Tài liệu Giới thiệu về Sự Phân tích Chi phí - Lợi ích (Cost-Benefit Analysis) doc - Pdf 83

CBA / Phân Tích
Trường Đại học bang San José
Khoa Kinh tế học.
Giới thiệu về Sự Phân tích Chi phí - Lợi ích
Cost-Benefit Analysis
Thayer Watkins
Phiên dịch: Lê Nga
Phân tích Chi phí - Lợi ích (CBA) ước lượng và tính tổng giá trị bằng tiền tương đương đối
với những lợi ích và chi phí của cộng đồng từ các dự án nhằm xác định xem chúng có
đáng để đầu tư hay không. Các dự án này có thể là xây dựng đập ngăn nước hay đường
cao tốc, hay có thể là các chương trình đào tạo và các hệ thống chăm sóc sức khoẻ. Ý
tưởng về sự đánh giá mang tính chất kinh tế được bắt đầu với Jules Dupuit, một kỹ sư
người Pháp mà 1848 bài báo của ông vẫn còn có giá trị đọc. Nhà kinh tế người Anh,
Alfred Marshall, đã có một số khái niệm chính thức đặt nền tảng cho CBA. Nhưng quá
trình phát triển thực tế của CBA là kết quả từ lực đẩy của Luật Hàng Hải Liên Bang
(Federal Navigation Act) năm 1936. Luật này đòi hỏi Đoàn Kỹ sư của Mỹ (U.S. Corps of
Engineers) phải tiến hành các dự án nâng cấp hệ thống đường thuỷ khi tổng lợi ích của
một dự án vượt quá chi phí của dự án đó. Vì vậy, Đoàn Kỹ sư đã xây dựng những phương
pháp có tính chất hệ thống nhằm đánh giá những lợi ích và chi phí đó. Các kỹ sư này đã
tiến hành công việc với sự hỗ trợ của nhóm các nhà chuyên môn trong lĩnh vực kinh tế
học. Cho đến tận 20 năm sau đó, vào những năm 1950, các nhà kinh tế đã cố gắng xây
dựng một tập hợp những phương pháp chặt chẽ, nghiêm ngặt để tính toán lợi ích, chi phí
và quyết định xem liệu một dự án có đáng để thực hiện hay không. Còn một số vấn đề
về kỹ thuật của CBA vẫn chưa được giải quyết hoàn toàn thậm chí cả vào thời điểm hiện
nay, song những điều căn bản dưới đây đã được xây dựng khá chắc chắn.
Những nguyên tắc của sự phân tích chi phí - lợi ích.
Một trong các vấn đề của CBA là việc đánh giá nhiều yếu tố trong cơ cấu lợi ích và chi phí
về bản chất là khá rõ ràng, nhưng cũng có những yếu tố khác không thể đưa ra phương
pháp đánh giá. Vì vậy người ta cần đến một số nguyên tắc cơ bản như là sự chỉ dẫn.
Phải có một đơn vị đo lường chung.
Để tiến đến một kết luận đối với một dự án - ở mọi khía cạnh - cả tích cực và tiêu cực -

