp thiên về mùn bã hữu cơ và thực vật thủy sinh. Trong
những ao nuôi cá rô phi có bón phân vô cơ sẽ cung cấp nguồn dinh dưỡng cho
sự phát triển của thực vật phù du, đây là nguồn thức ăn tự nhiên tốt cho cá và
giúp gia tăng lợi nhuận từ việc nuôi cá (Boyd, 1982). Ngoài ra, cá rô phi còn
được xem là cá ăn lọc do chúng có khả năng lọc tảo và sử dụng thức ăn có sẵn
trong môi trường nuôi.
Trong nuôi công nghiệp cá rô phi cũng có thể ăn các loại thức ăn chế biến với
hàm lượng đạm khác nhau. Nhu cầu đạm thích hợp trong thức ăn cho cá rô phi
có trọng lượng trung bình 24 g dao động trong khoảng 27,5-35% (Wee và
Tuan, 1988). Theo El-Sayed và Teshima (1992), nhu cầu đạm và năng lượng
cho sự sinh trưởng tối đa của cá rô phi (trọng lượng trung bình 0,26 g) là 45%
đạm và 400 kcal/100 g thức ăn.
Với đặc điểm tính ăn như trên, cá rô phi thường được nuôi ghép với nhiều loài
thủy sản khác đem lại hiệu quả cao. Theo Nguyen Thanh Long (2003), nuôi
ghép cá rô phi với cá trê lai (Clarias macrocephalus × Clarias gariepinus) trong
bể (5 m
2
bề mặt
×
0.9 m chiều cao) cho kết quả sinh trưởng tốt đối với cả hai
loài cá, tác giả cho biết nguyên tắc của việc nuôi ghép là giảm sự ô nhiễm
nguồn nước và sử dụng chất thải từ cá trê làm nguồn phân bón giúp phát triển
Khuê (1998) sử dụng thức ăn có chứa 25% và 40% bột lá mì cho sức tăng
trọng cao của cá rô phi.
Cùng nghiên cứu trên cá rô phi, Vũ Vi An (1999) thay thế 15% và 25% bột cá
bằng bèo tấm trong công thức thức ăn, kết quả là với thức ăn chứa 15% bèo
tấm cá rô phi tăng trưởng tốt và có hệ số thức ăn thấp hơn. Shiau và ctv (1990)
báo cáo cá rô phi vẫn tăng trưởng tốt khi thay thế 30% bột cá bằng bột đậu
nành li trích dầu và không li trích dầu trong công thức thức ăn (24% đạm).
Klinnavee và ctv (1990) sử dụng 20% lục bình trong thức ăn cho cá rô phi,
kết quả tốc độ tăng trưởng (SGR: 1,74%/ngày) và hệ số thức ăn (FCR: 2,1)
của cá tốt hơn so với thức ăn không có lục bình có cùng hàm lượng đạm
(SGR: 1,58%/ngày và FCR: 2,6). Trong một nghiên cứu khác trên cá rô phi,
Omorgie và Ogbemudia (1993) sử dụng bột quả cọ với các tỉ lệ khác nhau là
0%, 15%, 20%, 25% và 30% trong thức ăn, tác giả cho biết thức ăn chứa 15%
bột quả cọ cho tăng trưởng của cá rô phi tốt nhất (SGR: 0,74%/ngày) và hệ số
thức ăn thấp nhất (FCR: 0,86), trong khi đó với thức ăn không chứa bột quả cọ
thì SGR và FCR của cá chỉ đạt tương ứng là 0,67%/ngày và 0,97.
2.2.2 Những nghiên cứu về cám
Cám là phụ phẩm được làm ra từ lúa gạo. Cám đã và đang được nghiên cứu sử
dụng làm thức ăn nuôi tôm cá bởi nó có hàm lượng dinh dưỡng cao: Đạm 120-
140 g/kg cám khô, chất béo 110-180 g/kg cám khô (Viện Chăn Nuôi Quốc
Gia, 1995). Cám được tạo ra sau quá trình xay xát lúa là cám gạo tươi. Nguồn
cám gạo tươi này được xử lý và tinh chế tạo ra cám li trích dầu (cám vàng) với
nhiều ưu điểm như: Hàm lượng đạm cao (14-16% đạm thô), hàm lượng dầu
thấp (2-3%) nên bảo quản được lâu hơn (được trích dẫn bởi Hoàng Đức Như,
2005).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sử dụng cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi (Oreochromis niloticus)
6
Bên cạnh việc đưa nguồn thực vật điển hình là cám vào làm nguyên liệu phối
trộn thức ăn cho cá người ta còn quan tâm nhiều đến chất lượng của nguyên
liệu, bởi nguyên liệu có tốt thì thức ăn làm ra mới đảm bảo chất lượng.