xuất được thể hiện qua hành vi thực tế.
Sự đánh giá về lợi ích và chi phí cần phản ánh những ưu tiên được thể hiện thông qua các
lựa chọn. Ví dụ, những bước cải thiện trong lĩnh vực vận tải thường liên quan đến việc
tiết kiệm thời gian. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để xác định giá trị bằng tiền của khoảng
thời gian tiết kiệm được. Giá trị này không chỉ đơn thuần là giá trị thời gian mà nữhng
người lập kế hoạch về việc vận tải cân nhắc hay thậm chí là giá trị thời gian theo đánh
giá của công chúng. Giá trị thời gian nên được đánh giá theo sự bày tỏ của công chúng
thông qua những lựa chọn liên quan đến sự tương xứng giữa thời gian và tiền bạc. Nếu
mọi người chọn cách đỗ xe gần nơi đến của họ với mức phí 50 cent hay đỗ xe ở xa hơn
và phải mất hơn 5 phút để đi bộ, họ luôn lựa chọn chi tiền và tiết kiệm thời gian, công
sức, vì vậy họ đã thể hiện rằng thời gian của họ có giá trị hơn 10 cent 1 phút. Nếu không
có sự bất đồng giữa hai lựa chọn, họ sẽ cho thấy rằng giá trị thời gian của họ chính xác là
10 cent mỗi phút. Phần đặt ra thách thức lớn nhất trong CBA là tìm những lựa chọn trong
quá khứ thể hiện sự tương xứng và tương đương trong những vấn đề ưu tiên. Ví dụ, việc
đánh giá lợi ích của bầu không khí trong sạch hơn có thể được xây dựng thông qua việc
tìm xem người ta trả ít hơn bao nhiêu cho nhà ở tại các khu vực ô nhiễm hơn, đồng thời
tương tự về đặc điểm và vị trí nhà ở tại các khu vực ít bị ô nhiễm hơn. Nhìn chung, giá trị
của môi trường không khí trong lành hơn đối với con người khi được thể hiện qua những
lựa chọn nghiêm khắc của thị trường có vẻ thấp hơn mức đánh giá khoa trương về một
môi trường không khí trong sạch.
Những lợi ích thường được đánh giá bởi sự lựa chọn của thị trường.
Khi người tiêu dùng tiến hành mua ở các mức giá thị trường, họ cho rằng những thứ họ
mua ít nhất cũng đem lại lợi ích đối với họ bằng số tiền khi họ từ bỏ nó. Người tiêu dùng
sẽ tăng mức tiêu thụ hàng hóa tới một điểm mà tại đó 1 đơn vị tăng thêm (lợi ích cận
biên) cân bằng với chi phí cận biên của đơn vị đó, theo giá trị thị trường. Do đó với bất cứ
người tiêu dùng nào mua một lượng hàng hóa nào đó, lợi ích cận biên cân bằng với giá
thị trường. Lợi ích cận biên sẽ làm giảm khối lượng tiêu thụ vì giá thị trường phải giảm để
người tiêu dùng có thể tiêu thụ một khối lượng hàng hóa lớn hơn. Mối quan hệ giữa giá
thị trường và khối lượng tiêu thụ được gọi là biểu cầu (demand schedule). Vì vậy biểu cầu
cung cấp thông tin về lợi ích cận biên cần thiết để đặt một giá trị bằng tiền vào một mức

dụng BART, chi phí phụ trội của một hệ thống xe buýt mở rộng như vậy sẽ được khấu trừ
từ chi phí của BART. Nói cách khác, sự lựa chọn với dự án phải được xem xét và cụ thể
hoá trong việc đánh giá dự án. Cần lưu ý rằng sự so sánh có hoặc không có khác với sự
so sánh trước và sau.
Một ví dụ khác cho thấy tầm quan trọng của việc xem xét các tác động của một dự án và
một sự so sánh có-và-không có. Giả sử một dự án tưới tiêu đề xuất để tăng cường sản
xuất cotton ở Arizona. Nếu Bộ Nông nghiệp Mỹ hạn chế số lượng côtton ở Mỹ bằng một
hệ thống hạn ngạch, khi đó việc sản xuất cotton ở Arizzona có thể được bù đắp thông
qua một sự cắt giảm trong hạn ngạch sản xuất cotton đối với Missisippi. Do đó tác động
của một dự án sản xuất cotton ở Mỹ có thể bằng 0 chứ không ảnh hưởng nhiều đến các
kết quả của dựa án.
Phân tích chi phí-lợi ích bao gồm một lĩnh vực nghiên cứu đặc biệt.
Các tác động của một dự án phải được định nghĩa cho một lĩnh vực nghiên cứu đặc biệt,
đó có thể là một thành phố, một bang, quốc gia hay thế giới. Trong nhiều ví dụ liên quan
đến cotton ở trên, tác động của dự án có thể là con số 0 với quốc gia nhưng vẫn là giá trị
dương với Arizona. Bản chất của lĩnh vực nghiên cứu thường được đặc trưng bởi tổ chức
đại diện cho phân tích này. Rất nhiều ảnh hưởng của một dự án có thể bị "loại bỏ" khỏi
một lĩnh vực nghiên cứu nhưng không vượt khỏi một lĩnh vực nhỏ hơn. Việc cụ thể hoá
lĩnh vực nghiên cứu có thể tuỳ ý nhưng nó có thể tác động đáng kể đến những kết quả
của phân tích này.
Cần phải tránh tính 2 lần lợi ích và chi phí.
Đôi khi tác động của một dự án có thể được đánh giá theo 2 hay nhiều cách. Ví dụ, khi
một đường cao tốc được nâng cấp làm giảm thời gian đi lại và nguy cơ bị thương, giá trị
tài sản ở các khu vực được sự phục vụ của đường cao tốc sẽ tăng lên. Sự tăng thêm về
giá trị do dự án này là một hướng đi tốt, ít nhất về mặt nguyên tắc, để đánh giá những
lợi ích của một dự án. Nhưng nếu giá trị tài sản gia tăng được đưa vào thì không cần thiết
phải đưa vào giá trị thời gian và những cuộc sống được cứu do tu sửa đường cao tốc. Giá
trị tài sản tăng lên do do những lợi ích của việc tiết kiệm thời gian và rủi ro giảm. Để đưa
vào cả mức gia tăng về tài sản, việc tiết kiệm thời gian và giảm rủi ro sẽ bao gồm cả việc
tính 2 lần.

sự phân tích ngắn gọn sử dụng số liệu giả thuyết.
Số liệu về các chuyến đi Không mở rộng, chỉ có "Blood
Alley"
Mở rộng 101 và "Blood
Alley"
Giờ cao điểm
Chuyến đi của hành khách (mỗi
giờ)
3.000 4.000
Thời gian chuyến đi (phút) 50 30
Giá trị thời gian (USD/phút) 0,1 USD 0,1 USD
Giờ không cao điểm
Chuyến đi của hành khách (mỗi 500 555,55
giờ)
Thời gian chuyến đi 35 25
Giá trị thời gian (USD/phút) 0,08 USD 0,08 USD
Tai nạn giao thông (mỗi năm) 12 6
Số liệu chỉ ra rằng đối với việc đi lại vào giờ cao điểm, chi phí thời gian của một chuyến đi
là 5 USD nếu không có dự án và 3 USD nếu có dự án. Giả sử chi phí vận hành đối với 1
phương tiện chuyên chở không bị ảnh hưởng bởi một dự án và = 4 USD.
Dự án làm giảm bớt chi phí của một chuyến đi và công chúng phản ứng bằng cách tăng
số chuyến đi. Có một sự gia tăng về thặng dư của người tiêu dùng cả đối với việc đi lại
không có dự án và việc đi lại trong điều kiện có dự án.
Đối với việc đi lại theo bất cứ cách nào, lợi ích của dự án = giá trị thời gian tiết kiệm được
nhân với số chuyến đi. Đối với việc đi lại vào giờ cao điểm, dự án tiết kiệm được 2 USD
và đối với việc đi lại ngoài giờ cao điểm, nó tiết kiệm được 0,8 USD. Đối với việc đi lại
được tạo ra nhờ dự án, lợi ích bằng ½ giá trị thời gian tiết kiệm được nhân với mức tăng
của số chuyến đi.
Lợi ích mỗi giờ là:
Loại Chuyến đi theo bất cứ cách

hưởng bởi nó là 400 USD 1 năm. Giá trị tiềm ẩn của một sinh mạng trong trường hợp này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status