Thức ăn có chất lượng là thức ăn có đầy đủ các thành phần dinh dưỡng và
được cá tiêu hóa tốt. Độ tiêu hóa thức ăn là khả năng tiêu hóa và hấp thụ loại
thức ăn đó. Độ tiêu hóa có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá giá trị dinh
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sử dụng cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi (Oreochromis niloticus)
7
dưỡng của thức ăn. Một chất dinh dưỡng nếu không được tiêu hóa sẽ không
được hấp thu vào cơ thể để tiến hành các phản ứng dinh dưỡng. Vì vậy trước
khi xây dựng công thức thức ăn cho tôm cá cần phải xác định độ tiêu hóa của
tôm cá đối với từng loại nguyên liệu làm thức ăn (Trần Thị Thanh Hiền và ctv,
2004).
2.3.2 Những nghiên cứu về độ tiêu hóa
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về giá trị dinh dưỡng và độ tiêu hóa
nguồn nguyên liệu thực vật trên nhiều đối tượng khác nhau. Trong nghiên cứu
xác định độ tiêu hóa của cá rô phi, Koprucu và Ozdemir (2005) sử dụng chất
đánh dấu Cr
2
O
3
với tỉ lệ 1% ở nghiệm thức đối chứng, nghiệm thức xác định
độ tiêu hóa được phối trộn 30% nguyên liệu và 70% thức ăn đối chứng, cá rô
phi (15 g) được cho ăn 2 lần/ngày với lượng thức ăn là 4% khối lượng thân ở
27±1
o
C. Trong nghiên cứu của Xie và ctv (1997), cá rô phi (8,29-11,02 g)
lạnh ở -35
o
C và sấy khô để phân tích. Nhìn chung, phương pháp thu phân và
thời gian thu tùy thuộc vào từng đối tượng thí nghiệm.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sử dụng cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi (Oreochromis niloticus)
8
Với phương pháp thu phân thích hợp, Hertrampf và Piedad-Pascual (2000)
báo cáo độ tiêu hóa cám gạo của cá lăng (Mystus nemurus) là 85,5%, độ tiêu
hóa bột đậu phộng của cá chép là 62,4%, độ tiêu hóa đạm và năng lượng trong
bột đậu phộng của cá chép lần lượt là 78,9% và 69,9%. Thí nghiệm trên cá mè
vinh, Mohanta và ctv (2006) kết luận độ tiêu hóa cám và năng lượng trong
cám của cá mè vinh (Puntius gonionotus) lần lượt là 96,4% và 89,97%.
Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về độ tiêu hóa của các nguyên liệu làm
thức ăn nói chung và của cám nói riêng. Do đó, nghiên cứu về vấn đề này là
rất cần thiết trong các nghiên cứu về dinh dưỡng của các đối tượng thủy sản,
làm cơ sở để đánh giá giá trị dinh dưỡng của nguyên liệu và khả năng sử dụng
chúng làm thức ăn cho cá.
3.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Thí nghiệm 1: Xác định độ tiêu hóa cám sấy và cám li trích dầu của
cá rô phi
v Hệ thống bể và cách bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm có 3 nghiệm thức (thức ăn) với 3 lần lặp lại được bố trí theo
kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên trong hệ thống 9 bể composite (100 L/bể) có sục
khí, các bể có ống thoát nước ở trung tâm, nước được cấp vào bể ở bề mặt
(Hình 3.1). Nguồn nước cung cấp cho hệ thống từ giếng khoang qua hệ thống
lọc, được bơm lên bồn chứa trước khi đến hệ thống thí nghiệm.
Hình 3.1: Hệ thống bể thí nghiệm 1
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sử dụng cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi (Oreochromis niloticus)
10
v Cá thí nghiệm
Cá thí nghiệm được chọn đều cỡ, khối lượng trung bình 35 g/con và không có
dấu hiệu bị bệnh hay dị tật. Cá được bố trí với mật độ 10 con/bể.
v Thức ăn thí nghiệm
Ba nghiệm thức thức ăn được làm từ các nguyên liệu: bột cá, bột đậu nành, bột
mì, cám, vitamin, dầu mực, chất kết dính gelatin và chất đánh dấu cromic
oxide (Cr
2
O
3
). Trong đó, nghiệm thức đối chứng phối trộn Cr
2
O
3
với tỉ lệ 1%
14,0
14,0
Bột mì 43,5
30,5
30,5
Cám sấy - 30,0
-
Cám li trích dầu - - 30,0
Vitamin (*) 1,00
0,70
0,70
Dầu mực 6,50
4,55
4,55
Gelatin 2,00
1,40
++
: 20.000 mg, Zn
++
: 11.000 mg, Mn
++
:
2.000 mg, Cu
++
: 10.000 mg, I
-
: 4 mg, Co
++
: 120 mg, Inositol: 1.500 mg, Methionin: 3.000 mg,
Sulfathiazole: 2.000 mg, Lysine: 2.500 mg.
v Chăm sóc cho ăn
Trước khi tiến hành thu phân, cá được cho ăn 2 lần/ngày trong 4 ngày để cá
quen dần với thức ăn thí nghiệm. Ngày thứ 5 bắt đầu thu phân chỉ cho cá ăn 1
lần/ngày vào lúc 8
h
. Cá được cho ăn thỏa mãn nhu cầu.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sử dụng cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi (Oreochromis niloticus)
11
v Thu mẫu
- Mẫu môi trường: Yếu tố nhiệt độ được theo dõi mỗi ngày 2 lần vào buổi
sáng và chiều.
- Mẫu phân: Sau khi cho cá ăn được 1 giờ, xi phông loại bỏ hết lượng phân và
thức ăn dư thừa, cấp nước mới vào bể đến 1 giờ sau tiến hành thu phân lần 1.
(25%) và tổng năng lượng giống nhau (4 kcal/g). Nguyên liệu chế biến thức ăn
gồm: bột cá, bột đậu nành, bột mì, cám, dầu đậu nành, chất độn CMC
(carboxyl metyl cellulose), vitamin và chất kết dính gelatin. Các nghiệm thức
thức ăn khác nhau về loại cám và hàm lượng cám. Mỗi loại cám sấy và cám li
trích dầu gồm có 4 nghiệm thức có tỉ lệ cám lần lượt là 30%, 40%, 50% và
60% (Bảng 3.2).
Bảng 3.2: Thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm 2
Cám sấy Cám li trích dầu
Nguyên liệu (%)
CS30
CS40
CS50
CS60
LT30
LT40
LT50
LT60
Bột cá 23,6
23,4
23,4
9,89
0,00
30,9
23,5
16,1
8,74
Cám
30,0
40,0
50,0
60,0
30,0
40,0
50,0
60,0
0,00
Vitamin (*) 2,00
2,00
2,00
2,00
2,00
2,00
2,00
2,00
Gelatin 2,00
2,00
2,00
2,00
2,00
2,00
6,00
6,00
6,00
NFE (**) 48,1
46,4
44,2
42,3
48,1
48,1
48,1
48,1
Tro 12,9
13,5
14,1
14,7
4,00
4,00
4,00
4,00
4,00
4,00
(*) Vitamin (Vit.): là hỗn hợp VEMEVIT do VEMEDIM sản xuất, trong 1 kg có chứa Vit. A: 400.000
IU, Vit. D3: 80.000 IU, Vit. E: 1.200 mg, Vit. K3: 240 mg, Vit. B1: 160 mg, Vit. B2: 300 mg, Vit. B6:
100 mg, Niacin 1.000 mg, Vit. B12: 0,4 mg, Calcium Pan: 400mg, Folic acid: 32 mg, Vit. C
polyphosphate 6.000 mg, Cholin Chloride: 4.800 mg, Fe
++
: 20.000 mg, Zn
++
: 11.000 mg, Mn
++
:
2.000 mg, Cu
++
: 10.000 mg, I
-
: 4 mg, Co
++
: 120 mg, Inositol: 1.500 mg, Methionin: 3.000 mg,
Đối với mẫu thức ăn thí nghiệm độ tiêu hóa thì phân tích đạm, Cr
2
O
3
và năng
lượng.
- Mẫu phân: Đạm, Cr
2
O
3
, năng lượng
- Mẫu cá: Ẩm độ, đạm, chất béo, tro
v Phương pháp phân tích
- Ẩm độ: Xác định bằng cách sấy mẫu trong tủ sấy ở nhiệt độ 105
o
C khoảng 4-
5 giờ
- Tro: Xác định bằng cách đốt cháy mẫu và nung trong tủ nung ở nhiệt độ
560
o
C khoảng 4 giờ (đến khi mẫu có màu trắng)
- Xơ: Phương pháp thủy phân trong dung dịch acid và bazơ
- Đạm: Phương pháp phân tích Kjeldahl
- Chất béo: Phương pháp Soxhlet
- Chất bột đường: NFE = 100 – (Đạm + Chất béo + Tro + Xơ)
- Năng lượng: Xác định bằng máy đo năng lượng (Parr)
- Cr
2
O
3
T
Với W
i
: Khối lượng cá ban đầu (g)
W
f
: Khối lượng cá kết thúc thí nghiệm (g)
T: Thời gian thí nghiệm (ngày)
• Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (Specific Growth Rate)
lnW
f
– lnW
i
SGR (%/ngày) = × 100
T
• Hệ số thức ăn (Feed Conversion Ratio)
Thức ăn sử dụng
FCR =
Khối lượng cá gia tăng
v Xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel và Statistica (thống kê ANOVA một nhân tố và
phép thử Duncan).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sử dụng cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi (Oreochromis niloticus)
15
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thí nghiệm 1: Xác định độ tiêu hóa cám sấy và cám li trích dầu của cá
61,1±2,3
b
Đạm 77,1±7,5
a
75,4±4,1
a
Năng lượng 57,7
65,6
Các giá trị trong cùng một hàng mang cùng chữ cái thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).
Giá trị thể hiện là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn.
Kết quả trên cho thấy, cùng phối chế với tỉ lệ như nhau trong công thức thức
ăn nhưng cám li trích dầu cho kết quả về độ tiêu hóa của cá rô phi cao hơn so
với cám sấy. Về mặt nguyên liệu nói chung, độ tiêu hóa cám li trích dầu của cá
rô phi (61,1%) cao hơn so với cám sấy (48,1%) và sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê (P<0,05). Tương tự, về mặt năng lượng, độ tiêu hóa năng lượng trong
cám li trích dầu của cá rô phi cũng cao hơn cám sấy. Tuy nhiên, khả năng tiêu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sử dụng cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi (Oreochromis niloticus)
16
hóa đạm trong 2 loại cám của cá rô phi cao nhưng khác biệt không có ý nghĩa
thống kê (P>0,05). Như vậy, khả năng sử dụng cám li trích dầu của cá rô phi
tốt hơn so với cám sấy, điều này có thể do hàm lượng chất béo trong cám li
trích dầu thấp.
So sánh độ tiêu hóa cám của cá rô phi với một số nguyên liệu khác cho thấy,
độ tiêu hóa cám của cá thấp hơn so với độ tiêu hóa bột bắp và bột đậu nành
trong nghiên cứu của Koprucu và Ozdemir (2005). Theo các tác giả, cá rô phi
có khối lượng trung bình 15 g được cho ăn 2 lần/ngày với lượng thức ăn là 4%
Nghiên cứu khả năng sử dụng cám sấy và cám li trích dầu của cá rô phi (Oreochromis niloticus)
17
4.2 Thí nghiệm 2: Xác định hàm lượng cám sấy và cám li trích dầu thích
hợp trong thức ăn cho cá rô phi
4.2.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm
Trong các nghiên cứu khoa học nói chung và các thí nghiệm dinh dưỡng động
vật thủy sản nói riêng thì mục đích của việc quản lý chất lượng nước là cung
cấp những điều kiện lý hóa thích hợp cho sự sống sót và phát triển của đối
tượng nuôi. Các yếu tố thủy lý hóa như: Nhiệt độ, pH, oxy hòa tan đóng vai
trò quan trọng bởi nhiệt độ, pH ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sinh trưởng và
dinh dưỡng của cá, oxy hòa tan rất cần thiết vì nếu lượng oxy hòa tan trong
nước thấp (nhỏ hơn 3 mg/L) cá sẽ hoạt động yếu, lượng thức ăn do chúng sử
dụng cũng giảm (Nguyễn Văn Bé, 1987).
Bảng 4.2: Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 2
Yếu tố môi trường Giá trịNhiệt độ (
o
C) 23,5-29,5Oxy hòa tan (mg/L) 5,50-6,80pH 5,92-8,15Theo Trương Quốc Phú (2000), môi trường thích hợp cho sự phát triển của cá
Chất béo
NFE
Tro
Xơ
Cám sấy 30% 23,4
6,25
47,1
15,2
8,04
Cám sấy 40% 22,9
6,26
44,5
17,9
8,39
Cám sấy 50% 24,2
7,18
47,7
12,6
7,08
Cám li trích 50% 25,7
6,34
49,4
12,0
6,46
Cám li trích 60% 25,1
7,50
48,3
13,3
5,84
4.2.3 Ảnh hưởng của thức ăn lên tỉ lệ sống, sinh trưởng, hiệu quả sử dụng